Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề tài
Quy trình kiểm toán
trong kiểm toán nội bộ ở
Việt Nam
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
t v n Đặ ấ đề 3
Gi i quy t v n ả ế ấ đề 4
I.Gi i thi u v ki m toán n i b ớ ệ ề ể ộ ộ 4
II C s lý lu n chung v quy trình ki m toán trong ki m toán n i b Vi t ơ ở ậ ề ể ể ộ ộ ở ệ
Nam 8
III. Khái quát quy trình ki m toán h ng t n kho t i công ty i n l c I.ể à ồ ạ Đ ệ ự
19
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đặt vấn đề
Kể từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN thì nhu
cầu về kiểm toán đã trở nên tất yếu. Từ khi xuất hiện, ngành kiểm toán của Việt
Nam liên tục phát triển cả về lý luận và thực tiễn. Cứ mỗi bước tiến lên chúng ta
lại gặp những vấn đề mới mẻ trong lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý tài chính
đối với các doanh nghiệp, các tổ chức. Công tác quản lý tài chính hiện nay đòi
hỏi mỗi doanh nghiệp trong quá trình tổ chức khi đạt đến một quy mô hoạt động
nhất định, phải thiết lập và duy trì các bộ phận để kiểm tra, xác nhận và tư vấn
cho quá trình quản lý và điều hành các hoạt động kế toán- tài chính trong doanh
nghiệp. Mà để các hoạt động kiểm tra và tư vấn có hiệu quả thì sự ra đời của
kiểm toán nội bộ là hết sức quan trọng và tất yếu.
Kiểm toán nội bộ là biện pháp khắc phục hữu hiệu sự buông lỏng và vô
hiệu hoá của chế độ kiểm tra kế toán nội bộ ngành, đơn vị trước đây, tổ chức lại
và đưa vào kỷ cương nề nếp hoạt động mới cho doanh nghiệp.
rất mong nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn và góp ý của các thầy cô giáo để bài
viết của em được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.
Giải quyết vấn đề
I.Giới thiệu về kiểm toán nội bộ
1.Khái niệm chung về kiểm toán nội bộ.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trước hết trong phần viết này em xin đề cập một số lý luận tổng quan về
kiểm toán nội bộ.
Là hoạt động kiểm toán, kiểm toán nội bộ mang những đặc thù chung về
chức năng, nhiệm vụ. Nhưng để phân biệt giữa loại hình kiểm toán nội bộ với
kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập ta có thể dựa trên những định nghĩa riêng
biệt và chức năng nhiệm vụ.
Theo chuẩn mực hành nghề kiểm toán nội bộ ban hành tháng 5 năm 1987 đã
có định nghĩa sau đây:
“ Kiểm toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên
trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động cúa tổ chức đó, với tư
cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó.”
Thuật ngữ “nội bộ” nói lên rằng đó là công việc kiểm toán do tổ chức và
nhân viên của tổ chức tiến hành.
Thuật ngữ “ độc lập” nói lên rằng công việc kiểm toán không bị
những ràng buộc có thể hạn chế đáng kể phạm vi và hiệu quả của việc thẩm tra,
hoặc làm chậm trễ việc báo cáo những phát hiện và kết luận.
Thuật ngữ “ thẩm định” khẳng định chủ đề đánh giá của kiểm toán viên
nội bộ khi triển khai những kết luận.
Thuật ngữ “được thiết lập” xác nhận là tổ chức đã định rõ vai trò
của kiểm toán nội bộ .
Các thuật ngữ “ xem xét và đánh giá” nói rõ vai trò hành động của kiểm
toán viên nội bộ, một là điều tra phát hiện sự việc, hai là nhận định đánh giá.
Cụm từ “ hoạt động của tổ chức” khẳng định phạm vi quyền hạn rộng
hoạt động của đơn vị bằng những phương pháp so sánh, phân tích kinh tế.
- Kiến nghị về lãnh đạo và cán bộ quản lý những biện pháp cụ thể nhằm
chấn chỉnh công tác quản lý, tăng cường kỷ luật, nâng cao hiệu quả hoạt động.
3. Nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Dựa vào những chức năng vừa được xem xét ở trên chúng ta có thể có
các đặc trưng của kiểm toán nội bộ như sau:
- Kiểm toán nội bộ có tính chất bắt buộc và cưỡng chế theo yêu cầu của
HĐGĐ đối với các doanh nghiệp, đơn vị hoạt động dưới quyền. Kiểm toán viên
nội bộ có thẩm quyền kiểm tra đối với các đơn vị trực thuộc, các đơn vị chính
cũng như đơn vị phụ thuộc. Thẩm quyền không chỉ đối với lĩnh vực kế toán tài
chính mà bao gồm mọi lĩnh vực trong hoạt động của đơn vị.
- Theo yêu cầu quản lý của thủ trưởng đơn vị, kiểm toán nội bộ là hoạt động
không thu phí đối với các đơn vị, bộ phận trực thuộc được kiểm toán.
- Kiểm toán nội bộ có mục đích là thông qua kiểm toán để cải tiến và hoàn
thiện các hoạt động của đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu quả
sử dụng vốn và hiệu quả cuối cùng của hoạt động, của sản xuất kinh doanh, khắc
phục những khâu yếu, giúp thủ trưởng đơn vị phát hiện, ngăn chặn và xử lý các
gian lận và sai sót trong hoạt động quản lý của đơn vị.
- Các báo cáo của kiểm toán nội bộ được chủ doanh nghiệp tin tưởng song
không có giá trị pháp lý ở bên ngoài do kiểm toán nội bộ là một bộ phận của đơn
vị, không thể độc lập hoàn toàn với đơn vị đó được.
4. Mô hình tổ chức kiểm toán nội bộ
-Kiểm toán nội bộ là một bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong
phạm vi đơn vị phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị. Do mục tiêu hạn chế ở
phạm vi nội bộ đơn vị nên bộ máy này chỉ bao gồm những kiểm toán không
chuyên nghiệp.
Mô hình tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ có thể được tổ chức như sau:
a. Đối với các loại hình doanh nghiệp
thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định thống nhất giữa chủ thể và
khách thể kiểm toán, trong đó chủ thể kiểm toán phải xác định rõ mục tiêu và
phạm vi kiểm toán và kết hợp khéo léo các phương pháp kỹ thuật theo trình tự
kiểm toán trong khuôn khổ những cơ sở pháp lý nhất định để thực hiện cuộc
kiểm toán, thoả mãn nhu cầu khách thể kiểm toán và các bên quan tâm. Từ đó có
thể diễn giải một cách chi tiết các nguyên tắc và công việc cụ thể cần thực hiện
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong quy trình kiểm toán với ba bước cơ bản: chuẩn bị kiểm toán, thực hành
kiểm toán và kết thúc kiểm toán.
1. Chuẩn bị kiểm toán:
Chuẩn bị là bước công việc đầu tiên của tổ chức công việc kiểm toán nhằm
tạo ra tất cả các tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán. Đây
là công việc có ý nghĩa quyết định chất lượng kiểm toán. Đặc biệt là trong điều
kiện Việt Nam, công tác kiểm toán còn mới mẻ, có khi vừa làm vừa học, vừa tạo
nếp nghĩ và thói quen trong kiểm toán. Trong khi đó các văn bản pháp lý chưa
đầy đủ và phân tán, nguồn tài liệu thiếu về số lượng,về tính đồng bộ và cả chất
lượng Do vậy, chuẩn bị kiểm toán càng được coi trọng đặc biệt.
Mỗi nhiệm vụ phải được kế hoạch hoá cẩn thận trước khi bắt đầu bởi một
kế hoạch hoá đầy đủ và có chuẩn bị sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức.
Hoạt động này sẽ giúp kiểm toán viên xác định phạm vi và các phương pháp sử
dụng trong kiểm toán tạo ra sự nhất quán trong việc thực hiện.
Bước 1: Xác định các mục tiêu và trọng tâm kiểm toán.
Khi triển khai việc kiểm toán có ý nghĩa, trước hết chúng ta phải tự hỏi
chúng ta muốn kiểm toán cái gì. Đây là câu hỏi cần được đặt ra cho toàn bộ
công ty và cho mỗi cấp độ hoạt động nghiệp vụ. Và phần quan trọng của việc kế
hoạch kiểm toán nội bộ cho một nhiệm vụ cá biệt là xác định các mục tiêu kiểm
toán cụ thể. Những mục tiêu đó phải được nêu rõ ràng và nhân viên kiểm toán
phải hiểu kỹ các mục tiêu đó. Một khi mục đích đã được xác định, phạm vi kiểm
toán cũng được xác định. Một chiến lược kiểm toán phải được triển khai và các
việc xét những đề nghị của nhân viên. Những nhu cầu về huấn luyện của nhân
viên cũng được xem xét, vì mỗi công việc được coi như một cơ sở cho việc đáp
ứng các nhu cầu phát triển. Như vậy, kiểm toán viên phải có đủ sự hiểu biết về
cuộc kiểm toán để thảo luận kế hoạch kiểm toán một cách thông minh. Kiểm
toán viên phải được chuẩn bị để trình bày với giám sát viên của mình,với người
quản lý kiểm toán về các mục tiêu của cuộc kiểm toán, công việc phải làm và
những bước tiến hành.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bước 4: Thu thập thông tin, nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội
bộ
Trước khi bắt đầu công việc chuyên môn thực tế, điều chủ yếu là cần thẩm
tra về tình hình chung và tài liệu thích hợp khác, và đó chính là cung cấp thông
tin về chức năng, nhiệm vụ của công ty gắn với một mục tiêu cụ thể.
-Tổ chức của đơn vị: kiểm toán viên phải có được một sơ đồ tổ
chức của đơn vị được kiểm toán và thẩm tra về các cơ cấu và trách nhiệm.
Nhiệm vụ hay chức năng của đơn vị cũng phải rõ để xác định mục đích của đơn
vị.
-Thẩm tra hồ sơ, báo cáo kiểm toán lần trước: các hồ sơ thường
xuyên phải được nghiên cứu về mặt trình bày tình hình chung của tổ chức hoặc
chức năng đã được thẩm định, việc kiểm soát nội bộ và số liệu thống kê. Phạm
vi trước tiên của kiểm toán, các chương trình và hồ sơ kiểm toán phải được thẩm
tra để quen với những kết quả và những cách tiếp cận được sử dụng. Thời gian
kiểm toán thực hiện trong lần kiểm toán trước cũng phải được thẩm tra cẩn thận
để xác định xem có thể tiết kiệm hay không. Còn tất cả những báo cáo kiểm toán
đã phát hành cho đơn vị được kiểm toán phải được thẩm tra lại. Vấn đề trong
những chỗ phát hiện và tầm quan trọng của chúng phải được phân tích cũng như
phạm vi của hành động sửa chữa.
- Từ đó xác dịnh các đánh giá ban đầu về các loại rủi ro có liên quan đến
nghiệp vụ cần kiểm toán .
chỉ đạo và kiểm soát cuộc kiểm toán nhằm đạt được kết quả như mong muốn.
Tuy nhiên việc thực hành kiểm toán phải tôn trọng những nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất: Kiểm toán phải tuyệt đối tuân thủ chương trình kiểm toán đã
được xây dựng. Trong mọi trường hợp, kiểm toán viên không được thay đổi
chương trình.
Thứ hai: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi
chép những phát giác, những nhận định về các nghiệp vụ, các con số, các sự
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kiện nhằm tích luỹ bằng chứng, nhận định cho những kết luận kiểm toánvà loại
trừ những ấn tượng, nhận xét ban đầu không chính xác về nghiệp vụ, các sự kiện
thuộc đối tượng kiểm toán.
Thứ ba: Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán để nhận rõ mức độ thực hiện
so với khối lượng công việc chung. Thông thường cách tổng hợp rõ nhất là dùng
các bảng kê chênh lệch hoặc bảng kê xác minh.
Thứ tư: Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi kiểm toán, trình tự kiểm
toán đều phải có ý kiến thống nhất cử người phụ trách chung công việc kiểm
toán (chủ thể) và người ký thư mời và hợp đồng kiểm toán (khách hàng)- nếu
có. Mức độ pháp lý của những điều chỉnh này phải tương ứng với tính pháp lý
trong lệnh kiểm toán hoặc hợp đồng kiểm toán.
- Phát hiện sớm các vấn đề: Điều quan trọng là các vấn đề phải được phát
hiện và giải quyết sớm. Ví dụ, khó khăn trong việc hợp tác giữa các nhân viên
của một bộ phận có thể làm chậm công việc trong lĩnh vực đó. Thảo luận vấn đề
với giám đốc ngay khi vấn đề phát sinh sẽ giúp cuộc kiểm toán có thể hoàn
thành đúng thời hạn.
- Trợ giúp kỹ thuật: Những vấn đề phức tạp cần có những quyết định
về kỹ thuật có thể phát sinh trong cuộc kiểm toán. Những vấn đề đó thường đòi
hỏi việc nghiên cứu, bàn luận sâu rộng với nhân viên nghiệp vụ và sự phối hợp
của các giám sát viên cấp trên, và kiểm toán trưởng nếu cần. Những vấn đề này
sẽ được kiểm toán viên chú ý và trợ giúp khi cần thiết.
quý sau. Báo cáo được sử dụng để kiểm soát đối với những cuộc kiểm toán đã
lập kế hoạch và đang thực hiện để đảm bảo rằng các cuộc kiểm toán đã bắt đầu
và hoàn thành đúng thời hạn.
-Điều chỉnh: Trong quá trình thực hiện kiểm toán, thường cần có
những thay đổi trong kế hoạch kiểm toán. Do đó cần có sự linh hoạt trong các kế
hoạch để đáp ứng những yêu cầu bất thường. Trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ ở địa bàn công ty, kiểm toán viên có thể gặp phải những tình huống, sự kiện
bất ngờ, yêu cầu sửa đổi hoặc bỏ đi một phân đoạn kiểm toán, phát hiện một lĩnh
vực mới phải thẩm tra, và những thay đổi trong nhân sự kiểm toán. Trong một
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
số trường hợp có thể không giữ đúng thời hạn, phải dùng thêm giờ công để hoàn
thành một phân đoạn công việc. Trong những tình huống này, sửa đổi kế hoạch
là cần thiết và phải được chấp nhận phù hợp. Việc chỉ đạo này chỉ ra những kỹ
thuật chưa được lập kế hoạch hoặc diễn giải. Trong một số trường hợp, vấn đề
này có thể làm ngân sách không chính xác., trong các trường hợp khác có thể có
các vấn đề đang được thực hiện. Việc kiểm tra chặt chẽ của kiểm toán sẽ ngăn
ngừa được sự sai lệch thời hạn do thiếu nhân viên, chậm giải quyết các vấn đề,
giám sát không đầy đủ và quá chú ý đến chi tiết.
- Những phát hiện có ý nghĩa: Bản chất của những phát hiện phải được
thẩm tra trong thời gian kiểm toán để xác định chúng có ích gì không? Có nhiều
phát hiện chỉ có tính chất thủ tục thứ yếu không? Những phát hiện có liên quan
đến hiệu quả nghiệp vụ không? Các viên chức điều hành có cho rằng những phát
hiện này là có ích không? Trả lời những câu hỏi này sẽ cho biết những phát hiện
đã triển khai có ý nghĩa hay không.
- Đánh giá sau kiểm toán: Khi lúc kết thúc mỗi công việc, kiểm toán viên
phụ trách đánh giá nhiệm vụ được giao về các yêú tố như: phương pháp tiếp cận,
thời gian hao phí, các lĩnh vực trọng điểm, bố trí nhân viên và những đề xuất
cho những lần kiểm toán sau. Những đánh giá được coi là bài học tốt cho nhân
viên, đồng thời là cơ sở lập kế hoạch cho lần kiểm toán sau. Những đánh giá này
1.ý kiến chấp nhận toàn bộ được sử dụng trong tình huống các bảng khai
tài chính trung thực, rõ ràng và lập đúng chuẩn mực kế toán.
2. ý kiến loại trừ được sử dụng khi có những điểm chưa xác minh được
rõ ràng hoặc còn có những sự kiện, hiện tượng chưa thể giải quyết xong trước
khi kết thúc kiểm toán.
3. ý kiến bác bỏ được sử dụng khi không chấp nhận bảng khai tài chính.
4. ý kiến từ chối được đưa ra khi không thực hiện được kế hoạch hay
hợp đồng kiểm toán do điều kiện khách quan đưa lại, thiếu điều kiện thực hiện,
thiếu chứng từ, tài liệu kế toán
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Báo cáo kiểm toán là thể hiện chức năng kiểm toán và kết luận kiểm
toán. Và một trong những giai đoạn quan trọng nhất của toàn bộ quá trình kiểm
toán nội bộ là lập và gửi các báo cáo. Báo cáo là phương tiện chủ yếu giúp nhiều
người (trong và ngoài công ty) biết được công việc của kiểm toán viên nội bộ và
đánh giá sự đóng góp của anh ta. Báo cáo cũng là bằng chứng trải dài nhất về
đặc tính nghề nghiệp trong hoạt động kiểm toán nội bộ của anh ta. Một công
việc kiểm toán có thể tốt nhưng sẽ bị vô hiệu hoá bởi một báo cáo tồi. Báo cáo
kiểm toán phản ánh: các mục tiêu nền tảng, các chiến lược ủng hộ và chính sách
chủ yếu, các trình tự bao trùm công việc kiểm toán, phẩm chất và thành tích của
nhân viên kiểm toán. Như vậy, báo cáo kiểm toán phối hợp toàn bộ nỗ lực kiểm
toán nội bộ và tạo ra một căn cứ cho việc đánh giá chung, do vậy có nhiều chức
năng quan trọng đối với cả kiểm toán viên và ban quản lý.
- Kết luận dựa vào kiểm toán: Báo cáo dùng để tổng kết bằng chứng đã
thu thập trong thời gian kiểm toán, có trình bày những phát hiện và kết luận. Nó
thể hiện kết quả làm xong của kiểm toán viên.
- Nêu rõ tình trạng: Báo cáo cung cấp cho tổ chức một bảng tóm tắt các
lĩnh vực cần phải cải tiến. Nó có thể coi là một công cụ thông tin cho quản lý về
các nghiệp vụ của tổ chức. Nó cũng phần nào được coi như một việc đánh giá
thành tích, nêu ra những lĩnh vực tốt xấu, và phạm vi có thể cải tiến.
trong các báo cáo viết là tập trung vào những vấn đề quan trọng- tức là loại vấn
đề mang nặng tính chất chủ trương, các phương pháp nghiệp vụ, việc sử dụng
các nguồn lực, thành tích của lực lượng lao động và những kết quả đạt được.
Cũng có khi những vấn đề có ý nghĩa đó liên quan đến hành động đã hoàn
thành, nhưng trong trường hợp này, vấn đề có ý nghĩa là tương xứng với việc lập
báo cáo cụ thể. Ưu điểm đặc biệt của việc tập trung vào những vấn đề là các nhà
quản lý nhận được những thông tin mà họ cần., không phải vất vả đọc quá nhiều
chi tiết. Đó là cách tiếp cận mà những người lãnh đạo kiểm toán nội bộ rất muốn
theo.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
III. Khái quát quy trình kiểm toán hàng tồn kho tại công ty Điện lực I.
Do kết quả kiểm toán chủ yếu phục vụ cho quá trình quản trị nội bộ và
không có giá trị pháp lý cao như các cuộc kiểm toán do kiểm toán độc lập hay
kiểm toán nhà nước tiến hành, vì vậy quy mô và quá trình thực hiện cuộc kiểm
toán nội bộ cũng đơn giản hơn nhiều so với các loại kiểm toán khác. Tuy nhiên
kiểm toán nội bộ của công ty cũng thực hiện kiểm toán đầy đủ các khoản mục và
tuân thủ tương đối đầy đủ các bước theo quy định. Trong phạm vi bài viết, em
chỉ nghiên cứu về kiểm toán hàng tồn kho – là phần hành rất được chú trọng
trong quy trình kiểm toán tại công ty điện lực I.
1. Chuẩn bị kiểm toán.
Bước 1: Xác định các mục tiêu và trọng tâm cuộc kiểm toán.
Mục đích của cuộc kiểm toán là cung cấp thông tin giúp Giám đốc
công ty và các đơn vị có biện pháp điều hành, quản lý hoạt động của đơn vị.
Giúp cho các đơn vị được kiểm toán chấn chỉnh công tác kế toán tài chính của
mình.
Do lực lượng nhân sự của Phòng Kiểm tra và Kiểm toán nội bộ là có
hạn nên không thể thực hiện quy trình kiểm toán đầy đủ cho tất cả các khoản
mục. Vì vậy, Phòng sẽ lựa chọn trọng tâm kiểm toán cho từng năm.
Ví dụ: Năm 2000 trọng tâm kiểm toán là khoản mục tài sản cố định.
Giám đốc phê duyệt để có kế hoạch gửi thông báo xuống cho các đơn vị được
kiểm toán.
Bước 3: Lựa chọn đơn vị kiểm toán và nhân viên thực hiện kiểm toán.
Để thực hiện việc kiểm tra vật tư, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng
hoá đơn vị đã thành lập hội đồng kiểm kê và chỉ đạo xử lý kiểm kê gồm có
Giám đốc xí nghiệp, đại diện Phòng Kiểm tra và Kiểm toán nội bộ của Công ty,
Kế toán trưởng, trưởng phòng kỹ thuật, trưởng phòng vật tư, thủ kho, trưởng
phòng tài chính và một số nhân viên khác thực hiện kiểm tra ở từng kho, phản
ánh giá trị hiện có trong kho. Đối với vật tư đã xuất dùng, xác định rõ người,
đơn vị sử dụng ký xác nhận. Đối với sản phẩm dở dang kiểm kê, khối lượng
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thực hiện ở từng công đoạn, xác định giá trị theo giá kế hoạch và phân rõ theo
khoản mục.
Bước 4: Thu thập thông tin, nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát
nội bộ.
Các đơn vị trực thuộc phải thường xuyên gửi các báo cáo quyết toán để
Phòng Kiểm tra và Kiểm toán nội bộ kiểm tra trước khi trình Công ty duyệt
quyết toán và các báo cáo về tình hình hoạt động của đơn vị mình khi có yêu cầu
của Phòng. Do đó, kiểm toán viên có thể nắm bắt tình hình hoạt động kinh
doanh cũng như hiệu quả của hệ thống kiểm soát của các đơn vị một cách
thường xuyên. Ví dụ như ở đơn vị trực thuộc là Xí nghiệp Cơ điện vật tư- đơn vị
hạch toán phụ thuộc, có tư cách pháp nhân, hệ thống kinh doanh theo phân cấp
tài chính của công ty Điện lực I và Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và các
chính sách chế độ tài chính được quy định cho các doanh nghiệp nhà nước.
Xí nghiệp Cơ điện vật tư thực hiện chức năng và nhiệm vụ sau:
+ Sửa chữa, cải tạo, phục hồi và chế tạo máy biến áp.
+ Sản xuất, chế tạo các cấu kiện và thiết bị đo đếm cho lưới điện phân
phối.
+ Sữa chữa cơ điện và các thiết bị động lực.
kiểm toán.
+ Nội dung kiểm toán: Khắc phục những tồn tại kiểm toán năm trước.
+ Phạm vi kiểm toán: Đối với hàng tồn kho dùng phương pháp chọn mẫu
để kiểm tra.
+ Xác địng trọng tâm kiểm toán: Chú ý các mặt hàng tồn kho chủ yếu, có
giá tri lớn, dễ có nhiều sai sót theo quan điểm của kiểm toán viên, những nghiệp
vụ phát sinh bất thường.
+ Yêu cầu về nhân lực: Bố trí kiểm toán viên thực hiện kiểm toán,
xuống một số kho hàng trọng điểm thực hiện quan sát vật chất, kiểm tra thủ
tục kiểm kê.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Kỹ thuật kiểm toán được áp dụng:
Nội dung công việc Người
thực hiện
Thời gian
1 2 3
1-Kiểm tra sự chấp hành các thủ tục kiểm soát nội
bộ hàng tồn kho
- Xác định hệ thống
- Tiến hành kiểm tra hệ thống
2- Khảo sát nghiệp vụ hàng tồn kho
- Thiết kế phạm vi kiểm toán: Khảo sát
những nghiệp có giá trị lớn, sát ngày báo cáo,
những nghiệp vụ nghi ngờ.
- Tiến hành khảo sát và lập bảng khảo sát
nghiệp vụ.
3- Kiểm tra chi tiết
3.1- Kiểm tra khối lượng hàng tồn kho
- Thực hiện kiểm tra hồ sơ kiểm kê
hàng tồn kho.
- Trước hết kiểm toán viên tiến hành kiểm tra tính đầy đủ về số lượng
báo cáo tài chính, sự trình bày của sổ sách kế toán, qua đó đánh giá nề nếp công
tác kế toán của đơn vị kiểm toán. Để đảm bảo tính pháp lý của tài liệu kế toán,
kiểm toán viên chỉ thực hiện khi báo cáo kế toán và các sổ sách liên quan đã có
ký duyệt của Giám đốc đơn vị, Kế toán trưởng và những người có liên quan.Vì
vậy trước khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên phải chú ý tới yếu tố pháp lý
đầy đủ của báo cáo kế toán cũng như sổ sách liên quan như sổ cái, bảng tổng
hợp nhập, xuất, tồn
- Kiểm toán viên thông qua việc quan sát, phỏng vấn, điều tra xem xét
hệ thống hàng tồn kho có được hạch toán chi tiết cho từng mặt hàng không. Có
thực hiện đối chiếu và xử lý chênh lệch giữa kết quả kiểm kê với sổ sách chưa.
- Xem xét việc quy định các chức năng, nhiệm vụ của từng người trong
quản lý hàng tồn kho đã phù hợp với quy định chưa.
2.1.1.Thực hiện các khảo sát quá trình kiểm toán chu kỳ hàng tồn kho
** Kiểm soát quá trình tiếp nhận, nhập kho và xuất kho
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kiểm toán viên thực hiện các thủ tục quan sát, điều tra phỏng vấn để kiểm
tra cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của từng phòng, từng bộ phận và quy
trình luân chuyển hàng tồn kho có phù hợp với quy định của Công ty hay không.
Đối với các khảo sát này, kiểm toán viên thường mô tả thành các sơ đồ để tiện
đối chiếu, kiểm tra.
* Đối với quá trình tiếp nhận và nhập kho: Phải có kế hoạch cung ứng
hàng tồn kho. Các hợp đồng mua bán phải hợp lệ. Khi hàng về phải được kiểm
nghiệm, thủ kho ký nhận vào phiếu nhập kho, ghi thẻ kho. Sau đó chuyển phiếu
nhập kèm chứng từ gốc cho kế toán hàng tồn kho để ghi sổ và lưu trữ. Kiểm tra
các phiếu nhập kho có được đánh số thứ tự không để phát hiện sự trùng lặp, các
phiếu nhập kho có đầy đủ các chữ ký hay không?
* Kiểm soát quá trình xuất kho: Phải có phiếu yêu cầu xuất kho có chữ ký