93 Quy trình kiểm toán trong kiểm toán nội bộ ở Việt Nam - Pdf 21

Đặt vấn đề
Kể từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN thì nhu cầu về
kiểm toán đã trở nên tất yếu. Từ khi xuất hiện, ngành kiểm toán của Việt Nam liên
tục phát triển cả về lý luận và thực tiễn. Cứ mỗi bớc tiến lên chúng ta lại gặp
những vấn đề mới mẻ trong lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý tài chính đối với các
doanh nghiệp, các tổ chức. Công tác quản lý tài chính hiện nay đòi hỏi mỗi doanh
nghiệp trong quá trình tổ chức khi đạt đến một quy mô hoạt động nhất định, phải
thiết lập và duy trì các bộ phận để kiểm tra, xác nhận và t vấn cho quá trình quản
lý và điều hành các hoạt động kế toán- tài chính trong doanh nghiệp. Mà để các
hoạt động kiểm tra và t vấn có hiệu quả thì sự ra đời của kiểm toán nội bộ là hết
sức quan trọng và tất yếu.
Kiểm toán nội bộ là biện pháp khắc phục hữu hiệu sự buông lỏng và vô
hiệu hoá của chế độ kiểm tra kế toán nội bộ ngành, đơn vị trớc đây, tổ chức lại và
đa vào kỷ cơng nề nếp hoạt động mới cho doanh nghiệp.
Kiểm toán nội bộ cũng là bộ phận hỗ trợ đắc lực cho kiểm toán nhà nớc
trong việc thực hiện kiẻm toán đối với các đơn vị hởng thụ ngân sách nhà nớc vì
kiểm toán nhà nớc có phát triển đến đâu cũng không thể thực hiện kiểm toán th-
ờng xuyên mọi đối tợng.
Kiểm toán nội bộ còn là công cụ kiểm tra, phân tích, đánh giá chất lợng
hệ thống kế toán, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp ở từng bộ phận, ở tất cả
các giai đoạn trớc, trong và sau khi kinh doanh.
Nh vậy, mục đích của kiểm toán nội bộ là tạo ra công cụ để phân tích
toàn bộ hoạt động chiến lợc, để rút kinh nghiệm trong quản lý và điều hành, đồng
thời đề ra chiến lợc phát triển của riêng doanh nghiệp.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hành lang pháp lý cho cuộc kiểm toán
cha đầy đủ, nội dung, quy trình cũng nh phơng pháp đợc vận dụng cho các cuộc
1
kiểm toán ở Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lợng, tính
đồng bộ và hạn chế về mặt chất lợng. Do vậy, một quy trình kiểm toán hợp lý là
điều kiện tiên quyết đảm bảo chất lợng và hiệu quả của cuộc kiểm toán.Và đó

nhân viên của tổ chức tiến hành.
Thuật ngữ độc lập nói lên rằng công việc kiểm toán không bị
những ràng buộc có thể hạn chế đáng kể phạm vi và hiệu quả của việc thẩm tra,
hoặc làm chậm trễ việc báo cáo những phát hiện và kết luận.
Thuật ngữ thẩm định khẳng định chủ đề đánh giá của kiểm toán viên
nội bộ khi triển khai những kết luận.
Thuật ngữ đợc thiết lập xác nhận là tổ chức đã định rõ vai trò của
kiểm toán nội bộ .
Các thuật ngữ xem xét và đánh giá nói rõ vai trò hành động của kiểm
toán viên nội bộ, một là điều tra phát hiện sự việc, hai là nhận định đánh giá.
Cụm từ hoạt động của tổ chức khẳng định phạm vi quyền hạn rộng của
cộng việc kiểm toán nội bộ khi tác dộng đến tất cả các hoạt động của tổ chức.
Thuật ngữ giúp đỡ khẳng định sự giúp đỡ và hỗ trợ là kết quả cuối cùng
của kiểm toán nội bộ.
3
Cụm từ đối với tổ chức đó khẳng định toàn bộ phạm vi giúp đỡ cho cả tổ
chức, bao gồm toàn thể nhân viên, hội đồng giám đốc ( trong đó có Uỷ ban kiểm
toán của HĐGĐ) và các cổ đông của công ty.
Kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển xuất phát từ những lý do khách
quan của nhu cầu quản lý của bản thân các đơn vị và tổ chức kinh tế. Kiểm toán
nội bộ là chức năng đánh giá một cách độc lập và khách quan cơ cấu kiểm soát nội
bộ của đơn vị. Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ bao gồm tất cả các hoạt
động của đơn vị ở tất cả các cấp quản lý khác nhau. Kiểm toán nội bộ xem xét,
đánh giá và báo cáo về thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ và những thông
tin, tài liệu và báo cáo kế toán, đa ra những phân tích, kiến nghị, t vấn mang tính
chuyên nghiệp để các nhà quản lý có cơ sở tin cậy trong việc quản lý các hoạt
động của đơn vị, hớng tới hiệu quả, chất lợng và phù hợp với các quy tắc và chế
định của pháp luật.
2. Chức năng của kiểm toán nội bộ
Trớc hết, chúng ta cần phải khẳng định rằng kiểm toán nội bộ hình thành do

không thể độc lập hoàn toàn với đơn vị đó đợc.
4. Mô hình tổ chức kiểm toán nội bộ
-Kiểm toán nội bộ là một bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm
vi đơn vị phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị. Do mục tiêu hạn chế ở phạm vi
nội bộ đơn vị nên bộ máy này chỉ bao gồm những kiểm toán không chuyên
nghiệp.
Mô hình tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ có thể đợc tổ chức nh sau:
a. Đối với các loại hình doanh nghiệp
Trong các doanh nghiệp nhà nớc- là tổng các công ty- bộ phận kiểm toán nội
bộ có thể tổ chức thành một phòng trực thuộc tổng công ty. Ngời đứng đầu bộ
phận này có thể đợc gọi là Kiểm toán trởng nội bộ hoặc Trởng phòng kiểm toán
nội bộ, có trách nhiệm, quyền hạn theo chức năng, nhiệm vụ nhng có quyền tự do
liên hệ và báo cáo kết quả kiểm toán với lãnh đạo và ban kiểm soát của HĐQT.
Các kiểm toán viên nội bộ đợc cử đến làm việc thờng xuyên, ổn định tại các doanh
nghiệp thành viên theo đúng chức năng của kiểm toán viên nội bộ, nhng chịu sự
điều hành chung của trởng phòng kiểm toán nội bộ. Hoặc các kiểm toán viên nội
5
bộ thực hiện công việc theo chơng trình, mục tiêu cụ thể của từng cuộc kiểm toán
đối với các doanh nghiệp thành viên.
- Đối với các doanh nghiệp độc lập, bộ phận kiểm toán nội bộ đặt trực thuộc
Tổng giám đốc và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của mình trong phạm vi
doanh nghiệp đảm bảm tính độc lập trong quá trình kiểm toán, trởng bộ phận kiểm
toán có quyền báo cáo kết quả kiểm toán cho giám đốc hoặc khi thấy cần thiết có
thể báo cáo với các cơ quan tài chính nhà nớc hoặc cấp trên.
b. Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp
- Các bộ và cơ quan cấp Trung ơng, có thể thành lập Vụ, Phòng, Ban kiểm
toán nội bộ giúp thủ trởng đơn vị kiểm soát các hoạt động tài chính, thẩm định các
thông tin do cấp dới báo cáo và có trách nhiệm là ngời phối hợp với các cơ quan
ngoại kiểm.
- Các đơn vị dự toán, cần có phòng hoặc một kiểm toán viên nội bộ. Mô hình

ta muốn kiểm toán cái gì. Đây là câu hỏi cần đợc đặt ra cho toàn bộ công ty và cho
mỗi cấp độ hoạt động nghiệp vụ. Và phần quan trọng của việc kế hoạch kiểm toán
nội bộ cho một nhiệm vụ cá biệt là xác định các mục tiêu kiểm toán cụ thể. Những
mục tiêu đó phải đợc nêu rõ ràng và nhân viên kiểm toán phải hiểu kỹ các mục
tiêu đó. Một khi mục đích đã đợc xác định, phạm vi kiểm toán cũng đợc xác định.
Một chiến lợc kiểm toán phải đợc triển khai và các phơng pháp phải đợc dự kiến
để tiến hành cuộc kiểm toán. Nh vậy, việc lập kế hoạch liên quan đến việc xác
định các mục tiêu hoàn chỉnh cho công ty, cả trên góc độ tổng thể và từng bộ phận
cấu thành tổ chức. Những mục tiêu tổng thể và bộ phận cung cấp những luận điểm
hỗ trợ cho các hoạt động kiểm soát. Việc lập kế hoạch đầy đủ và toàn diện làm cơ
sở cho chức năng kiểm toán. Điều đó cũng nhấn mạnh rằng bất kỳ ai quan tâm đến
việc phát triển hoặc cải tiến hiệu quả kiểm soát cần phải chú ý tới cả tính đầy đủ
của lập kế hoạch và hiệu quả mà lập kế hoạch thực sự mang lại. Do đó, mối quan
tâm đầu tiên của chúng ta là xác định mục tiêu cho việc lập kế hoạch kiểm toán.
B ớc 2 : ớc lợng và sắp xếp thời gian hợp lý
Các bảng ớc tính thời gian sơ bộ đợc lập và các khung thời gian đợc định ra
cho việc thực hiện mỗi cuộc kiểm toán. Ngoài ra, phải có những thay đổi trong
7
cuộc kiểm toán đang tiến triển do có những phát hiện mới, có những thay đổi về
nhân viên và những u tiên khác. Việc ớc lợng có thể cho một tháng, một quý hay
một thời kỳ dài hơn. Bảng này đợc sử dụng để dự kiến những nhiệm vụ giao cho
kiểm toán viên vào một thời kỳ nhất định. Nó cũng ghi rõ việc nghỉ phép hàng
năm đã dự tính, thời gian giám sát, thời gian quản trị và huấn luyện chính thức. Là
một phơng thức kiểm soát, bảng này phục vụ việc điều hoà số ngày công với
những yêu cầu kiểm toán đã đợc dự định.
B ớc 3 : Lựa chọn đơn vị kiểm toán, nhân viên thực hiện kiểm toán.
Số lợng và trình độ của nhân viên cần thiết tuỳ thuộc vào việc đánh giá tính
chất và sự phức tạp của công việc cũng nh những ràng buộc của thời gian. Công
việc phải chia nhỏ thành những nhiệm vụ của cá nhân khi ớc tính về nhân viên.
Việc này không những làm cho các bảng kê chung đáng tin cậy hơn, mà còn phục

- Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua các khía cạnh sau:
+ Xem xét môi trờng kiểm toán chung .
+ Đánh giá hệ thống kế toán.
+ Các quy chế và thủ tục kiểm toán nội bộ đợc vận hành đầy đủ.
Trên cơ sở đó kiểm toán viên đa ra những phơng thức áp dụng kỹ thuật kiểm
toán :
- Nội dung kiểm toán: Đó chính là câu trả lời cho việc đề ra mục tiêu
kiểm toán để triển khai một cuộc kiểm toán có ý nghĩa, là thớc đo kết quả kiểm
toán cho từng nghiệp vụ cụ thể trong công ty.
- Phạm vi kiểm toán: là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối t-
ợng kiểm toán. Đó là việc xác định những phơng pháp kiểm toán và cùng với việc
xác định mục tiêu hớng tới những nghiệp vụ cụ thể.
- Xác định trọng tâm của việc kiểm toán: Căn cứ vào những vấn đề còn
tồn đọng trong kết quả kiểm toán năm trớc (nếu có) và tình thực tế của công ty
năm nay để xác định trọng tâm của cuộc kiểm toán. Đồng thời chú trọng đến
những vấn đề còn gặp nhiều sai phạm trong nghiệp vụ kiểm toán.
- Kỹ thuật kiểm toán áp dụng: Tuỳ vào từng công việc cụ thể và tình hình,
điều kiện của công ty để áp dụng kỹ thuật kiểm toán thích hợp nhất.
9
- Yêu cầu về nhân lực: Bố trí kiểm toán viên có trình độ chuyên môn thích
hợp với từng công việc cụ thể.
Cuối cùng là chuẩn bị cơ sở vật chất và phơng tiện đi lại để chuẩn bị thực hiện.
2. Thực hiện cuộc kiểm toán.
Thực hiện cuộc kiểm toán là quá trình thực hiện đồng bộ các công
việc đã ấn định trong kế hoạch, chơng trình kiểm toán. Trong bớc công việc này,
tính nghệ thuật trong tổ chức bao trùm suốt quá trình. Và ở giai đoạn này đã có sự
tiếp cận và kiểm toán viên đã thu thập đủ thông tin về tổ chức và chơng trình cần
đợc thẩm tra. Lúc này nhiệm vụ của kiểm toán viên là phải chỉ đạo và kiểm soát
cuộc kiểm toán nhằm đạt đợc kết quả nh mong muốn. Tuy nhiên việc thực hành
kiểm toán phải tôn trọng những nguyên tắc cơ bản:

đặt ra, và những việc cần thay đổi. Và dựa vào đó để có hớng chỉ đạo tiến hành
những công việc tiếp theo.
- Chỉ dẫn kiểm toán: bất cứ khi nào kiểm toán viên nội bộ có chỉ dẫn
kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ nên soạn ra bản tóm tắt những thiếu sót có thể
xảy ra, còn gọi là bản chỉ dẫn. Điều quan trọng là bản chỉ dẫn này đợc lập ngay
khi kiểm toán viên chỉ ra vấn đề quan trọng còn tồn tại. Điều này làm cho tất cả
các cấp giám sát chú ý tới các vấn đề nh vậy ngay khi bắt đầu cuộc kiểm toán.
Điều này cũng đợc coi là một kiểm tra để dảm bảo rằng tất cả các chỉ dẫn đều đợc
tuân thủ. Giám sát viên cũng phải đảm bảo rằng có tài liệu chứng minh cho sự sắp
đặt cuối cùng của ban chỉ dẫn trớc khi hoàn thành cuộc kiểm toán.
- Kỹ thuật kiểm toán chuyên môn hoá: Nhân viên kiểm toán đợc
khuyến khích sử dụng các biện pháp kỹ thuật nh chọn mẫu thống kê, các phần
mềm kiểm toán khi có thể. Khi những kỹ thuật này có thể áp dụng cho việc trắc
nghiệm, thì việc chọn mẫu và các kế hoạch khác phải đợc xem xét một cách cẩn
thận để đảm bảo kết quả tốt nhất với hao phí các nguồn lực ít nhất.
- Báo cáo định kỳ: trong những cuộc kiểm toán lớn hơn, hoặc những cuộc
kiểm toán tiến hành cùng một lúc ở nhiều địa điểm khác nhau thì yêu cầu báo cáo
về tiến độ hàng tuần, hoặc mỗi tuần hai lần là rất hữu ích. Những báo cáo này
cung cấp những thông tin có ích cho giám sát viên cũng nh việc kiểm soát cho
11
kiểm toán viên đang phụ trách. Những báo cáo này bao gồm những thông tin về
thời gian dự kiến và thời gian thực tế, thời gian ớc tính để hoàn thành, số lợng, nội
dung của các chỉ dẫn và phát hiện. Đây là một báo cáo đợc lập hàng tháng của mỗi
văn phòng cơ sở dể cung cấp cho kiểm toán trởng thông tin về hiện trạng các cuộc
kiểm toán đang tiến triển hoặc chơng trình hoạt động trong quý sau. Báo cáo đợc
sử dụng để kiểm soát đối với những cuộc kiểm toán đã lập kế hoạch và đang thực
hiện để đảm bảo rằng các cuộc kiểm toán đã bắt đầu và hoàn thành đúng thời hạn.
-Điều chỉnh: Trong quá trình thực hiện kiểm toán, thờng cần có
những thay đổi trong kế hoạch kiểm toán. Do đó cần có sự linh hoạt trong các kế
hoạch để đáp ứng những yêu cầu bất thờng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status