LUẬN VĂN: Quy trình kiểm toán trong kiểm toán nội bộ ở Việt Nam potx - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Quy trình kiểm toán trong kiểm
toán nội bộ ở Việt Nam
kiểm toán ở Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính
đồng bộ và hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, một quy trình kiểm toán hợp lý là điều
kiện tiên quyết đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán.Và đó cũng là một
trong nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công của các doanh nghiệp.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của quy trình kiểm toán đối với kiểm toán
nội bộ ở Việt Nam, em đã quyết định chọn đề tài “Quy trình kiểm toán trong kiểm
toán nội bộ ở Việt Nam” cho đề án môn học của mình. Nội dung đề án được trình bày
theo 3 phần:

Phần I: Giới thiệu về kiểm toán nội bộ .
Phần II: Cơ sở lý luận chung về quy trình kiểm toán trong kiểm toán nội bộ ở
Việt Nam.
Phần III: Khái quát về quy trình kiểm toán ở Công ty Điện lực I. Giải quyết vấn đề

I.Giới thiệu về kiểm toán nội bộ
1.Khái niệm chung về kiểm toán nội bộ.
Trước hết trong phần viết này em xin đề cập một số lý luận tổng quan về kiểm
toán nội bộ.
Là hoạt động kiểm toán, kiểm toán nội bộ mang những đặc thù chung về chức
năng, nhiệm vụ. Nhưng để phân biệt giữa loại hình kiểm toán nội bộ với kiểm toán nhà
nước, kiểm toán độc lập ta có thể dựa trên những định nghĩa riêng biệt và chức năng
nhiệm vụ.
Theo chuẩn mực hành nghề kiểm toán nội bộ ban hành tháng 5 năm 1987 đã có
định nghĩa sau đây:

toán, đưa ra những phân tích, kiến nghị, tư vấn mang tính chuyên nghiệp để các nhà
quản lý có cơ sở tin cậy trong việc quản lý các hoạt động của đơn vị, hướng tới hiệu
quả, chất lượng và phù hợp với các quy tắc và chế định của pháp luật.
2. Chức năng của kiểm toán nội bộ
Trước hết, chúng ta cần phải khẳng định rằng kiểm toán nội bộ hình thành do
nhu cầu quản lý, cho nên chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu và vai trò của nó cũng trải
qua quá trình phát triển từ thấp đến cao cùng với khoa học quản lý, trình độ và kinh
nghiệm quản lý của các nhà lãnh đạo.
- Rà soát lại hệ thống kế toán và hệ thống kiểm toán nội bộ, giám sát sự hoạt động
của các hệ thống này, tham gia vào việc hoàn thiện chúng theo các nguyên tắc, chuẩn
mực kế toán và quản lý tài chính.
- Giúp doanh nghiệp kiểm tra lại các thông tin bao gồm cả các thông tin tài chính
và các thông tin tác nghiệp.
- Kiểm tra, đánh giá tính hiệu lực, tính kinh tế và tính hiệu quả trong các hoạt động
của đơn vị bằng những phương pháp so sánh, phân tích kinh tế.
- Kiến nghị về lãnh đạo và cán bộ quản lý những biện pháp cụ thể nhằm chấn
chỉnh công tác quản lý, tăng cường kỷ luật, nâng cao hiệu quả hoạt động.
3. Nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ
Dựa vào những chức năng vừa được xem xét ở trên chúng ta có thể có các đặc
trưng của kiểm toán nội bộ như sau:
- Kiểm toán nội bộ có tính chất bắt buộc và cưỡng chế theo yêu cầu của HĐGĐ
đối với các doanh nghiệp, đơn vị hoạt động dưới quyền. Kiểm toán viên nội bộ có
thẩm quyền kiểm tra đối với các đơn vị trực thuộc, các đơn vị chính cũng như đơn vị
phụ thuộc. Thẩm quyền không chỉ đối với lĩnh vực kế toán tài chính mà bao gồm mọi
lĩnh vực trong hoạt động của đơn vị.
- Theo yêu cầu quản lý của thủ trưởng đơn vị, kiểm toán nội bộ là hoạt động
không thu phí đối với các đơn vị, bộ phận trực thuộc được kiểm toán.

quyền báo cáo kết quả kiểm toán cho giám đốc hoặc khi thấy cần thiết có thể báo cáo
với các cơ quan tài chính nhà nước hoặc cấp trên.
b. Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp
- Các bộ và cơ quan cấp Trung ương, có thể thành lập Vụ, Phòng, Ban kiểm toán
nội bộ giúp thủ trưởng đơn vị kiểm soát các hoạt động tài chính, thẩm định các thông
tin do cấp dưới báo cáo và có trách nhiệm là người phối hợp với các cơ quan ngoại
kiểm.
- Các đơn vị dự toán, cần có phòng hoặc một kiểm toán viên nội bộ. Mô hình tổ
chức hệ thống nhân viên chuẩn chi của Pháp rất đáng lưu ý để vận dụng cho khối hành
chính và sự nghiệp nhà nước.
II Cơ sở lý luận chung về quy trình kiểm toán trong kiểm toán nội bộ ở Việt
Nam
Kiểm toán là một hệ thống có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng
tài chính. Các yếu tố của xác minh và bày tỏ ý kiến kết hợp theo một trình tự khoa học
phù hợp với một đối tượng cụ thể ở một khách thể xác định. Và có thể dễ dàng đi đến
thống nhất rằng một cuộc kiểm toán chỉ có thể thực hiện thành công nếu đối tượng
kiểm toán được xác định thống nhất giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, trong đó chủ
thể kiểm toán phải xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán và kết hợp khéo léo các
phương pháp kỹ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ những cơ sở pháp lý
nhất định để thực hiện cuộc kiểm toán, thoả mãn nhu cầu khách thể kiểm toán và các
bên quan tâm. Từ đó có thể diễn giải một cách chi tiết các nguyên tắc và công việc cụ
thể cần thực hiện trong quy trình kiểm toán với ba bước cơ bản: chuẩn bị kiểm toán,
thực hành kiểm toán và kết thúc kiểm toán.
1. Chuẩn bị kiểm toán:
Chuẩn bị là bước công việc đầu tiên của tổ chức công việc kiểm toán nhằm tạo ra
tất cả các tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán. Đây là công việc
có ý nghĩa quyết định chất lượng kiểm toán. Đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam,

kiểm toán đang tiến triển do có những phát hiện mới, có những thay đổi về nhân viên
và những ưu tiên khác. Việc ước lượng có thể cho một tháng, một quý hay một thời kỳ
dài hơn. Bảng này được sử dụng để dự kiến những nhiệm vụ giao cho kiểm toán viên
vào một thời kỳ nhất định. Nó cũng ghi rõ việc nghỉ phép hàng năm đã dự tính, thời
gian giám sát, thời gian quản trị và huấn luyện chính thức. Là một phương thức kiểm
soát, bảng này phục vụ việc điều hoà số ngày công với những yêu cầu kiểm toán đã
được dự định.

Bước 3: Lựa chọn đơn vị kiểm toán, nhân viên thực hiện kiểm toán.
Số lượng và trình độ của nhân viên cần thiết tuỳ thuộc vào việc đánh giá tính chất
và sự phức tạp của công việc cũng như những ràng buộc của thời gian. Công việc phải
chia nhỏ thành những nhiệm vụ của cá nhân khi ước tính về nhân viên. Việc này
không những làm cho các bảng kê chung đáng tin cậy hơn, mà còn phục vụ như một
tiêu chuẩn để so sánh thành tích cụ thể với công việc theo dự tính. Kỹ năng và những
nhu cầu phát triển của nhân viên phải được nghiên cứu khi chọn những kiểm toán viên
cụ thể cho công việc. Trong thời gian của các giai đoạn chuẩn bị, các yêu cầu khác
phải được cân nhắc cẩn thận trong việc xét những đề nghị của nhân viên. Những nhu
cầu về huấn luyện của nhân viên cũng được xem xét, vì mỗi công việc được coi như
một cơ sở cho việc đáp ứng các nhu cầu phát triển. Như vậy, kiểm toán viên phải có đủ
sự hiểu biết về cuộc kiểm toán để thảo luận kế hoạch kiểm toán một cách thông minh.
Kiểm toán viên phải được chuẩn bị để trình bày với giám sát viên của mình,với người
quản lý kiểm toán về các mục tiêu của cuộc kiểm toán, công việc phải làm và những
bước tiến hành.
Bước 4: Thu thập thông tin, nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Trước khi bắt đầu công việc chuyên môn thực tế, điều chủ yếu là cần thẩm tra về
tình hình chung và tài liệu thích hợp khác, và đó chính là cung cấp thông tin về chức
năng, nhiệm vụ của công ty gắn với một mục tiêu cụ thể.


định trọng tâm của cuộc kiểm toán. Đồng thời chú trọng đến những vấn đề còn gặp
nhiều sai phạm trong nghiệp vụ kiểm toán.
- Kỹ thuật kiểm toán áp dụng: Tuỳ vào từng công việc cụ thể và tình hình, điều
kiện của công ty để áp dụng kỹ thuật kiểm toán thích hợp nhất.
- Yêu cầu về nhân lực: Bố trí kiểm toán viên có trình độ chuyên môn thích hợp
với từng công việc cụ thể.
Cuối cùng là chuẩn bị cơ sở vật chất và phương tiện đi lại để chuẩn bị thực hiện.
2. Thực hiện cuộc kiểm toán.
Thực hiện cuộc kiểm toán là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc
đã ấn định trong kế hoạch, chương trình kiểm toán. Trong bước công việc này, tính
nghệ thuật trong tổ chức bao trùm suốt quá trình. Và ở giai đoạn này đã có sự tiếp cận
và kiểm toán viên đã thu thập đủ thông tin về tổ chức và chương trình cần được thẩm
tra. Lúc này nhiệm vụ của kiểm toán viên là phải chỉ đạo và kiểm soát cuộc kiểm toán
nhằm đạt được kết quả như mong muốn. Tuy nhiên việc thực hành kiểm toán phải tôn
trọng những nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất: Kiểm toán phải tuyệt đối tuân thủ chương trình kiểm toán đã được xây
dựng. Trong mọi trường hợp, kiểm toán viên không được thay đổi chương trình.
Thứ hai: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chép
những phát giác, những nhận định về các nghiệp vụ, các con số, các sự kiện nhằm
tích luỹ bằng chứng, nhận định cho những kết luận kiểm toánvà loại trừ những ấn
tượng, nhận xét ban đầu không chính xác về nghiệp vụ, các sự kiện thuộc đối tượng
kiểm toán.
Thứ ba: Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán để nhận rõ mức độ thực hiện so với
khối lượng công việc chung. Thông thường cách tổng hợp rõ nhất là dùng các bảng kê
chênh lệch hoặc bảng kê xác minh.
Thứ tư: Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi kiểm toán, trình tự kiểm
toán đều phải có ý kiến thống nhất cử người phụ trách chung công việc kiểm toán
(chủ thể) và người ký thư mời và hợp đồng kiểm toán (khách hàng)- nếu có. Mức độ
pháp lý của những điều chỉnh này phải tương ứng với tính pháp lý trong lệnh kiểm

việc chọn mẫu và các kế hoạch khác phải được xem xét một cách cẩn thận để đảm bảo
kết quả tốt nhất với hao phí các nguồn lực ít nhất.
- Báo cáo định kỳ: trong những cuộc kiểm toán lớn hơn, hoặc những cuộc kiểm
toán tiến hành cùng một lúc ở nhiều địa điểm khác nhau thì yêu cầu báo cáo về tiến độ
hàng tuần, hoặc mỗi tuần hai lần là rất hữu ích. Những báo cáo này cung cấp những
thông tin có ích cho giám sát viên cũng như việc kiểm soát cho kiểm toán viên đang
phụ trách. Những báo cáo này bao gồm những thông tin về thời gian dự kiến và thời
gian thực tế, thời gian ước tính để hoàn thành, số lượng, nội dung của các chỉ dẫn và
phát hiện. Đây là một báo cáo được lập hàng tháng của mỗi văn phòng cơ sở dể cung
cấp cho kiểm toán trưởng thông tin về hiện trạng các cuộc kiểm toán đang tiến triển
hoặc chương trình hoạt động trong quý sau. Báo cáo được sử dụng để kiểm soát đối
với những cuộc kiểm toán đã lập kế hoạch và đang thực hiện để đảm bảo rằng các
cuộc kiểm toán đã bắt đầu và hoàn thành đúng thời hạn.
-Điều chỉnh: Trong quá trình thực hiện kiểm toán, thường cần có những
thay đổi trong kế hoạch kiểm toán. Do đó cần có sự linh hoạt trong các kế hoạch để
đáp ứng những yêu cầu bất thường. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ở địa bàn công
ty, kiểm toán viên có thể gặp phải những tình huống, sự kiện bất ngờ, yêu cầu sửa đổi
hoặc bỏ đi một phân đoạn kiểm toán, phát hiện một lĩnh vực mới phải thẩm tra, và
những thay đổi trong nhân sự kiểm toán. Trong một số trường hợp có thể không giữ
đúng thời hạn, phải dùng thêm giờ công để hoàn thành một phân đoạn công việc.
Trong những tình huống này, sửa đổi kế hoạch là cần thiết và phải được chấp nhận phù
hợp. Việc chỉ đạo này chỉ ra những kỹ thuật chưa được lập kế hoạch hoặc diễn giải.
Trong một số trường hợp, vấn đề này có thể làm ngân sách không chính xác., trong các
trường hợp khác có thể có các vấn đề đang được thực hiện. Việc kiểm tra chặt chẽ của
kiểm toán sẽ ngăn ngừa được sự sai lệch thời hạn do thiếu nhân viên, chậm giải quyết
các vấn đề, giám sát không đầy đủ và quá chú ý đến chi tiết.
- Những phát hiện có ý nghĩa: Bản chất của những phát hiện phải được thẩm

luận kiểm toán là sự nhất quán giữa kết luận nêu ra với mục tiêu kiểm toán. Sự đầy đủ
của kết luận là sự bao hàm toàn bộ yêu cầu, phạm vi kiểm toán đã xác định và đã điều
chỉnh (nếu có); mọi khía cạnh khác nhau về nội dung đã xác định trong yêu cầu và mọi
bộ phận thuộc phạm vi kiểm toán đã nêu trong kế hoạch kiểm toán hoặc được điều
chỉnh đều phải bao hàm trong kết luận kiểm toán.
- Tính pháp lý của kết luận trước hết đỏi hỏi những bằng chứng tương xứng theo
yêu cầu của các quy chế, chuẩn mực, pháp luật. Đồng thời tính pháp lý cũng đỏi hỏi
các kết luận phải chuẩn xác trong từ ngữ và văn phạm. Để đảm bảo các yêu cầu pháp
lý, kết luận kiểm toán được quy định thành chuẩn mực với 4 loại phù hợp các tình
huống cụ thể:
1.ý kiến chấp nhận toàn bộ được sử dụng trong tình huống các bảng khai tài
chính trung thực, rõ ràng và lập đúng chuẩn mực kế toán.
2. ý kiến loại trừ được sử dụng khi có những điểm chưa xác minh được rõ
ràng hoặc còn có những sự kiện, hiện tượng chưa thể giải quyết xong trước khi kết
thúc kiểm toán.
3. ý kiến bác bỏ được sử dụng khi không chấp nhận bảng khai tài chính.
4. ý kiến từ chối được đưa ra khi không thực hiện được kế hoạch hay hợp
đồng kiểm toán do điều kiện khách quan đưa lại, thiếu điều kiện thực hiện, thiếu
chứng từ, tài liệu kế toán
Báo cáo kiểm toán là thể hiện chức năng kiểm toán và kết luận kiểm toán. Và
một trong những giai đoạn quan trọng nhất của toàn bộ quá trình kiểm toán nội bộ là
lập và gửi các báo cáo. Báo cáo là phương tiện chủ yếu giúp nhiều người (trong và
ngoài công ty) biết được công việc của kiểm toán viên nội bộ và đánh giá sự đóng góp
của anh ta. Báo cáo cũng là bằng chứng trải dài nhất về đặc tính nghề nghiệp trong
hoạt động kiểm toán nội bộ của anh ta. Một công việc kiểm toán có thể tốt nhưng sẽ bị
vô hiệu hoá bởi một báo cáo tồi. Báo cáo kiểm toán phản ánh: các mục tiêu nền tảng,
các chiến lược ủng hộ và chính sách chủ yếu, các trình tự bao trùm công việc kiểm

hoặc thông tin tài chính.
- Mô tả công việc kiểm toán: Các bước kiểm toán, cũng như phạm vi đối
chiếu và trắc nghiệp cụ thể đều được miêu tả. Trong một chừng mực nào đó cách làm
này có phần chồng chéo với quy định về trình tự nói chung trong cẩm nang kiểm toán.
Vấn đề ở đây là người đọc báo cáo quan tâm như thế nào đến chi tiết của trình tự, và
mục đích phục vụ của báo cáo là gì.
- Giải thích chi tiết những phát hiện kiểm toán: Một cách tiếp cận có liên
quan chặt chẽ của một số kiểm toán viên nội bộ là đi vào khối lượng chi tiết rất lớn
xung quanh kết quả của nhiều loại công việc kiểm toán. Người đọc báo cáo có thể bỏ
qua những chi tiết rất quan trọng, do đó nếu có thể thì chúng ta nên ra sức tổng kết
những phát hiện của kiểm toán.
- Tập trung vào những vấn đề quan trọng: Cách tiếp cận thường dùng trong
các báo cáo viết là tập trung vào những vấn đề quan trọng- tức là loại vấn đề mang
nặng tính chất chủ trương, các phương pháp nghiệp vụ, việc sử dụng các nguồn lực,
thành tích của lực lượng lao động và những kết quả đạt được. Cũng có khi những vấn
đề có ý nghĩa đó liên quan đến hành động đã hoàn thành, nhưng trong trường hợp này,
vấn đề có ý nghĩa là tương xứng với việc lập báo cáo cụ thể. Ưu điểm đặc biệt của việc
tập trung vào những vấn đề là các nhà quản lý nhận được những thông tin mà họ cần.,
không phải vất vả đọc quá nhiều chi tiết. Đó là cách tiếp cận mà những người lãnh đạo
kiểm toán nội bộ rất muốn theo.
III. Khái quát quy trình kiểm toán hàng tồn kho tại công ty Điện lực I.
Do kết quả kiểm toán chủ yếu phục vụ cho quá trình quản trị nội bộ và không
có giá trị pháp lý cao như các cuộc kiểm toán do kiểm toán độc lập hay kiểm toán nhà
nước tiến hành, vì vậy quy mô và quá trình thực hiện cuộc kiểm toán nội bộ cũng đơn
giản hơn nhiều so với các loại kiểm toán khác. Tuy nhiên kiểm toán nội bộ của công ty
cũng thực hiện kiểm toán đầy đủ các khoản mục và tuân thủ tương đối đầy đủ các
bước theo quy định. Trong phạm vi bài viết, em chỉ nghiên cứu về kiểm toán hàng tồn

Bước 2: Ước lượng và sắp xếp thời gian hợp lý.
Công tác lên lịch trình kiểm toán và sắp xếp thời gian kiểm toán đã được trưởng
phòng Phòng Kiểm tra và Kiểm toán nội bộ lập vào đầu năm. Thời gian kiểm toán
thường là vào giữa năm từ tháng 5 đến tháng 11. Niên độ kế toán kiểm tra là theo các
quý hoặc theo các tháng đầu năm. Thời gian này đảm bảo cho kiểm toán viên có thể
vừa thực hiện kiểm toán vừa góp ý cho các đơn vị để giải quyết ngay các sai sót. Nên
tốc độ kiểm toán nhanh hơn, đây cũng là một ưu điểm lớn so với loại hình kiểm toán
khác. Dựa trên các nội dung trên, trưởng phòng Phòng Kiểm tra và Kiểm toán nội bộ
lập bản kế hoạch sơ bộ và trình lên Giám đốc phê duyệt để có kế hoạch gửi thông báo
xuống cho các đơn vị được kiểm toán.
Bước 3: Lựa chọn đơn vị kiểm toán và nhân viên thực hiện kiểm toán.
Để thực hiện việc kiểm tra vật tư, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng hoá đơn
vị đã thành lập hội đồng kiểm kê và chỉ đạo xử lý kiểm kê gồm có Giám đốc xí
nghiệp, đại diện Phòng Kiểm tra và Kiểm toán nội bộ của Công ty, Kế toán trưởng,
trưởng phòng kỹ thuật, trưởng phòng vật tư, thủ kho, trưởng phòng tài chính và một số
nhân viên khác thực hiện kiểm tra ở từng kho, phản ánh giá trị hiện có trong kho. Đối
với vật tư đã xuất dùng, xác định rõ người, đơn vị sử dụng ký xác nhận. Đối với sản
phẩm dở dang kiểm kê, khối lượng thực hiện ở từng công đoạn, xác định giá trị theo
giá kế hoạch và phân rõ theo khoản mục.
Bước 4: Thu thập thông tin, nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội
bộ.
Các đơn vị trực thuộc phải thường xuyên gửi các báo cáo quyết toán để Phòng
Kiểm tra và Kiểm toán nội bộ kiểm tra trước khi trình Công ty duyệt quyết toán và các
báo cáo về tình hình hoạt động của đơn vị mình khi có yêu cầu của Phòng. Do đó,
kiểm toán viên có thể nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả của
hệ thống kiểm soát của các đơn vị một cách thường xuyên. Ví dụ như ở đơn vị trực
thuộc là Xí nghiệp Cơ điện vật tư- đơn vị hạch toán phụ thuộc, có tư cách pháp nhân,
hệ thống kinh doanh theo phân cấp tài chính của công ty Điện lực I và Tổng Công ty
tính.
+ Quy trình lập, luân chuyển chứng từ chưa phù hợp với quy định.
+ Hàng tồn kho còn tồn đọng nhiều.
** Trên cở đó kiểm toán viên đưa ra những phương pháp áp dụng kỹ thuật kiểm
toán.
+ Nội dung kiểm toán: Khắc phục những tồn tại kiểm toán năm trước.
+ Phạm vi kiểm toán: Đối với hàng tồn kho dùng phương pháp chọn mẫu để
kiểm tra.
+ Xác địng trọng tâm kiểm toán: Chú ý các mặt hàng tồn kho chủ yếu, có giá tri
lớn, dễ có nhiều sai sót theo quan điểm của kiểm toán viên, những nghiệp vụ phát sinh
bất thường.
+ Yêu cầu về nhân lực: Bố trí kiểm toán viên thực hiện kiểm toán,
xuống một số kho hàng trọng điểm thực hiện quan sát vật chất, kiểm tra thủ tục
kiểm kê.
+ Kỹ thuật kiểm toán được áp dụng:
Nội dung công việc Người
thực hiện
Thời gian
1 2 3
1-Kiểm tra sự chấp hành các thủ tục kiểm soát nội bộ
hàng tồn kho

- Xác định hệ thống
- Tiến hành kiểm tra hệ thống

2- Khảo sát nghiệp vụ hàng tồn kho
- Thiết kế phạm vi kiểm toán: Khảo sát những


3.2.2.Kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- Chọn một số mặt hàng để kiểm tra chi tiết.
- Kiểm tra quá trình tập hợp chi phí.
- Kiểm tra quá trình đánh giá chi phí sản xuất
kinh doanh dở dang. Thực hiện kiểm toán:
Dựa trên cơ sở chương trình kiểm toán đã lập, kiểm toán viên tiến hành thực hiện
kiểm toán hàng tồn kho qua các bước cơ bản sau:
2.1.Khảo sát các quá trình kiểm soát chu trình hàng tồn kho và nghiệp vụ hàng tồn
kho.
- Trước hết kiểm toán viên tiến hành kiểm tra tính đầy đủ về số lượng báo cáo tài
chính, sự trình bày của sổ sách kế toán, qua đó đánh giá nề nếp công tác kế toán của
đơn vị kiểm toán. Để đảm bảo tính pháp lý của tài liệu kế toán, kiểm toán viên chỉ thực
hiện khi báo cáo kế toán và các sổ sách liên quan đã có ký duyệt của Giám đốc đơn vị,
Kế toán trưởng và những người có liên quan.Vì vậy trước khi tiến hành kiểm toán,
kiểm toán viên phải chú ý tới yếu tố pháp lý đầy đủ của báo cáo kế toán cũng như sổ
sách liên quan như sổ cái, bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn
- Kiểm toán viên thông qua việc quan sát, phỏng vấn, điều tra xem xét hệ thống
hàng tồn kho có được hạch toán chi tiết cho từng mặt hàng không. Có thực hiện đối
chiếu và xử lý chênh lệch giữa kết quả kiểm kê với sổ sách chưa.
- Xem xét việc quy định các chức năng, nhiệm vụ của từng người trong quản lý
hàng tồn kho đã phù hợp với quy định chưa.
2.1.1.Thực hiện các khảo sát quá trình kiểm toán chu kỳ hàng tồn kho
** Kiểm soát quá trình tiếp nhận, nhập kho và xuất kho

lượng, chất lượng, chủng loại, sản phẩm hỏng, phế liệu
+ Quan sát quy trình làm việc của bộ phận kiểm tra chất lượng ở phân xưởng,
tổ, độivà tính độc lập của bộ phận này với bộ phận kiểm nhận hàng nhập kho.
+ Xem xét việc lập báo cáo sản xuất phân xưởng.
+ Xem xét sự giám sát của những người có trách nhiệm trong việc kiểm kê và
đánh giá sản phẩm dở dang. Quá trình khảo sát kiểm soát chi phí tiền lương ở chu kỳ
tiền lương và nhân viên cũng là một phần liên quan đến khảo sát kiểm soát chi phí sản
xuất nói chung.
** Khảo sát quá trình bảo quản hàng tồn kho
Thông qua việc quan sát và thẩm vấn, kiểm toán viên khảo sát thu nhận những
bằng chứng về việc tổ chức bảo quản ở kho: kho của đơn vị được tổ chức ngăn nắp, an
toàn, khoa học. Thủ kho có năng lực, có trách nhiệm, có thể tin tưởng rằng hàng được
bảo quản tốt, an toàn của hàng tồn kho cao.
2.1.2. Khảo sát nghiệp vụ hàng tồn kho.
Để đánh giá khả năng sai sót trong quá trình hạch toán hàng tồn kho, kiểm toán
viên chọn những nghiệp vụ phát sinh lớn, có nghi vấn, đặc biệt đối với những nghiệp
vụ gần những ngày trước và sau khi lập báo cáo. Kết quả khảo sát các quá trình kiểm
soát và khảo sát nghiệp vụ, đoàn kiểm toán nhận thấy: việc tổ chức quản lý hàng tồn
kho đảm bảo nguyên tắc phân công, phân nhiệm, hầu hết các nghiệp vụ đã được phê
chuẩn đầy đủ; hệ thống sổ sách, chứng từ được trình bày đầy đủ và đúng quy định. Các
thủ tục để nhập kho kịp thời đã từng bước chấn chỉnh, đến nay đơn vị đã thực hiện đầy
đủ việc quản lý và hạch toán hàng tồn kho bằng máy tính, khắc phục được những tồn
tại năm trước. Do đó, kiểm toán viên quyết định giảm quy mô kiểm tra chi tiết hàng
tồn kho.
2.2. Kiểm tra chi tiết số dư hàng tồn kho.
Kiểm toán viên thường không thực hiện các thủ tục phân tích hàng tồn kho vì
ngành điện có rất nhiều biến động, không có định mức quy định rõ ràng cho các đơn vị
- Đối chiếu thẻ kho với sổ chi tiết để xem xét về mặt số lượng xem có sự trùng
khớp không.
- Đối chiếu sổ chi tiết với bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn và sổ cái để kiểm tra
chính xác về số cộng dồn.
** Đối với sản phẩm dở dang:
Do đặc thù của ngành điện, các đơn vị trực thuộc Công ty Điện lực I thường có 2
loại hình hoạt động kinh doanh, đó là:
* Hoạt động sản xuất kinh doanh (kinh doanh điện) : Đối với hoạt động này, chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang (TK154) là toàn bộ chi phí tập hợp trong kỳ cho sản
phẩm điện. Đơn vị không thực hiện xác định kết quả cho hoạt động này mà báo cáo
cho công ty thực hiện. Kiểm toán viên chỉ kiểm tra quá trình tập hợp chi phí cho hoạt
động này.
* Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh phụ: Đối tượng tính giá thành là từng
công trình, hợp đồng cung cấp cho khách hàng. Chính vì vậy, việc xác minh tính chính
xác và đầy đủ của khoản mục chi phí sản xuất kinh doanh dở dang là cơ sở để xác định
giá vốn hàng bán ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của từng đơn vị. Nên kiểm toán
chia theo từng loại hình hoạt động và trong mỗi loại hình chọn một số hợp đồng để
kiểm tra chi tiết.
** Quá trình tập hợp chi phí: Kiểm toán viên xem xét chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung khi tập hợp chi phí sản
xuất sản phẩm cho từng đối tượng sản phẩm cá biệt. Thông thường, kiểm toán viên
kiểm tra đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành đã phù hợp chưa. Có
những chi phí nào không thuộc phạm vi của chi phí sản xuất mà tập hợp vào chi phí
sản xuất hay không. Các phương pháp tính toán có nhất quán với kỳ trước không?
** Kiểm tra chi tiết đánh giá chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Trên cơ sở kiểm tra quá trình tập hợp chi phí, kiểm toán viên thực hiện tính toán
lại chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cho từng đối tượng.
- Đối chiếu, so sánh tỷ lệ chi phí sản xuất kinh doanh dở dang với định mức có

khâu viết, ghi chép trên phiếu đúng nguyên tắc.
- Một số phiếu xuất vật tư đã lập, nhưng các đơn vị trực thuộc chưa lấy vật tư kịp
thời. Điều này gây khó khăn cho việc khoá sổ kho và kế toán.
- Thủ kho chỉ xuất kho khi có phiếu xuất kho có đầy đủ các chữ ký theo quy
định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status