sản xuất chất giặt rửa công nghệ và thị trường - Pdf 10

Thông tin phục vụ lãnh đạo

sản xuất chất giặt rửa
công nghệ và thị trờng

Chịu trách nhiệm xuất bản
TS. TRần Kim Tiến Giấy phép xuất bản số 302/XB-BC cấp ngày 5/6/1985. Nộp lu chiểu tháng 11/2006 S¶n xuÊt chÊt giÆt röa

VINACHEM Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam
4Mở đầu
Công nghiệp sản xuất các chất giặt rửa (CCGR) là một nhánh công nghiệp
nhẹ quan trọng trong phục vụ dân sinh. Tại nhiều nớc, kể cả những nớc phát
triển, công nghiệp sản xuất CCGR chỉ đơn thuần mang tính gia công, nghĩa là
chỉ sản xuất các sản phẩm cuối dòng với nguyên liệu sản xuất phần lớn nhập
khẩu. Tuy nhiên có thể thấy mức đóng góp vào doanh thu công nghiệp cũng
không nhỏ khi so sánh với một số ngành khác, đồng thời hiệu quả về giải quyết
lao động cũng tơng đối tốt.
Có thể thấy rõ hiện nay trên thế giới công nghiệp sản xuất CCGR tập trung
vào một số công ty xuyên quốc gia mạnh nh Unilever, P&G, Henkel, v.vvà
sự phát triển công nghiệp sản xuất CCGR trên thế giới thực chất đều liên quan
đến sự phân phối thị trờng của các công ty này.
Tại nớc ta, sự phát triển công nghiệp sản xuất CCGR và sản phẩn chăm
sóc cá nhân (CSCN) đã có từ những năm 1950-1960 và đã phát triển tơng đối
mạnh từ những năm 1970, nhất là sau khi miền Nam đợc giải phóng. Tuy nhiên
chỉ từ khi có sự tham gia thị trờng CCGR của các công ty nớc ngoài nh
Unilever, P&G và một số công ty khác, công nghiệp này mới thực sự có sự bùng
nổ và thị trờng CCGR đã có sự phân chia, sắp xếp lại một cách rõ nét. Các công
ty nớc ngoài với thơng hiệu mạnh, tiềm lực công nghệ và tài chính lớn, tham
gia liên doanh với các nhà sản xuất trong nớc để đầu t sản xuất đã dần dần
chiếm lĩnh thị trờng. Hầu hết các nhà sản xuất trong nớc, kể cả quốc doanh,
tập thể và t doanh, đều buộc phải chấp nhận giải thể, chuyển hớng sản xuất
hoặc chấp nhận gia công sản phẩm cho các công ty liên doanh với nớc ngoài.

Lịch sử có ghi chép rằng ngời Babilon đã phát minh ra xà phòng từ 2800
năm trớc công nguyên, còn ngời Phoenic cũng biết làm xà phòng từ năm 600
trớc công nguyên. Ngời Ai Cập ngay từ thế kỷ thứ 8 trớc công nguyên đã biết
dùng khoáng chứa sôđa làm chất tẩy rửa. Một số nơi khác ng
ời ta cũng biết đốt
rong biển để lấy tro có chứa chất kiềm. Tuy nhiên loại chất tẩy rửa thông dụng
nhất vẫn là sản phẩm đi từ tro gỗ (Pôtát - potash hay còn gọi là pearlash)). Pôtát
chính là chất kiềm chứa kali có trong tro gỗ (hoặc tro thực vật nói chung) chủ
yếu chứa kali cacbonat (K
2
CO
3
).
Khi viết lịch sử thành La Mã cổ đại, Plini, một nhà sử học có viết rằng thời
đó ngời ta đã biết làm xà phòng từ mỡ dê và tro gỗ và còn biết độn thêm muối
bếp vào xà phòng để xà phòng cứng hơn. Trong thời kỳ này đã xuất hiện một số
cơ sở sản xuất xà phòng từ mỡ thải và tro củi.
Trong đống đổ nát của thành Pompêy, các nhà khảo cổ cũng phát hiện ra
dấu tích của một xởng nấu xà phòng. Khi đó dân trong thành có thói quen đến

6
tắm ở các nhà tắm công cộng, Tuy nhiên xà phòng lại cha đợc sử dụng trong
các nhà tắm tại đây.
Trong thời kỳ đầu tiên xà phòng còn đợc dùng để trị bệnh.
Xà phòng đã trở thành tơng đối phổ biến để giặt rửa trong thời kỳ cuối của
kỷ nguyên La Mã. Theo các nhà sử học, những ngời Xetic cũng biết làm xà
phòng và dùng xà phòng trong tắm giặt. Cũng có thể qua thời kỳ La mã và Xêtic
mà xà phòng đã trở nên phổ biến.
Sau khi Đế chế La Mã sụp đổ, ở Tây Âu cũng vẫn còn một vài xởng sản
xuất xà phòng. Trong Đế chế Bizantin, phần còn sót lại của thế giới La Mã ở khu

mổ vào mùa thu, xà phòng lại đợc sản xuất trong các trang trại để tận dụng số
mỡ thải. Tại các trang trại không giết mổ động vật, thì ngời ta sản xuất xà
phòng vào mùa đông để tận dụng tro sởi trong mùa đông và mỡ ăn thải gom
góp suốt năm.
Xà phòng đi từ nớc tro gỗ chính là xà phòng kali (xà phòng mềm).
Khi gỗ trở nên khan hiếm và do một vài tác động khác, công nghiệp sản
xuất tro gỗ ở châu Âu thoái trào. Tuy nhiên ở Mỹ ngành sản xuất tro gỗ vẫn còn
tiếp tục đến những năm 1830 và khi đó tro gỗ trở thành hạng mục xuất khẩu từ
Mỹ sang châu Âu.
Cũng vào thế kỷ 19 bằng phơng pháp Lơ Blăng (LeBlanc) ngời ta đã có
thể sản xuất đợc xút (natri hyđroxit-NaOH) đi từ nớc muối ăn. Từ đó xút đã
đợc áp dụng để sản xuất xà phòng cứng (xà phòng natri) mà không cần bổ sung
muối ăn nh trớc. Đến thời gian này xuất khẩu tro gỗ từ Mỹ mới thực sự đợc
chấm dứt.
Xút sản xuất theo công nghệ Lơ Blăng đã làm thay đổi đột ngột ngành công
nghiệp sản xuất xà phòng. Công lao lớn nhất của xút sản xuất công nghiệp là đã
hạn chế sự phá rừng lấy gỗ đốt tro, đồng thời tạo cho công nghệ sản xuất xà
phòng giảm nhiều công đoạn (xử lý tro, cô đặc nớc tro, loại bỏ tạp chất trong
nớc tro, v.v). Điều này đã làm cho công nghiệp sản xuất xà phòng phát triển
mạnh hơn, sản lợng tăng hơn và mẫu mã sản phẩm đa dạng hơn.
Đặc biệt từ Thế kỷ 19 trở đi, các loại xà phòng toilet (xà phòng thơm) đợc
phát triển rất mạnh. Cũng trong thời kỳ này thói quen tắm dùng xà phòng trở
thành mốt thời thợng, kéo theo mức tiêu thụ xà phòng tăng rất mạnh. Đây cũng
là thời kỳ sản xuất xà phòng chuyển từ "công nghệ huyền bí" sang một ngành
công nghiệp phát triển đầy đủ.
Đầu Thế kỷ 20, trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới Thứ I, bên cạnh xà
phòng truyền thống bắt đầu xuất hiện các loại chất giặt rửa tổng hợp. Trong
những thập niên cuối của thế kỷ 20 xà phòng vẫn đợc sản xuất rất rộng rãi ở
quy mô công nghiệp với sự phát triển rất đa dạng của chủng loại, mẫu mã từ các
loại dùng trong công nghiệp (nh công nghiệp dệt nhuộm, chế tạo cơ khí, điện

tính khử hoặc lẫn các hợp chất khoáng chứa kim loại có mầu (một số trong
chúng cũng có tính khử). Ngời ta dùng một số chất ôxy hóa mạnh để ôxy hóa
các chất bẩn có tính khử sau đó rửa lại vật liệu bằng nớc.
Các chất ôxy hóa truyền thống đợc dùng trong các phản ứng tẩy trắng là
khí clo (Cl
2
), nớc Javel hay natri hypoclorit (NaOCl), thuốc tím hay kali
pemanganat (KMnO
4
), nớc ôxy già hay hydro peoxit (H
2
O
2
), natri peoxit
(Na
2
O
2
), kali peborat tetra hyđrat (K
3
BO
3
4H
2
O), natri peborat

9
(NaBO
2
.H

[CH
2
C(OH)CH
2
(COOH)
3
]. Trong giặt rửa dân dụng, ngời ta thờng dùng nớc
ép từ quả chanh (chứa axit xitric).
Do hầu hết các chất ôxy hóa ít bền trong dung dịch nớc khi bảo quản, nên
chỉ có một số chất đợc sử dụng trong thành phần chất giặt rửa. Hóa chất thờng
đợc dùng là kali (hoặc natri) peborat. Cơ chế làm trắng của các chất ôxy hóa
mạnh là chúng ôxy hóa chất khử (có màu) và biến chúng thành chất không màu
trong phổ ánh sáng thấy đợc, đồng thời một số chất bẩn sau phản ứng ôxy hóa
khử cũng trở nên dễ tan trong nớc hơn và dễ dàng bị loại bỏ khỏi vật liệu khi
rửa bằng nớc.
Quá trình làm sạch hóa lý bao gồm nhiều quá trình làm sạch liên quan đến
quá trình tẩy rửa và làm sạch vật liệu có sử dụng các chế phẩm giặt rửa. Đó là
các quá trình hòa tan, tạo hiệu ứng bề mặt (tạo nhũ, tạo bọt), v.v
Đối tợng chủ yếu của quá trình làm sạch công nghiệp, gia dụng và chăm
sóc cơ thể chủ yếu là các chất bẩn chứa dầu mỡ. Hầu hết các vật liệu tự nhiên và
nhân tạo đều có ái lực mạnh với các chất dầu mỡ, nên các chất bẩn chứa dầu mỡ
có xu hớng bám chặt bề mặt, thậm chí ngấm sâu vào cấu trúc vật liệu.
Nớc là dung môi thông dụng, dễ kiếm đợc dùng để hòa tan và tẩy rửa các
chất bẩn a nớc (hyđrophilic). Nhng trong trờng hợp dầu mỡ, nớc không có
tác dụng tẩy rửa vì dầu mỡ thuộc loại kỵ nớc (hydrophobic). Các chất hoạt động
bề mặt (HĐBM) đợc đa vào trong thành phần chất giặt rửa có tác dụng thu
gom các chất dầu mỡ và lôi cuốn chúng vào trong pha nớc. Trên cơ sở đó có thể
tiếp tục dùng nớc để loại bỏ chất bẩn.
Cơ chế thu gom và lôi cuốn các chất dầu mỡ của chất HĐBM có thể đợc
mô tả khái quát nh sau:

triển.
Các chất HĐBM dạng anion tan và ion hoá trong dung dịch nớc, tạo ra
anion hữu cơ gây hiệu ứng HĐBM. Thuộc về nhóm này có rất nhiều hợp chất
nh xà phòng, các axit nhựa, alkyl (hoặc olefin) sunfonat, alkyl sunfat,
alkylbenzensunfonic (muối natri hoặc kali), alkan sunfonat và các alcol oxyetyl
sunfat (sunfoeste), alkylpolyete sunfat, v.v
Hiện nay trong sản xuất CCGR ngời ta hay sử dụng xà phòng, lauryl
sunfat, muối natri của các axit alkylaryl sunfonic nh dodexybenzensunfonic
(DBSA) và alkylbenzensunfonic mạch thẳng (LAS).
2. Các chất HĐBM cation: Là các chất HĐBM khi ion hoá trong dung dịch
nớc sẽ tạo ra các cation hữu cơ.
Thuộc nhóm này có các muối amin béo (R-NH
3
+

X
-
), bazơ amoni bậc 4 (R-
N
+
X
-
) và một số loại khác. Các loại chất HĐBM cation thờng chỉ đợc dùng
trong một số trờng hợp pha chế các loại chất tẩy rửa đặc biệt dùng trong công
nghiệp.
3. Các chất HĐBM nonion bao gồm các chất hoà tan nhng không phân ly
thành ion trong dung dịch nớc.
Khả năng hoà tan trong nớc là do trong phân tử có chứa các nhóm chức có
tơng tác với nớc nh các este polyglycol hoặc alcol béo (chứa nhóm OH),
axit béo (chứa nhóm COOH), alkylphenol, oxit etylen (chứa nhóm -O-) các este

hàm lợng nhỏ, v.v
Khi tan trong nớc, saponin tạo bọt và có tính tẩy rửa. Nớc chiết của quả
bồ kết có chứa saponin do đó có tính chất giặt rửa nhẹ, không chứa kiềm nên
ngoài dùng trực tiếp để gội đầu ngời ta còn dùng trong sản xuất dầu gội đầu
(shampoo) hoặc cho mục đích giặt rửa và CSCN.
Ngoài ra nớc chiết của quả bồ kết còn đợc dùng trong công nghệ ảnh
(nhũ tơng ảnh) và công nghệ nấu bia (tạo bọt).
Saponin còn đợc dùng để chữa bệnh (kháng khuẩn hoặc dùng để kiểm soát
hàm lợng cholesterol trong máu). Trong một số loại saponin có chứa sapotoxin
khá độc khi nuốt phải.
Nói chung các chất HĐBM nguồn gốc tự nhiên nh saponin ít đợc sử dụng
để sản xuất CCGR ở quy mô công nghiệp trừ sản xuất shampoo.
Sử dụng các chất HĐBM nguồn gốc tự nhiên không gây ra nhiều ảnh hởng
đến môi trờng do các hợp chất này dễ phân hủy sinh học.
Xà phòng là chất HĐBM có nguồn gốc bán tự nhiên đi từ dầu, mỡ động
thực vật thông qua một số quá trình xử lý hoá học.
Nh đã trình bày ở phần trên, xà phòng là chất HĐBM phổ biến nhất thuộc
nhóm này, đợc con ngời biết đến và sử dụng từ thời tiền sử.
Các nguyên liệu gốc để sản xuất xà phòng ban đầu là mỡ động vật (dê,
cừu, lợn, bò, cá) dới dạng chất thải của quá trình giết mổ, chế biến thực phẩm
hoặc mỡ d thừa thải thu gom trong quá trình nấu nớng, hoặc dầu thực vật (đầu
tiên là dầu ô liu) và nớc tro gỗ (hoặc về sau này là xút).

13
Trong những thời kỳ tiền sử và trung thế kỷ, để có nguyên liệu dầu mỡ đạt
yêu cầu ngời ta phải tiến hành xử lý dầu mỡ (làm sạch các tạp chất).
Mỡ động vật sau giết mổ đợc rán để chắt lọc lấy phần mỡ lỏng và loại bỏ
phần bã rắn. Mỡ tiết kiệm trong quá trình nấu nớng cũng đợc nấu chảy lại để
loại bỏ các tạp chất rắn.
Trong quá trình nấu lại mỡ ngời ta phải thêm một lợng tơng đơng nớc

RSO
2
Cl RSO
3
Na

+ NaOH
- NaC
l14
Sau năm 1930 nhóm các alkyl (mạch dài) benzensunfonat đợc sử dụng,
nhất là axit dodexybenzensunfonic (DBSA).
Việc sử dụng hợp chất tạo bọt tổng hợp đã gây ra một số vấn đề về môi
trờng nh bọt nổi trên các dòng sông tăng lên khi nớc thải của các khu dân c
và công nghiệp đổ vào. Nhất là việc sử dụng các chất tạo bọt nhóm axit
alkylarylsunfonic mạch nhánh (nh DBSA) khó phân huỷ sinh học thì vấn đề
càng thêm trầm trọng. Đây là một trong những vấn đề đặc biệt nóng về môi
trờng ở châu Âu ngay từ thập kỷ 1950.
Các chất HĐBM nhóm alkylaryl sunfonat mạch thẳng (LAS) dễ phân huỷ
sinh học hơn đã đợc sử dụng thay thế các chất HĐBM dạng cũ trong sản xuất
CCGR.
Tuy việc thay thế các chất HĐBM khó phân huỷ sinh học bằng chất dễ phân
huỷ sinh học hơn đã đợc đề cập từ năm 1956, song phải đến tháng 7/1965 Mỹ
mới là nớc đi tiên phong trong việc thay thế DBSA bằng LAS, lauryl sunfat
hoặc các chất HĐBM dễ phân huỷ sinh học khác. Tiếp theo, Anh cũng đa ra
một hiệp ớc về vấn đề này. Ngoài u điểm về dễ phân huỷ sinh học, LAS còn tỏ
ra có hiệu lực hơn 10% so với DBSA và một số tính năng có lợi khác trong sản
xuất bột giặt.


Alkybenzen mạch nhánh
Từ alkyl benzen có thể tổng hợp axit alkylbenzen sunfunic theo con đờng
sunfonic hóa bằng SO
3
có xúc tác axitsunfuric: 15
R-C
6
H
5
+ SO
3
(sunfonic hóa xúc tác) R- C
6
H
4
- SO
3
H
Axit alkylbenzen sunfonic
Sau đó trung hòa để tạo muối natri:

R- C
6
H
4
- SO

chất tẩy trắng.
Hiện nay hãng Kemira Chemicals (Phần Lan) là nhà sản xuất lớn nhất thế
giới về chất tẩy trắng, trong dó có pecacbonat. Hãng này có cơ sở sản xuất
pecacbonat công suất 45 nghìn tấn /năm tại Helsingborg (Thuỵ Điển).
- Chất phát quang là chất thờng đợc dùng trong thành phần bột giặt, nhất
là các loại bột giặt cao cấp với tỷ lệ khoảng 0,5%. Thờng dùng làm các chất
phát quang quang học là các dẫn xuất của stiben, diphenyl, pyrazolin [nh
transtriazinaminostiben, blankopho BHC, 4,4-bis (3,5 diphenyl-6-natri
sunfonat-benzofuran)diphenyl], v.v
Các chất phát quang không có tác dụng tẩy rửa nhng có khả năng chuyển
các tia cực tím của quang phổ thành các tia huỳnh quang màu lục lam thuộc
vùng khả kiến và làm cho vải có vẻ trắng hơn.
IV.1.3. Nhóm các chất nền (builder), tạo môi trờng và làm mềm nớc
Thuộc về nhóm này có các muối tan nhóm phốt phát, sunfat, clorua, silicat,
v.v
- Natri tripolyphotphat (Na
5
P
3
O
10
) đã đợc dùng rất rộng rãi trong sản xuất
CCGR trong những thập niên cuối thế kỷ trớc, nhất là trong những năm 1950-
1970. Trong thời kỳ này lợng natri tripolyphôtphat sử dụng trong sản xuất
CCGR trên thế giới tăng vọt, từ 102 nghìn tấn vào năm 1944 lên 109 triệu tấn
vào năm 1970 (tăng trên 1000 lần).
Ngoài tác dụng tạo môi trờng, vai trò chủ yếu của natri tripolyphôtphat là
khử độ cứng (ion canxi, magie) và ion sắt, nhôm trong nớc giặt. Khi nớc giặt
có độ cứng cao (nhiều ion canxi, magie) và có nhiều sắt, nhôm thì chất tạo bọt bị
mất hiệu lực do các ion này liên kết với phân tử chất tạo bọt thành các hợp chất

17
Trong thành phần CCGR tổng hợp, natri tripolyphôtphat chiếm 30-50%
(bột giặt) hoặc thấp hơn đối với kem giặt.
Ngoài natri tripolyphôtphat, trong sản xuất CCGR ngời ca có thể dụng các
muối phốt phát khác nh các muối natri octophôtphat hoặc pyrophôtphat. Song
các loại muối này thờng hút ẩm cao và làm cho bột giặt dễ bị vón cục khi lu
trữ.
Vấn đề ảnh hởng của phốt phát trong chất giặt rửa đối với môi trờng nớc
(làm phú dỡng môi trờng nớc và kích thích sự phát triển của các loài thuỷ
sinh) đã đợc đề cập từ cuối thập kỷ 1960. ảnh hởng tiêu cực này đã buộc các
nhà sản xuất phải nghiên cứu sản xuất các CCGR không chứa phốt phát. Vì vậy
sau những năm 1970, lợng các muối phốt phát sử dụng trong sản xuất CCGR có
xu hớng giảm dần.
Tại một số nớc châu Âu (nh ý và Đức), ngời ta đã sản xuất các CCGR
(chủ yếu là bột giặt) hoàn toàn không chứa phốt phát và những nớc này cũng áp
dụng lệnh cấm sử dụng muối chứa phốt phát trong thành phần CCGR.
Một số nớc Bắc Âu (Na Uy, Thuỵ Điển) ngời ta thay thế natri
tripolyphôtphat bằng axit nitrilo triaxetic (NTA). Tuy nhiên, theo các chuyên
gia, hợp chất này cũng lại gây phú dỡng đạm (nitơ).
Hiện nay để thay thế các muối phốt phát, ngời ta nghiên cứu sử dụng các
zeolit. Đây là nhóm phụ gia vô cơ thuộc nhóm aluminosilicat. Cấu trúc đặc biệt
của các zeolit cho phép có thể dùng vật liệu này trong nhiều lĩnh vực công nghệ
khác nhau, nhất là trong lĩnh vực xúc tác, lọc hoá dầu, v.v
Trong lĩnh vực sản xuất CCGR, các zeolit đợc dùng nh chất hấp thụ các
cation có trong nuớc cứng, góp phần làm mềm nớc. Ngoài zeolit, trong sản
xuất CCGR ngời ta còn dùng kết hợp cả các vật liệu nhóm aluminosilicat khác
nh bentonit, hoặc dùng kết hợp zeolit với natri tripolyphôtphat.
Thực tế đã có hàng trăm đơn bột giặt đợc sản xuất có dùng zeolit.
- Natri silicat (thủy tinh lỏng) cũng là nguyên liệu rất quan trọng trong sản
xuất CCGR. Nguyên liệu này có tác dụng tạo môi trờng, làm giảm độ ăn mòn

xuất thấp nhng thu đợc sản phẩm có chất lợng tơng đối cao với giá thành
thấp hơn sản xuất theo công nghệ khô.
Với công nghệ ớt vẫn có thể sản xuất đợc sản phẩm natri silicat có
môđun và tỷ trọng khác nhau tuỳ theo yêu cầu sử dụng.
Dới đây là sơ đồ công nghệ sản xuất natri silicat của hãng Hangzhou Asia
Chemical Engineering Co.,Ltd. (Trung Quốc). Công nghệ này dùng NaOH 30%,
hơi 0,7-0,8 MPa (6,9-7,8 at). Natri silicat nhận đợc có nồng độ Na
2
O> 9,5%;
SiO
2
> 22,1% (môđun 2,2-2,5); tỷ trọng 1,368-1,394.

Hình 3. Sơ đồ công nghệ ớt sản xuất natri silicat của hãng Hangzhou Asia
Chemical Engineering Co.,Ltd. (Trung Quốc)

19
Để sản xuất natri silicat theo công nghệ khô ngời ta dùng nguyên liệu là
cát thạch anh và sôđa. Cát và sôđa đợc phối liệu theo tỷ lợng (thờng cho d
sôđa) và nung trong lò bằng ở nhiệt độ 1500
o
C. Có thể gia nhiệt cho lò một cách
gián tiếp dùng nhiên liệu than đá hay trực tiếp bằng dầu FO (hoặc gas).
Phản ứng xẩy ra nh sau:
SiO
2
+ Na
2
CO
3

nh trên hoặc vẫn để tồn tại dới dạng rắn (bột, cục) để tùy theo nhu cầu sử dụng
mà có thể đợc xử lý tiếp.
Sơ đồ công nghệ sản xuất natri silicat theo phơng pháp khô đợc trình bày
trong Hình 4.

Hình 4. Sơ đồ công nghệ sản xuất natri silicat theo phơng pháp khô
- Natri sunfat (Na
2
SO
4
): Chất này vừa có tác dụng giặt rửa nhẹ, tăng lợng
ion điện ly, làm tăng độ đặc của kem giặt, cải thiện tỷ trọng của kem giặt, cũng
có tác dụng liên kết với ion canxi có trong nớc giặt, giảm sức căng bề mặt của
nớc giặt, đồng thời còn đóng vai trò của một chất độn giá rẻ.

20
Nguyên liệu Na
2
SO
4
thờng là sản phẩm phụ của nhiều quá trình công
nghệ sản xuất hóa chất, vì vậy thờng có giá rẻ. Hầu nh ngời ta không đặt vấn
đề sản xuất sản phẩm này.
- Sôđa (Na
2
CO
3
): Là một trong những nguyên liệu quan trọng trong sản
xuất CCGR tổng hợp. Ngoài tác dụng khử độ cứng của nớc và duy trì hiệu lực
của các chất tạo bọt, sôđa còn có tác dụng giặt tẩy.

CMC có tác dụng nhũ hóa các chất bẩn trong dung dịch, ngăn chất bẩn
không bám trở lại và làm tăng độ tẩy trắng của sợi vải.
- Chất tạo hơng:
Đây là nhóm hỗn hợp các hợp chất có mùi thơm đợc sử dụng để tạo mùi
thơm đặc trng cho sản phẩm. Các chất thơm sử dụng phải là các chất thơm bền
trong môi trờng kiềm, bền với chất ôxy hóa, với ánh sáng và với các tác nhân
khác có trong thành phần CCGR. Vì vậy các este thơm ít đợc sử dụng do ít bền
kiềm.
Trong thành phần phân tử các hợp chất thơm thờng chứa các nhóm chức
alcol, xeton, aldehyt và các chất thơm có nguồn gốc thiên nhiên.
- Chất chống ánh nắng:

21
Là các chất đa vào để bảo vệ mầu sắc của vải sợi khi phơi nắng. Các chất
này có tác dụng hấp thụ năng lợng của các tia tử ngoại trong ánh nắng và bảo
vệ phân tử các chất màu. Một trong các chất thờng dùng vào mục đích này là
Ciba- 95 có cấu tạo:
NH
NNHR
2
NH
SO
3
Na
SO
3
Na
NH
N
CO


22
Do các phản ứng xúc tác của enzym thờng xẩy ra chậm và giá thành sản
phẩm giặt rửa sử dụng enzym thờng cao (do giá enzym đắt) nên việc sử dụng
enzym bị hạn chế. Tuy nhiên việc sử dụng enzym vẫn là một cuộc cách mạng lớn
trong sản xuất các chất giặt rửa vào những năm gần đây.
Tuy nhiên theo các nhà chuyên môn, tơng lai của enzym trong sản xuất
chất giặt rửa không sáng sủa lắm do đã nẩy sinh không ít vấn đề. Hiện tại một số
nhà sản xuất chất giặt rửa bắc Âu (vùng Scanđinavơ) đã quyết định rút enzym ra
khỏi thành phần phối liệu bột giặt, trong khi đó phần lớn các nhà sản xuất bột
giặt vẫn tiếp tục sử dụng enzym.
IV.2. Sản phẩm và công nghệ sản xuất một số sản phẩm giặt rửa
Trong thời kỳ Trung thế kỷ trở về trớc, xà phòng là sản phẩm duy nhất
đợc sản xuất và sử dụng cho mục đích giặt rửa.
Từ thế kỷ 20 đến nay ngoài xà phòng, còn ra đời rất nhiều loại sản phẩm
giặt rửa tổng hợp khác nhau nh các loại kem giặt, bột giặt. Trong mấy năm gần
đây các loại dung dịch tẩy rửa, nớc giặt đậm đặc đã đợc nghiên cứu phát
triển mạnh và chiếm thị phần ngày càng lớn trong thị trờng hoá mỹ phẩm.
Nhìn chung trong một đơn pha chế CCGR có chứa các thành phần chủ yếu sau:
- Chất HĐBM (surface active agent);
- Chất tạo môi trờng và khử cứng (builder);
- Chất tẩy trắng (bleacher) và phát (huỳnh) quang (fluorescent Agent);
- Chất phân tán, tạo nhũ, chống lắng (ví dụ glyxerin, CMC);
- Chất làm ớt;
- Các chất phụ gia khác nhau để tạo các tính năng theo yêu cầu (mầu, mùi,
chất bảo quản, diệt khuẩn), v.v
- Chất độn trơ, v.v
ứng với mỗi một loại sản phẩm, đáp ứng với giá thành và thị hiếu khách
hàngmà nhà sản xuất nghiên cứu và áp dụng các đơn phối liệu và công nghệ
gia công thích hợp.

-COO K (Na) CH
2
OH

R
2
-COO-CH + KOH (NaOH) R
2
-COO K (Na) + CHOH

R
3
-COO-CH
2
R
3
-COO K (Na) CH
2
OH

Mỡ(dầu) Kiềm Xà phòng Glyxerin

Trớc đây khi cha có xút, để sản xuất xà phòng các nhà sản xuất đã trộn
hỗn hợp mỡ (dầu) với nớc kiềm (nớc tro chứa K
2
CO
3
) và nấu.
Trong quá trình nấu, K
2

thêm vào nguyên liệu xà phòng các chất tạo mầu, chất thơm, chất dỡng da và
một số phụ gia khác (nh propylenglycol, axit stearic) để làm cho sản phẩm
xà phòng có các tính năng cần thiết.
Dung dịch muối chứa glyxerin đợc xử lý để tách glyxêrin dùng trong
nhiều ngành công nghiệp khác nhau.
Ngày nay để sản xuất các loại xà phòng thơm cao cấp, các loại dầu (mỡ)
thờng đợc xử lý trớc bằng cách thủy phân để tạo ra các axit béo. Từ axit béo
sẽ sản xuất xà phòng. Trên cơ sở đó có thể hoàn toàn kiểm soát đợc tỷ lệ các
axit béo tham gia vào phản ứng xà phòng hóa, đồng thời sẽ nhận đợc sản phẩm
xà phòng tinh khiết hơn so với trờng hợp nấu trực tiếp bằng mỡ (hoặc dầu), nhất
là trong trờng hợp sử dụng các loại mỡ (hoặc dầu) chất lợng thấp.
Glyxerin trong thành phần các axit béo sẽ đợc thu hồi ngay trong công đoạn
thủy phân nên cũng rất tinh khiết, nếu xử lý thêm có thể nhận đợc loại d
ợc dụng.
Xà phòng sau khi đợc phối trộn sẽ đợc cán đùn và tạo khuôn (ép viên, thỏi).
Quá trình sản xuất các axit béo và xà phòng đợc trình bày tại Hình 5.

2526

Trích đoạn Các nhà sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status