tình hình thị trường, khai thác và chế biến muối mỏ kali trên thế giới, triển vọng phát triển tại việt nam - Pdf 10


ĐỀ TÀI

Tình hình thị trường, khai
thác và chế biến muối mỏ
kali trên thế giới, triển vọng
phát triển tại Việt Nam

I. MỞ ĐẦU 5
II. THỊ TRƯỜNG CÁC SẢN PHẨM KALI 6
1. Lĩnh vực sử dụng 6
2. Thị trường phân kali trên thế giới 7
3. Cung cầu phân kali trên thế giới 10
4. Thị trường phân kali tại Việt Nam 10
Dự kiến năm 2005 11
5. Giá KCl trên thế giới và tại Việt Nam 11
III. TRỮ LƯỢNG, TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SẢN XUẤT
MUỐI KALI TRÊN THẾ GIỚI 14
1. Trữ lượng kali trên thế giới 14
Mỹ 19
Canađa 19
CHLB Đức 20
Các nước Liên Xô cũ 20
Thái Lan 20
2. Năng lực sản xuất muối mỏ kali trên thế giới 20
Canađa và Mỹ 21
Nga và Belarus 21
Đức 21
Gioocđani 22
3. Một số mỏ muối kali lớn trên thế giới 23
IV. CÔNG NGHỆ KHAI THÁC VÀ TUYỂN QUẶNG KALI 28

( Trung Quốc),v.v.
Nhiều mỏ quặng kali trên thế giới đã được phát hiện trong quá trình
thăm dò khai thác dầu mỏ trong những môi trường trầm tích. Hầu hết
các mỏ quặng kali đều có những đặc điểm địa tầng chung, như nguyên
liệu dạng "đá mềm" với các tính chất cơ học tương tự nhau, có các lớp
đá trầm tích che phủ bên trên, v.v.
Những loại khoáng kali có ý nghĩa kinh tế quan trọng nhất là sylvinit,
sylvit, langbeinit, kainit và carnalit. Ở nhiều mỏ quặng kali trên thế giới,
như mỏ Saskatchewan ở Canađa (cho đến nay là mỏ kali lớn nhất thế
giới), quặng chủ yếu là sylvinit. Đây là hỗn hợp các tinh thể sylvit
(KCl) và halit (NaCl) riêng rẽ, cùng với những kết tủa không tan như
đất sét, cát, đôlômit (magiê-canxi cacbonat), hematit (sắt oxit) và
anhydrit (canxi sunfat).
Trong các loại quặng kali, sylvinit là loại quặng dễ chế biến nhất.
Thông thường nó được khai thác và tinh chế với những lượng lớn để
sản xuất KCl. Các sản phẩm phụ trong quá trình khai thác, chế biến
quặng này là các muối NaCl và MgCl
2
, chúng được sử dụng làm
nguyên liệu sản xuất các hoá chất cơ bản phục vụ cho nhiều ngành
công nghiệp khác nhau.

II. THỊ TRƯỜNG CÁC SẢN PHẨM KALI
1. Lĩnh vực sử dụng
Khoảng 95% mức tiêu thụ kali trên thế giới phục vụ cho sản xuất các
loại phân bón. Phần còn lại được sử dụng để sản xuất kali hydroxit và
các hoá chất trung gian khác cho các ngành công nghiệp như sản xuất
thuỷ tinh, chất tảy rửa, chất dẻo và dược phẩm.
Kali clorua (KCl) là loại phân kali thông dụng nhất. Kali sunfat
(K

Á
Các
nước
khác
Tổng
số
1960 4,4 0,77 2,3 0,1 0,81 0,1 8,48
1970 7,34 2,57 4,65 0,23 1,25 0,25 16,29
1980 8,33 4,9 7,93 0,37 2,56 0,3 24,39
1990 6,59 5,61 6,87 0,44 5,21 0,34 24,61
1995 4,9 0,94 7,41 0,4 6,35 0,55 20,55
2000 4,2 0,74 8,12 0,44 7,91 0,74 22,15

Thị trường phân kali tại châu Á
Nhu cầu phân kali tại châu Á hiện nay khá cao và đang tăng nhanh.
Tiêu thụ phân kali trong khu vực đã tăng đến khoảng 9,1 triệu tấn (quy
theo K
2
O) trong năm 2003. Nhu cầu tại đây tăng với tốc độ cao hơn (5-
5,6%/năm) so với mức trung bình toàn thế giới (2%/năm), nhưng năm
2003 đã có bước tăng đột biến 11% so với 2002. Trong thời kỳ 1993-
1994, tiêu thụ phân kali tại châu Á mới chiếm khoảng 23 % tổng mức
tiêu thụ toàn cầu, thì đến 2004-2005 đã chiếm 37 % và dự báo sẽ tăng
đến 40% vào thời kỳ 2005-2006.
Hiện nay, Trung Quốc (TQ) là nước tiêu thụ phân kali lớn nhất ở châu
Á, chiếm 43% tổng nhu cầu tại châu lục này, tiếp theo là Ấn Độ chiếm
19 %, Malayxia chiếm 9 %. Các nước khác như Nhật Bản, Inđônêxia,
Hàn Quốc cũng tiêu thụ những lượng phân kali lớn.
TQ cũng sẽ tiếp tục là nước có mức tăng nhu cầu kali nhanh nhất ở
châu Á. Dự báo, nhu cầu phân kali của nước này trong 10 năm tới có

dưỡng K
2
O) như sau :
Đơn vị: 1000 tấn
Giai đoạn
Nhu cầu chất dinh
dưỡng K
2
O
Nhu cầu
phân KCl
2001-2005 534 890
2006-2010 598 996
2011-2015 669 1115

Như vậy, theo dự báo thì vào thập niên tới nhu cầu phân bón KCl ở
nước ta sẽ vượt ngưỡng 1 triệu tấn/năm.
Tình hình nhập khẩu phân KCl của Việt Nam:
Hiện nay Việt Nam đang phải nhập khẩu toàn bộ KCl với số lượng như
sau:
Đơn vị: tấn
Năm 2000 Dự kiến năm 2005
531.000 600.000 5. Giá KCl trên thế giới và tại Việt Nam
5.1.Trên thế giới
Trong hơn 10 năm qua, giá phân KCl (loại tiêu chuẩn) xuất khẩu từ
Canađa, nước sản xuất phân kali lớn nhất thế giới, dao động ở mức
107-120 USD/tấn (FOB tại cảng Vancuvn

6 3,360 25,0 17,5
8 2,380 73,0 53,0
10 1,680 97,0 88,0 7,0
14 1,190 99,5 98,8 29,0
20 0,841 99,5 50,0 0,2
28 0,600 99,7 78,0 1,0
35 0,420 87,0 16,0
65 0,210 98,0 77,0
100 0,149 93,0

5.2. Tại Việt Nam
Giá phân kali clorua tại Việt Nam (CIF Hải Phòng) tháng 11/2003 ở
mức 141 USD/tấn và tháng 3/2004: 150-160 USD/tấn (dạng bột) và
180-190 USD/tấn (dạng hạt).
Hiện nay giá mua KCl ở mức khoảng 150 USD/tấn (FOB cảng
Vancuvơ, Canađa) và giá nhập đến Việt Nam (CIF Thành phố Hồ Chí
Minh) khoảng 210-220 USD/tấn.

III. TRỮ LƯỢNG, TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SẢN XUẤT
MUỐI KALI TRÊN THẾ GIỚI
Trong khi phân đạm có thể được sản xuất từ bất cứ nguồn nhiên liệu
hoá thạch nào và phân lân có thể được sản xuất từ quặng phôtpho được
phân bố khá rộng rãi trên thế giới, thì khả năng sản xuất phân kali
tương đối bị hạn chế, vì chỉ rất ít quốc gia có quặng chứa kali. Hiện nay,
chỉ 15 nước trên thế giới có trữ lượng quặng kali quy mô lớn và có
ngành sản xuất phân kali với sản lượng đáng kể, tập trung chủ yếu ở
châu Âu, châu Mỹ, Trung Đông. Nhưng một số nước (ví dụ Pháp) đã
khai thác gần hết trữ lượng quặng kali của mình, một số nước khác
hoặc sẽ gặp phải những trở ngại kỹ thuật nếu muốn tăng sản lượng
phân kali. Ví dụ, một số mỏ muối kali của Canađa đang gặp khó khăn

Kainit
Hanksit

Sunfat:
Polyhalit
Langeinit
Leonit
Schoenit
Krugit
Glaserit
Syngenit
Aphthitalit
Kalinit
Alunit

Hỗn hợp KCl.NaCl
KCl
KCl.MgCl
2
.6HÂÂ
2
O
4KCl.4MgSO
4
.11HÂÂ
2
O
KCl.9Na
2
SO

4
.MgSO
4
.4HÂÂ
2
O
K
2
SO
4
.MgSO
4
.4HÂÂ
2
O
K
2
SO
4
.MgSO
4
.4CaSO
4
.2HÂ-
Â
2
O
3K
2
SO

.24HÂ
Â
2
Okhoảng 28
63,1
17
18,9
3 15,5
22,6
25,5
23,3
10,7
42,6
28,8
29,8
9,9
11,4
Trữ lượng quặng kali tại các nước trên thế giới như sau :

Nước
Trữ lượng quặng kali (triệu tấn
K
2
O)

Các mỏ muối kali tại các nước SNG chủ yếu là carnalit nên chi phí tinh
chế cao.
TQ là nước tiêu thụ phân kali lớn thứ hai trên thế giới (sau Mỹ), nhưng
bản thân nước này chỉ có trữ lượng muối kali không lớn, chủ yếu là
nguồn muối kali ở hồ nước muối Quarhan.
Ngoài những mỏ ngầm dưới lòng đất và mỏ nước muối, còn một lượng
kali rất lớn nằm trong nước biển các đại dương, nhưng hiện nay việc
khai thác không có hiệu quả kinh tế cao.

Chất lượng muối mỏ kali ở một số nước như sau :

Quốc gia
Hàm lượng K
2
O
(% khối lượng)
Hàm lượng KCl
(% khối lượng)
Mỹ
18-25 28,5-39,6
Canađa
18-25 28,5-39,6
CHLB Đức
10-20 15,8-31,7
Các nước Liên Xô cũ
10-22 15,8-34,9
Thái Lan
16-27 -
Chất lượng muối mỏ kali của các nước khác nhau chủ yếu là do
các nước có các chủng loại khoáng sản chứa kali khác nhau và hàm

Năng lực sản xuất
(triệu tấn)
Canađa và Mỹ
13
Nga và Belarus
12
Đức
3
Gioocđani
1,2
Nhìn chung Bắc Mỹ, Đông âu - Liên Xô cũ và khu vực Trung đông có
năng lực sản xuất kali cao hơn nhu cầu tiêu thụ, trong khi đó ở châu Á,
Mỹ La tinh năng lực sản xuất thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu tiêu thụ.
Riêng châu Đại dương và châu Phi nhu cầu không lớn và cũng chưa
sản xuất kali.
Năm 2000, sản lượng KCl của TQ tăng 11,5 %, đạt 480.000 tấn. Công
ty Quinghai Yanhu Potash Fertilizer Co. Ltd. đã vay vốn 57 triệu USD
để thực hiện dự án sản xuất 300.000 tấn KCl/năm ở tỉnh Thanh Hải
phía Tây Bắc nước này.
Có thể thấy, các nước Bắc Mỹ, Belarus và Liên bang Nga chiếm thị
phần xuất khẩu lớn nhất trên thế giới.
Canađa, Belarus và Nga cũng chiếm thị phần lớn nhất ở các thị trường
châu Mỹ La tinh, châu Á và châu Đại dương, trong khi đó châu Phi chủ
yếu nhập sản phẩm của Đức, Belarus và Nga.
Nhìn chung, nhu cầu tiêu thụ phân kali ở các nước Liên Xô cũ đã giảm
nhiều và giữ ổn định ở mức khoảng 2 triệu tấn KCl/năm vào thập kỷ 90,
trong khi năng lực sản xuất rất lớn (khoảng 15 triệu tấn KCl/năm), do
đó phần lớn sản phẩm sản xuất ra đều được xuất khẩu.
Như vậy trong năm 2003 lượng kali phục vụ cho nhu cầu trong nước
của các nước sản xuất kali chỉ chiếm 18% so với lượng kali xuất khẩu

lượng xuất khẩu của mỏ, 43 % được xuất khẩu sang các châu lục khác,
chỉ có 5 % được tiêu thụ trực tiếp tại Canađa.
Năm 2005, công ty Potash Corporation (hiện đang khai thác quặng kali
ở Saskatchewan) đã có kế hoạch đầu tư 275 triệu USD để tăng sản
lượng lên thêm 1,9 triệu tấn/năm.
3.2. Mỏ Udon, Thái Lan
Mỏ kali Udon Thái Lan gồm hai mỏ chính là mỏ Udon Bắc và mỏ
Udon Nam. Ước tính, tài nguyên đã khảo sát của mỏ Udon Bắc đạt 175
triệu tấn với hàm lượng trung bình 19,0 % K
2
O, độ dày vỉa quặng trung
bình 12 m. Ngoài ra, dự đoán còn có khoảng 490 triệu tấn quặng chưa
thăm dò với hàm lượng trung bình 16,5 % K
2
O và độ dày trung bình 12
m.
Mỏ Udon Nam có tài nguyên quặng kali ước tính khoảng 302 triệu tấn
với hàm lượng trung bình 23,5 % K
2
O, vỉa quặng dày 3,5 m và nằm sâu
dưới mặt đất 350 m. Các nguồn quặng đã khảo sát bao gồm cả 30 triệu
tấn quặng với hàm lượng 26,8 % K
2
O trong vùng lõi giá trị cao, dày 7,2
m.
Cuối tháng 5/2003, công ty Asia Pacific Potash Corporation (APPC) đã
nộp đơn xin khai thác khu mỏ kali Nam Udon với tổng diện tích 3600
ha, trong đó diện tích mỏ dưới mặt đất khoảng 2500 ha. Như vậy, sau
10 năm tưởng chừng bị trì hoãn vô hạn bởi các thủ tục giấy tờ và các
vấn đề tài chính, dự án khai thác quặng kali của công ty tại vùng Udon


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status