Tài liệu TIỂU LUẬN: Giải pháp đa dạng hoá các phương thức cho vay tại NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây - Pdf 10

TIỂU LUẬN:
Giải pháp đa dạng hoá các
phương thức cho vay tại
NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây LỜI NÓI ĐẦU

1- Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Nước ta là một nước nông nghiệp, bước vào thời kì phát triển mới đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu: ‘‘Xây dựng nước ta thành một nước công
nghiệp, có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần, quốc phòng an
ninh vững mạnh, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh” Đảng ta đã nhấn mạnh
nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn liền với
công nghiệp chế biến các loại sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản. Những nội dung đó trong những
năm đầu của thế kỷ XXI vẫn còn là nhiệm vụ to lớn của toàn Đảng và toàn dân.
Hà Tây là một tỉnh có tiềm năng kinh tế lớn, đặc thù của tỉnh chủ yếu vẫn là sản xuất

đa dạng hoá các phương thức cho vay của mình, đặt vấn đề chất lượng các khoản vay lên
hàng đầu để có thể đáp ứng ngày càng tốt hơn sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá
đất nước.
Việc đa dạng hoá các phương thức cho vay trước hết xuất phát từ vấn đề bức xúc
của khách hàng vay vốn sau đó tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho chính ngân hàng trong
điều kiện hiện nay ngoài ra việc đa dạng hoá các phương thức cho vay cũng góp phần
cho ngân hàng có cơ hội được mở rộng hoạt động của mình hơn nữa, hội nhập với nền tài
chính khu vực và quốc tế. Trong khuôn khổ khoá luận tôi xin mạnh dạn lựa chọn đề tài:
Giải pháp đa dạng hoá các phương thức cho vay tại NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây.
2- Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, như đã đề cập ở phần cấp thiết của đề tài, tác giả
khoá luận tập trung nhiên cứu: Thực trạng nhằm tìm ra những giải pháp về phương thức
cho vay khả thi nhất để mở rộng tín dụng, tăng lợi nhuận, phân tán và giảm thiểu rủi ro,
mặt khác do tác dụng của việc áp dụng đa dạng hoá các phương thức cho vay có tác động
đẩy mạnh nghiệp vụ huy động nguồn vốn, phát triển dịch vụ ngân hàng, tăng sức cạnh
tranh cho ngân hàng nông nghiệp, phục vụ tốt mục tiêu định hướng phát triển kinh tế của
tỉnh Hà Tây.

3- Đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tín dụng và các phương thức cho vay của
NHTM nói chung và NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây nói riêng.
- Phạm vi nghiên cứu của khoá luận: Được giới thiệu một số vấn đề lý luận và thực
tiễn có liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng và các phương thức cho vay được áp
dụng ở một ngân hàng thương mại cơ sở đó là NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây từ đó đề ra giải
pháp cơ bản nhằm đa dạng hoá các phương thức cho vay tại ngân hàng này.
4- Phương pháp nghiên cứu:
Khoá luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, xem xét sự vật

 Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội
Thứ nhất: Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho
các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các
chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
Thứ hai: Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thoả mãn nhu cầu
đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở
nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ
thể kinh doanh.
Thứ ba: Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo sự chủ động
cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi nó không
phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân. Điều này giúp cho các nhà
sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội.
Thứ tư: Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng
để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch buộc những người đi vay phải
quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ
chức cung ứng tín dụng.  Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo
công ăn việc làm. Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ thuộc một
phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín
dụng. Vấn đề này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng như lãi suất, điều
kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong
chính sách tín dụng từng thời kỳ. Như vậy thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều
kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động
của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy
mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ
tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối
cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt

cho vay này chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển và
những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra khiến giới tư bản sản xuất đã phải bỏ đi bao
nhiêu hàng hoá khi mà nhu cầu tiêu dùng có nhưng không có cầu thực sự. Hình thức phổ
biến nhất của loại hình này là cho vay trả góp, một loại hình đã được áp dụng rất thành
công ở các nước phát triển. Ngân hàng có thể cho các công chức vay để họ mua sắm ôtô,
trả góp nhà ở các nước phương Tây và Mỹ thì việc một người có thể mua ôtô để đi lại trở
nên rất dễ dàng trong khi tài khoản của anh ta không cần phải có 100% hay 50% giá trị
của chiếc xe đó. Điều này đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá trở nên thuận lợi hơn, do
vậy nó thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Tín dụng công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ: Mục đích của
loại tín dụng này là ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để phục vụ hoạt động kinh
doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó về tiền của
doanh nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện
cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của
doanh nghiệp. Có thể phân chia loại hình này theo tiêu thức là cho vay doanh nghiệp sản
xuất và cho vay doanh nghiệp thương mại hay có thể phân chia theo các ngành nghề kinh
tế như: cho vay ngành nông nghiệp, cho vay ngành công nghiệp, cho vay ngành dịch vụ.
• Dựa theo thời hạn:
Dựa vào thời hạn của khoản vay, người ta có thể phân thành các khoản tín dụng
ngắn hạn và tín dụng trung dài hạn. Tín dụng ngắn hạn: Các khoản vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn đến 12
tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các
nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đây là loại cho vay chiếm tỉ trọng lớn nhất của
các ngân hàng thương mại.
Tín dụng trung dài hạn: Các khoản vay trung và dài hạn là các khoản vay có thời
hạn trên 1 năm.
Đặc điểm:
- Vốn trong nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn chủ yếu gắn liền với quá trình luân

khi cho vay, người ta quan tâm đến sáu yếu tố là: năng lực (capacity), uy tín (character),
tiền mặt (cash), tài sản bảo đảm (collateral), các điều kiện khác (conditions), kiểm soát
(control). Trong sáu yếu tố trên, tài sản bảo đảm là yếu tố kém quan trọng nhất vì khi cho
khách hàng vay, ngân hàng luôn mong muốn sẽ thu hồi được cả lãi và vốn vay, nếu có rủi
ro xảy ra ngân hàng buộc phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi vốn vay, khi này thì ngân
hàng là người gặp khó khăn nhất.
Các khoản cho vay không có bảo đảm là những khoản cho vay mà ngân hàng
không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là
những điều kiện ràng buộc khác khi kí hợp đồng tín dụng.
Những điều kiện này có thể là: Người đi vay không được giao dịch với ngân hàng
nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được ngân hàng quản lý. Có như
vậy ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của người đi vay. Thông thường chỉ
có những khách hàng có quan hệ lâu năm với ngân hàng hoặc những khách hàng có uy
tín, hay những khách hàng mà ngân hàng có tham gia góp vốn vào thì mới được cho vay
không có bảo đảm.
• Dựa theo phương thức hoàn trả:
Căn cứ vào phương thức hoàn trả vốn vay, thì có thể phân loại cho vay của ngân
hàng thành:
- Các khoản vay được hoàn trả một lần: theo phương thức này vốn vay được cấp
cho người vay sau đó khi đến hết thời hạn vay vốn, người đi vay sẽ hoàn trả cho ngân
hàng toàn bộ số vốn vay và lãi một lần.
- Các khoản vay được hoàn trả định kì: theo phương thức này, cứ sau một khoảng
thời gian nhất định người đi vay phải hoàn trả một phần vốn vay cho ngân hàng. Vốn vay và lãi có thể được hoàn trả theo các phương thức: gốc trả đều, lãi trả theo số dư; vốn vay
được trả theo niên kim cố định; gốc trả theo cấp số cộng hay cấp số nhân, lãi trả theo số

Việc lựa chọn phương thức hoàn trả vốn vay là phụ thuộc vào sự thoả thuận của
ngân hàng với khách hàng, điều này cũng phụ thuộc vào đặc điểm và tình hình hoạt động

từng đối tượng vay cụ thể.
Xuất phát từ đặc điểm của phương thức cho vay từng lần mà các ngân hàng
thương mại thường áp dụng phương thức cho vay này đối với các trường hợp không đủ
điều kiện để được vay theo phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.
Cho vay từng lần là phương thức cho vay thông dụng nhất của các ngân hàng. Bất
cứ một nhu cầu cần bổ sung vốn của doanh nghiệp phát sinh, doanh nghiệp cũng có thể
đến ngân hàng xin vay vốn theo phương thức này. Khi có nhu cầu vay vốn theo phương
thức này, khách hàng phải chuẩn bị một hồ sơ xin vay trong đó tự giới thiệu về mình, ghi
số lượng tiền cần vay, thời hạn trả và một phương án sử dụng tiền vay. Sau đó ngân hàng
sẽ thẩm định hồ sơ xin vay của khách hàng. Quá trình thẩm định của ngân hàng phải tiến
hành đầy đủ và khách quan. Ngân hàng phải thẩm định sáu yếu tố liên quan đến người
vay: tư cách pháp lý, uy tín, tiền mặt, tài sản bảo đảm, các điều kiện khách quan, kiểm
soát, ngoài ra ngân hàng còn phải thẩm định tình hình tài chính của người vay, phương
án sử dụng tiền vay có hiệu quả hay không.
Khi kí kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng và người vay phải thoả thuận với nhau về
số tiền vay (trên cơ sở không được vượt quá tỷ lệ % VTC tham gia vào dự án phương án
sản xuất kinh doanh cho phép theo quy định), lãi suất áp dụng, phương thức giải ngân
vốn và thu hồi vốn vay, thời hạn vay, các điều khoản liên quan đến vấn đề bảo đảm tiền
vay, quyền và trách nhiệm của mỗi bên. Khi nhận tiền vay, người vay nhận được một tờ
giấy nhận nợ hay còn gọi hợp đồng tín dụng. Đây chính là văn bản xác định chính xác số
tiền thực mà người vay nhận từ ngân hàng, trên đó có xác định ngày hoàn trả cụ thể.
Phương thức cho vay này là phương thức cho vay truyền thống thông dụng của
các ngân hàng thương mại. Vì thế mà hiện nay các ngân hàng thường cho vay theo
phương thức này. Tuy nhiên phương thức cho vay này có nhược điểm là mỗi lần cần vay
vốn là khách hàng phải lập một bộ hồ sơ xin vay. Điều này gây tốn kém cho khách hàng.
Đồng thời ngân hàng cũng phải mất công phải thẩm định lại những văn bản do khách
hàng mang đến. Điều này làm tăng chi phí cho cả khách hàng và ngân hàng. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng


Hai là: Tín dụng thấu chi
Khái niệm: Là loại tín dụng mà qua đó ngân hàng cho phép khách hàng được sử
dụng vượt quá số tiền mà họ đã ký thác ở ngân hàng trên tài khoản vãng lai với một số
lượng và thời hạn nhất định.
Đặc điểm của tín dụng thấu chi:
- Giữa ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng để khách hàng
được sử dụng số dư nợ trên tài khoản vãng lai trong một thời hạn nhất định.
- Khách hàng sử dụng vốn bằng cách phát hành séc mang số hiệu tài khoản vãng
lai hoặc bằng các công cụ thanh toán khác.
- Doanh số cho vay có thể lớn hơn hạn mức nếu trong quá trình sử dụng tiền trên
tài khoản khách hàng có tiền nộp vào bên có.
- Hạn mức tín dụng mà khách hàng và ngân hàng đã thoả thuận với nhau chưa
phải là tiền ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng (có xuất hiện dư nợ
của tài khoản vãng lai) mới được coi là ngân hàng cho vay và được tính lãi trên số dư nợ
đó.
- Vượt chi tài khoản là kỹ thuật cho vay mà số dư nợ thường xuyên biến động vì
thế khó thực hiện được đảm bảo tín dụng bằng hình thức bảo đảm đối vật
Điều kiện vay của phương thức này: Không phải bất cứ nhu cầu cần bổ sung vốn
của doanh nghiệp cũng được vay mà ngân hàng chỉ cho vay đối với những nhu cầu bức
thiết nhất.
Về nguyên tắc: Nếu khách hàng sử dụng quá hạn mức tín dụng đó thì coi như họ
đã vi phạm hợp đồng tín dụng và phải chịu các hình thức chế tài thích hợp. Tuy nhiên nếu
vì lý do khách quan dẫn đến nhu cầu vốn tăng lên ngân hàng xét thấy nhu cầu dó là cần
thiết và hợp lý thì ngân hàng có thể điều chỉnh hạn mức tín dụng cho khách hàng, ngân
hàng không tính lãi trên số tiền thoả thuận cho vay mà tính lãi trên số dư nợ thực tế của
tài khoản vãng lai trong những ngày dư nợ, nếu còn dư nợ gần hết thời hạn cho vay ngân
hàng làm văn bản thông báo cho khách hàng để họ biết và chủ động trả nợ số nợ không
trả hết mà không được ngân hàng cho gia hạn thêm thì sẽ bị ngân hàng áp dụng biện pháp
sử lý như trong hợp đồng tín dụng đã thoả thuận nhằm truy đòi đủ số tiền đã cho vay.

hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Từ góc độ của người cho vay bảo đảm phải thể hiện được 3 đặc trưng sau: Giá trị của bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
Bảo đảm tín dụng không chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà còn có ý nghĩa
thúc giục người đi vay phải trả nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản. Nhưng, nếu giá trị của tài
sản nhỏ hơn nghĩa vụ được đảm bảo thì người đi vay dễ có động cơ không trả nợ.
Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm vốn gốc, lãi (kể cả lãi quá hạn) và các chi phí
khác trừ trường hợp các bên có thoả thuận lãi và các loại phí không thuộc phạm vi bảo
đảm được thực hiện nghĩa vụ này.
Tài sản phải có sẵn thị trường tiêu thụ
Mức độ thanh khoản của tài sản có quan hệ đến lợi ích của người cho vay. Mức độ
thanh khoản thấp hay nói cách khác là tài sản khó bán thường khó được ngân hàng chấp
nhận. Mức độ thanh khoản trung bình có thể chấp nhận được nhưng phải tính đến chi phí
do kéo dài thời gian xử lý.
Có đầy đủ sơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản
Đặc trưng này phải thể được các mặt sau: tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của
người đi vay hoặc người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải
có đủ các cơ sở pháp lý để ngân hàng- chủ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản
nhằm thu nợ khi người đi vay không thanh toán đúng hạn.
Có ba hình thức bảo đảm tín dụng cơ bản là thế chấp, cầm cố và bảo lãnh của bên
thứ ba. Theo pháp luật Việt Nam tài sản thế chấp bao gồm bất động sản và giá trị quyền sử
dụng đất. Tài sản cầm cố bao gồm các động sản, kể cả các quyền về tài sản. Bảo lãnh của
bên thứ ba dùng làm bảo đảm tín dụng phải có tài sản của người bảo lãnh làm đảm bảo, trừ
các tổ chức tín dụng.
Trong cho vay thế chấp tài sản, ngân hàng phải giám định tính chất pháp lý của tài
sản thế chấp, tức là xác định tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đi vay, tài sản
được phép giao dịch và không có tranh chấp. Định giá tài sản thế chấp theo quy định tranh
chấp. Định giá tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật, xác định tỉ lệ cho vay so với

cho ngân hàng thương mại để lấy một khoản tiền bằng mệnh giá trừ lợi tức và hoa hồng
phí
Điều kiện về chứng từ chiết khấu: Chứng từ phải có mệnh giá cụ thể và được
thanh toán theo mệnh giá ghi trên thương phiếu. Chứng từ phải có thời hạn xác định về
việc thanh toán số tiền ghi trên thương phiếu, Thương phiếu đem đi chiết khấu phải chưa
đáo hạn. Trên thương phiếu phải có sự chấp nhận của người có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên mặt phiếu. Những giấy tờ có thể đem đi chiết khấu là: thương phiếu và một
số giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Người ta thường không đem chiết khấu trái phiếu của
chính phủ và của doanh nghiệp vì đây là những giấy tờ có giá có thời hạn dài, giá mua
hay bán đều khác với mệnh giá ghi trên trái phiếu.
Khi đến xin vay thông qua nghiệp vụ này, khách hàng phải làm đơn xin chiết khấu
và liệt kê tất cả các chứng từ xin chiết khấu. Sau đó ngân hàng sẽ kiểm tra xem các giấy
tờ này còn hạn hay không, người phát hành ra chứng từ đó là ai, độ tin cậy đến đâu.
Khi cho vay theo nghiệp vụ chiết khấu, lãi nhận từ khoản cho vay chính là lệ phí
chiết khấu. Lệ phí chiết khấu được xác định dựa vào lãi suất cho vay cùng kì hạn, chi phí
quản lý. Khách vay sẽ nhận được khoản tiền bằng mệnh giá ghi trên thương phiếu trừ đi
lệ phí chiết khấu. ở đây, người đi vay không phải chịu thiệt gì cả vì thực chất khi bán
hàng chịu thì bao giờ người bán cũng tính thêm một phần trăm nhất định, do vậy khi đem
thương phiếu đi chiết khấu, người đi vay sẽ nhận được giá trị thực của hàng bán được.
Ưu điểm của nghiệp vụ này là ngân hàng đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu
được tiền trước hạn, bán được hàng hoá ngay cả khi người mua không có tiền để trả. Do
vậy, doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong việc bán hàng khi khách mua không có khả năng
thanh toán. Ngay cả trong trường hợp người bán có chút nghi ngờ về người mua thì
người bán có thể chịu thiệt một chút để bán đứt thương phiếu. Còn về phía ngân hàng,
đây là một nghiệp vụ sinh lời của ngân hàng. Thu nhập từ nghiệp vụ này sẽ cao hơn các
khoản cho vay thông thường. Độ an toàn cũng cao hơn vì theo luật thì ai kí tên trên
thương phiếu đều có trách nhiệm liên đới về việc thanh toán thương phiếu nên ít nhất có
hai người phải có trách nhiệm thanh toán. Hơn nữa thương phiếu chỉ phản ánh một hoạt

mức vốn đầu tư đã thoả thuận kèm theo các chứng từ xin vay phù hợp với mức đích sử dụng
vốn vay trong hợp đồng tín dụng.
Đặc điểm của phương thức cho vay này là: thời gian hoàn vốn chậm, lãi suất cao,
giá trị khoản vay lớn.
Hai là: Phương thức cho vay hợp vốn
Khái niệm: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án hoặc
phương án vay vốn của khách hàng: trong đó một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp,
phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của quyết định số 1627/2001/QĐ-
NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và quy chế đồng tài trợ của tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước ban hành. Ba là: Phương thức cho vay tiêu dùng trả góp
Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay
phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho
vay.
Bốn là: Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Căn cứ nhu cầu vay vốn của khách hàng ngân hàng nơi cho vay và khách hàng thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng: Hạn mức tín dụng dự phòng ngân hàng nơi cho vay cam kết
đáp ứng nguồn vốn cho khách hàng bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ trong thời gian hiệu
lực của hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc sử dụng không hết hạn mức tín dụng
dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết tính cho hạn mức tín dụng dự phòng đó. Mức
phí cam kết phải được thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng nơi cho vay.
Năm là: Phương thức cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ
tín dụng
Khái niệm

dạng hoá hoạt động của ngân hàng thương mại. Đa dạng hoá các hoạt động của ngân
hàng hiện nay là một đòi hỏi cần thiết đối với mỗi ngân hàng. Hiện nay, khoảng 80%
doanh thu của các ngân hàng thương mại Việt Nam là từ hoạt động tín dụng vì vậy mà
bất cứ một yếu tố nào xảy ra gây bất lợi cho hoạt động cho vay cũng đều ảnh hưởng đến
toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Hơn nữa, hoạt động cho vay được coi là lĩnh vực có
nhiều rủi ro và thất thoát vốn chính vì thế mà các ngân hàng thương mại cần phải coi đa
dạng hoá các phương thức cho vay như là một chiến lược nhằm hạn chế tối đa rủi ro xảy
ra trong hoạt động cho vay.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đang tiến
hành công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, mà trước tiên là đổi mới về kinh tế: từ một
nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Việc đổi mới cơ chế quản lý đã tạo tiền đề cho
việc đổi mới hoạt động ngân hàng. Hơn nữa, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của
đất nước cũng đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải trở thành trung gian tài chính hiệu quả để có thể huy động được nhiều nguồn lực cả trong và ngoài nước, mở rộng đầu tư, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định đất nước. Điều này đòi hỏi một ngân hàng cần phải
đa dạng hoá hoạt động của mình để đáp ứng được những yêu cầu của đổi mới đất nước.
Đặc biệt, đa dạng hoá các phương thức cho vay sẽ góp phần đưa ra cho nền kinh tế
nhiều hình thức vay vốn đáp ứng được những nhu cầu đa dạng của các thành phần kinh
tế, cung ứng vốn kịp thời cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Do đòi hỏi của nền kinh tế đang đổi mới và phát triển, nhiều ngân hàng và tổ
chức tài chính tín dụng đã ra đời. Song chính sự hoạt động đa dạng của nhiều loại hình
ngân hàng đã tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường tài chính. Các ngân hàng
muốn tồn tại và phát triển thì phải tạo ra một vị thế vững chắc trên thị trường, điều này
đòi hỏi các ngân hàng phải đa dạng hoá các hoạt động của mình, đa dạng hoá các phương
thức cho vay để đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường.
- Xu hướng quốc tế hoá thị trường tài chính quốc tế đã tạo nên một nền kinh tế thế
giới ngày càng liên kết chặt chẽ hơn, trong đó diễn biến thị trường tài chính một nước có

Việt Nam không thể tài trợ cho một dự án lớn nếu không có sự kết hợp của các ngân hàng
khác. Như vậy nếu các ngân hàng thương mại Việt Nam không tăng được nguồn vốn chủ
sở hữu của mình thì một mảng thị trường cho vay các dự án có vốn đầu tư lớn sẽ bị bỏ ngỏ
và đây là cơ hội cho các ngân hàng Mỹ.
- Một ngân hàng áp dụng nhiều phương thức cho vay khác nhau sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bởi các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, đa dạng hoá các phương thức cho vay sẽ làm tăng lợi nhuận của
ngân hàng.
Việc áp dụng nhiều phương thức cho vay của ngân hàng sẽ đáp ứng
được đầy đủ nhu cầu về vốn của nhiều đối tượng khách hàng, ngân hàng thương mại sẽ
sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ tín dụng của mỗi
ngân hàng.
Điều này sẽ dẫn đến là giảm được chi phí quản lý, chi phí hoạt động, lợi nhuận
tăng lên, hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng cũng sẽ tăng lên.
Thứ hai, đa dạng hoá các phương thức cho vay giúp cho ngân hàng thương
mại phân tán và giảm thiểu rủi ro.
Mỗi phương thức cho vay đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, vì thế
việc áp dụng một phương thức cho vay với tất cả các đối tượng khách hàng trong một thời điểm là một việc làm rất mạo hiểm mang lại cho ngân hàng nhiều rủi ro. Hơn nữa
nhu cầu về vốn của người đi vay là rất đa dạng do vậy mà việc áp dụng nhiều phương
thức cho vay khác nhau là điều cần thiết, nó sẽ giúp ngân hàng có thể tránh được những
rủi ro không đáng có.
Thứ ba, đa dạng hoá các phương thức cho vay sẽ thúc đẩy các nghiệp vụ khác
cùng phát triển.
Khi áp dụng nhiều phương thức cho vay, hoạt động cho vay của ngân hàng thương
mại tăng lên, cần có nhiều vốn để cho vay nhiều hơn, vì thế ngân hàng cần huy động
nhiều tiền gửi hơn nữa, do vậy hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng cũng phát triển.
Điều này cũng khiến các ngân hàng phải đưa ra nhiều mức kì hạn tiền gửi và mức lãi suất

* Nhân tố chủ quan: bao gồm chủ trương, chính sách của ngân hàng
(NHNo&PTNT Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản, cơ chế, chính sách, thể lệ nghiệp vụ
phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các chi nhánh chủ động
trong hoạt động kinh doanh); trình độ của cán bộ nhân viên ngân hàng; quy mô vốn của
ngân hàng; trình độ công nghệ của ngân hàng (việc hiện đại hoá và quản lý dữ liệu tập
trung đã làm cơ sở để ngân hàng phát triển, đa dạng hoá các phương thức cho vay phù hợp
với nhu cầu của khách hàng).
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY TẠI CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TỈNH HÀ TÂY
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tây
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên
Là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, nằm cạnh khu kinh tế tam
giác Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, hạt nhân kinh tế của miền Bắc. Tỉnh có diện
tích tự nhiên 2.193 Km2 giáp với thành phố Hà Nội ở hai phía Tây và Nam. Với 3
cửa ngõ vào thủ đô là các quốc lộ 1, 6 và quốc lộ 32.
- Hà Tây có 3 vùng địa lý với khí hậu khác nhau là: vùng đồng bằng sông
Hồng, vùng trung du và vùng miền núi. Tỉnh có 3 nhóm đất chính là: Nhóm đất màu
nâu đỏ, nhóm đất phù sa, đất bồi và nhóm đất lầy thụt. Hà Tây có hai con sông lớn chảy qua là sông Đà ở phía Tây và sông Hồng ở phía Bắc. Đây là các tuyến vận tải
đường thuỷ lý tưởng để trao đổi hàng hoá đi Tây Bắc, Hà Nội, Hải Phòng.
- Về tài nguyên, Hà Tây có một số khoáng sản chính là: đá vôi, đá granít,
sét, cao lanh, vàng sa khoáng, đồng, pyrit, than bùn, nước khoáng với chất lượng
và trữ lượng cho phép khai thác và chế biến ở quy mô công nghiệp vừa và lớn. Đặc
biệt là công nghiệp khai thác và chế biến vật liệu xây dựng. Môi trường sinh thái ở
Hà tây trong nhiều năm qua đã được chú ý bảo vệ và cải tạo. Độ phì nhiêu của đất
đai được nâng lên, đảm bảo sự canh tác bền vững.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status