TIỂU LUẬN:
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại
ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
chi nhánh Quang Trung
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước chúng ta đang ngày càng phát triển, trong những năm gần đây chúng ta
luôn đạt tốc độ tăng trưởng ở mức rất cao từ 7% trở lên, để phát triển được như vậy thì
chúng ta phải tập trung tất cả các nguồn lực từ con người tới vốn đầu tư, bên cạnh đó thì
chúng ta vừa mới gia nhập WTO cũng tạo ra cho chúng ta những động lực mới, những áp
lực mới bắt buộc chúng ta phải có những giải pháp thích hợp để đẩy mạnh tốc độ tăng
trưởng. Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa như thế này thì nguồn vốn để đầu
tư là rất lớn, để có thể sắm sửa các trang thiết bị hiện đại đáp ứng cho nhu cầu đòi hỏi
công nghệ cao. Bên cạnh đó cần đáp ứng vốn cho chuyển dịch cơ cấu sản xuất nâng cao
hiệu quả sản xuất. Lúc đó chúng ta mới có thể đảm bảo cho một nên kinh tế phát triển
bền vững.
rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi
nhánh Quang Trung” và em mong muốn rằng trong tương lai không xa thì nghiệp vụ này
sẽ ngày càng phát triển và nó sẽ là một nguồn thu cho ngân hàng, đồng thời góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển bền vững.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản
Như chúng ta đã biết ngay từ đầu thế kỉ XV những hình thức sơ khai của ngân
hàng bắt đầu xuất hiện ban đầu là những thương nhân thực hiện việc mua bán hàng hóa
từ nơi này tới nơi khác, đó là những nhu cầu đổi tiền để có thể mua và bán của địa điểm
mà chúng ta đang thực hiện việc buôn bán, tiếp sau đó là những kẻ cho vay nặng lãi ra
đời chúng thực hiện những khoản vay với các cá nhân, đối với vua quan, đặc biệt là ngân
hàng còn có thể cho vay để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của chiến tranh, sự phát triển
tiền gửi theo kiểu này do không thu hồi được nợ đã đẩy ngân hàng tới chổ phá sản, do
vậy đã hình thành nên một loại hình ngân hàng mới đó là ngân hàng thương mại do các
nhà buôn kết hợp lại với nhau, hệ thống ngân hàng này đã thực hiện nhiều nghiệp vụ
giống như ngân hàng ngày nay đó là huy động tiền gửi, cho vay. Và từ đó cho tới nay hệ
thống ngân hàng luôn phát triển và ngày càng lớn mạnh cùng với sự phát triển của nền
kinh tế do vậy mà khi nói đến ngân hàng thì ai ai cũng biết đó là nơi để mình gửi tiền tiết
kiệm khi có dư dật lượng tiền mặt và cũng là nơi để chúng ta tới vay một khoản tiền
trong một kì hạn nhất định với một lãi suất đã được ấn định. Nhưng đó chỉ là cách hiểu
đơn giản nhất về ngân hàng mà chúng ta cần hiểu rằng “ngân hàng là một tổ chức trung
gian tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kì tổ chức kinh doanh nào hoạt động trong nền kinh tế”
Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại cơ bản
nghiệp, hoạt động này giúp cho ngân hàng có thể có thêm được nhiều các khách
hàng và đồng thời ngân hàng sẽ có rất nhiều thông tin về các doanh nghiệp
7) Tài trợ các hoạt động của chính phủ : chính phủ thường thực hiện các dự án yêu cầu
về nguồn vốn lớn, trong một lúc không thể giải ngân ra tất cả số tiền như vậy được
vì giải ngân sẽ gây ra tình trạng ngập tiền do vậy mà chính phủ sẽ quyết định cho một ngân hàng nào đó giải ngân cho dự án cụ thể theo từng thời kì và sau khi kết
thúc dự án chính phủ sẽ hoàn trả
8) Bảo lãnh: là hình thức mà ngân hàng dựa vào uy tín của mình để bảo lãnh cho các
hoạt động của các doanh nghiệp nhằm tạo ra lòng tin cho các doanh nghiệp cùng
làm ăn buôn bán với họ
9) Cho thuê các thiết bị trung và dài hạn: các thiết bị máy móc mà doanh nghiệp cần có
thể có giá rất lớn doanh nghiệp không có khả năng mua hoặc là máy chỉ có giá trị sử
dụng trong thời gian ngắn và sau đó không còn dùng tới nữa như vậy các ngân hàng
có thể triển khai các hoạt động cho thuê để giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm
được một phần chi phí.
10) Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn : Những cán bộ làm trong nghành ngân hàng là
những người có chuyên môn về tài chính rất tốt, đặc biệt họ lại có được những
thông tin rất quan trong mà trong quá trình cho vay doanh nghiệp đã cung cấp cho
ngân hàng, hội tủ các điều kiện đó thì việc mà ngân hàng cung cấp các tư vấn là khá
chính xác, và có thể tin cậy được
Bên cạnh đó thì ngân hàng còn cung cấp thêm các dịch vụ khác như là cung cấp dịch
vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ
đại lý
II. Vai trò cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1. Lịch sử ra đời hoạt động cho vay tiêu dùng
Tín dụng là một nghiệp vụ không thể không có trong các ngân hàng thương mại.
Như chúng ta biết rằng các ngân hàng thương mại là các tổ chức trung gian tài chính hoạt
động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với mảng hoạt động chính đó là nhận tiền gửi của
thuộc vào đặc tính của mỗi cá nhân như là công việc làm ăn có mức thu nhập cao không,
sở thích của người đó như thế nào( hình thành thói quen sử dụng hàng hiệu thì mức chi
cho tiêu dùng sẽ cao hơn rất nhiều.
Nhu cầu của con người là không giới hạn nhưng nó lại phụ thuộc vào khả năng thanh
toán của cá nhân. Ngay trong cuộc sống của chúng ta luôn luôn có những nhu cầu và
chúng ta chưa thể có khả năng có nó ngay tại thời điểm chúng ta muốn có một cái gì đó.
Chúng ta xét mỗi bản thân con người sẽ có các nguồn khác nhau như là bố mẹ, bạn bè… nhưng những nguồn đó sẽ không giúp ta tự chủ được vấn đề do vậy mà chúng ta sẽ lựa
cho là đi vay tại các ngân hàng thương mại theo hình thức vay tín dụng tiêu dùng để phục
vụ cho các khoản tiêu dùng của cá nhân.
2.2. Phân loại các khách hàng cá nhân
2.2.1 Phân theo mức thu nhập
- Những người có thu nhập cao
Chúng ta có thể xem những người có mức thu nhập cao là những cá nhân có mức
thu nhập hàng tháng từ 5 triệu đồng trở lên. Đây là nguồn khách hàng chiến lược của
ngân hàng, những người có thu nhập cao thường là sẽ có một công việc rât tốt trong xã
hội và hầu hết họ sẽ có cách tiêu tiền cũng như là nhu cầu mua sắm hàng hóa khác xa so
với những người có thu nhập thấp. Do vậy ngân hàng cần xem đây là khách hàng ở dạng
tiềm năng vì căn cứ vào thu nhập của họ thì khả năng thanh toán là rất cao.
- Những người có thu nhập trung bình
Những người này thường có mưc thu nhập vào khoảng 2.5tr -5tr đồng VND mỗi
tháng. Đây cũng là một luồng khách hàng tiềm năng của ngân hàng. Những khác hàng
này luôn tin tưởng vào một tương lai đẹp đẽ hơn họ sẽ có thu nhập cao hơn trong tương
lai. Do vậy mà nhu cầu của những cá nhân này rất cao. Hiện tại thì họ chưa thể đáp ứng
khả năng chi trả của mình nhưng trong tương lai họ chắc chắn có khả năng thanh toán.
-Những người có thu nhập trung bình
Là những cá nhân có mức thu nhập hàng tháng dưới 2.5tr, mức thu nhập này chỉ
đủ cho họ tiêu dùng trong cuộc sống hàng ngày, để có thể tiết kiệm mua những thứ có giá
mang tính rủi cao, ngân hàng không thu được nợ. Khi mà trong giai đoạn ngày nay rất
nhiều ngân hàng thương mại ra đời việc cạnh tranh để có thể huy động được vốn từ người
dân rất khó khăn nên các ngân hàng phải có những biện pháp khắc phục mà đặc biệt đó là
thay đổi các loại hình dịch vụ trong đó có việc mở rộng các khoản cho vay nhỏ lẻ nhằm
thu hút các nguồn vốn huy động từ dân cư, và trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng
khác cũng như các tổ chức tài chính khác. Để có thể nâng cao chất lượng cạnh tranh thì
mỗi ngân hàng không chỉ phát huy ở những nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi, mua bán ngoại tệ, … mà cần phát huy các nghiệp vụ mới như là tư vấn cho khách hàng, mở
công ty kinh doanh chứng khoán, phát triển các loại hình cho thuê tài chính.
Chính sự phát triển nhanh nhạy của nền kinh tế mà làm cho cuộc sống con người
ngày càng một tốt hơn, cùng với sự cạnh tranh khốc liệt trong ngân hàng để có thể huy
động các nguồn trong dân cư cũng như mở rộng các hình thức cho vay, nên các loại hình
tín dụng mới được ra đời trong đó có loại hình tín dụng tiêu dùng rất phát triển vì nó mới
thực sự đi vào những cá nhân, những tế bào trong xã hội. Bên cạnh đó khi mà hệ thống
ngân hàng phát triển thì nguồn tiền huy động trong người dân càng nhiều khi đó sẽ gây ra
tình trạng nguồn vốn trong ngân hàng thương mại ứ đọng do vậy mà ngân hàng cần phát
triển các loại hình cho vay. Khi mà các nguồn vay lớn của doanh nghiệp đã không còn,
lượng vốn mà doanh nghiệp cần là quá nhiều, khi đó ngân hàng chuyển qua đối tượng là
hộ gia đình và cá nhân trong nền kinh tế vì thực tế những khoản vay này mang lại cho
ngân hàng một mức lãi suất cao hơn, tuy hình thức này độ rủi ro rất cao nhưng tỉ lệ đối
với một người dân vay mượn là rất nhỏ nên ngân hàng dường như chịu rủi ro rất ít do vậy
mà hình thức cho vay này ngày càng phát triển và được mở rộng cho tới ngày nay.
3.2. Đặc điểm của loại hình cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là một trong số các loại hình nghiệp vụ của ngân hàng thương
mại, như chúng ta biết thì cho vay tiêu dùng là mối quan hệ giữa ngân hàng với khách
hàng là cá nhân trong nền kinh tế do vậy mà loại hình này có những đặc điểm riêng biệt
khác với các loại hình khác. Dựa trên nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng chúng ta có
thể thấy nó có những đặc điểm sau
tương lai để thanh toán, do đó chỉ người khách hàng đó mất việc hay là nên kinh tế bị suy
thoái người đó sẽ không thể nào có tiền để thanh toán cho ngân hàng do vậy mà loại hình
này doanh nghiệp chấp nhận rủi ro rất cao.
Một cái nữa đó là cho vay tiêu dùng này còn phụ thuộc vào chu kì của phát triển
của nền kinh tế khi nền kinh tế phát triển thì cho vay tiêu dùng được mở rộng vì lúc này
người dân sẽ tin tưởng trong tương lai thu nhập của mình sẽ tăng cao lên do đó họ sẽ phát
sinh những nhu cầu cơ bản, còn khi nền kinh tế rơi vào thời kì suy thoái thì cá nhân sẽ
không tin tưởng vào tương lai do đó họ sẽ giảm bớt đi vay cho mục đích tiêu dùng. 3.2.4. Chi phí để xử lí thông tin khách hàng trong cho vay tiêu dùng là cao so với quy mô
của khoản vay
Quy mô của món vay tiêu dùng là rất nhỏ, nhưng đó cũng là một khách hàng cũng
cần có đầy đủ các bước như một khách hàng bình thường, cũng tiếp nhận hồ sơ, phân tích
hồ sơ, quyết định giải ngân… đòi hỏi ngân hàng phải có thời gian và nguồn nhân lực để
đáp ứng công việc này do vậy nên ngân hàng tốn một chi phí khá lớn trong hoạt động này
3.2.5. Nguồn thu lợi ròng từ khoản cho vay tiêu dùng
Tuy cho vay tiêu dùng rủi ro cao nhưng nó lại mang lại thu nhập lớn nên các ngân
hàng thương mại luôn tìm cách phát triển hoạt động này, thực tế cho thấy đây là nguồn
tiếp cận tới cá nhân rộng nhất, có quan hệ làm ăn với nhiều tầng lớp trong xã hội, tuy
thực tế hoạt động này có tính rủi ro rất cao nhưng nó lại có lãi suất khá cao đủ để kích
thích được các nhà lãnh đạo ngân hàng. Cũng vì lãi suất cao nên nó sẽ là một trong
những hoạt động chính và mang lại lợi nhuận ròng lớn nhất cho ngân hàng ở thời gian
trong tương lai.
4. Vai trò và lợi ích của cho vay tiêu dùng
4.1. Đối với người tiêu dùng
Với tư cách là một cá nhân tiêu dùng ta thấy loại hình tín dụng này có rất nhiều ưu
điểm đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp và trung bình. Nhờ sự tài trợ của
ngân hàng mà những người có thu nhập thấp hay trung bình sẽ có thể mua được các loại
hàng hóa có giá trị cao như là các căn hộ chung cư hay là các loại phương tiện có giá cao
Nền kinh tế có tăng trưởng ở mức cần thiết hay không đó là nhờ vào mức tiêu dùng của
cá nhân trong nền kinh tế, nền kinh tế có mức tiêu dùng càng lớn càng kích thích những
nhà sản xuất, những doanh nghiệp làm ăn buôn bán, càng đẩy nền kinh tế phát triển. Do
vậy mà tiêu dùng chính là đòn bẩy của nền kinh tế, nó cũng là đòn bẩy để kích thích cung
hàng hóa. Do vậy mà cho vay tiêu dùng càng phát triển mạnh thì tiêu dùng, hay là nhu
cầu mua sắm của người dân càng lớn càng thúc đẩy nền kinh tế phát triển… Qua đó
chúng ta thấy được việc cho vay tiêu dùng là một hướng đi đúng của các ngân hàng
thương mại khi đó sẽ kéo nền kinh tế phát triển lên và đồng thời sự lạc quan của cá nhân
tin vào tương lai sẽ có thu nhập cao thì cho vay tiêu dùng được mở rộng.
III. Các hình thức cho vay tiêu dùng 1. Phân loại cho vay tiêu dùng
1.1. Căn cứ vào mục đích cho vay
Cho vay tiêu dùng cư trú : hình thức cho vay áp dụng cho các khoản vay để mua
nhà, mua đất, mua căn hộ. Giúp cho cá nhân có thể ổn định cuộc sống lâu dài.
Cho vay tiêu dùng phi cư trú : những khoản vay dùng để mua sắm các đồ vật trong
cuộc sống, các đồ dùng phục vụ nhu cầu cá nhân như là phương tiện đi lại, các trang thiết
bị…
1.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức này có thể chia tín dụng tiêu dùng thành 3 loại
1.2.1. Cho vay tiêu dùng trả góp:
Đây là hình thức được áp dụng khá phổ biến trong các ngân hàng, hình thức cho
vay tiêu dùng trong đó người đi vay phải thanh toán cho ngân hàng nhiều lần, theo những
kì hạn nhất định được thống nhất giữa khách hàng và ngân hàng. Phương thức này được
áp dụng chủ yếu cho các món vay có giá trị lớn, nếu khách hàng thanh toán một lần thì
không thể đủ khả năng. Bên cạnh đó thì phương pháp này có ưu điểm đó là ngân hàng có
thể quay vòng vốn, vừa cho vay khách hàng này đồng thời có thể cho khách hàng tiếp
theo vay. Nhưng trong loại cho vay này cũng có những hạn chế được giới hạn
Loại tài sản được tài trợ
cao đề phòng rủi ro
Chi phí tài trợ
Chi phí này là chi phí mà khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng khi mà khách
hàng phải vay muợn số tiền của ngân hàng, chi phí tài trợ chủ yếu bao gồm các khoản lãi
vay, các khoản trang trải vốn chi phí hoạt động
Điều khoản thanh toán
Các điều khoản thanh toán được ngân hàng chú ý tới
- Số tiền thanh toán của khách hàng cho ngân hàng phải chiếm một tỉ lệ nhất định
trong khoản chi tiêu hàng ngày của khách hàng.
- Giá trị tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền cho vay chưa thu hồi
- Khoảng thời gian giữa những lần trả nợ liên tiếp nhau phải phù hợp với chu kì
thu nhập của khách hàng. Vì thực tế nguồn thu của khách hàng chính là những khoản tiền lương thu nhập hàng tháng do vậy chu kì thu nợ phải phù hợp với chu kì thu nhập của
khách hàng
- Thời hạn trả nợ không nên quá dài. Thứ nhất là do tài sản có thể bị hỏng sau khi
đã dùng được thời gian dài khi đó khách hàng phải thanh toán cho cái mà không còn là
của mình thì tâm lí sẽ không còn, thứ hai là thời gian càng dài dòng tiền càng giảm thu
nhập của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng, thứ ba là thời gian dài độ rủi ro cao
Số tiền mà khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi định kì có thể tính được
bằng các phương pháp sau
Phương pháp lãi đơn: phương pháp này được áp dụng từ khi mới ra đời, vốn gốc
người đi vay phải trả từng định kì được tính đều đặn, số tiền sẽ là tổng số vốn vay ban đầu
chia cho số kì hạn trả nợ, số tiền lãi được tính trên số dư nợ trên ngân hàng.
Phương pháp lãi gộp: phương pháp này thường được áp dụng đối với cho vay tín
dụng tiêu dùng trả góp. Phương pháp này được tính như sau đối với kì đâu tiên là số tiền
vay nhân với lãi, đến kì sau số tiền vay ban đầu và cộng với số lãi của kì đầu tiên.
1.2.2. Cho vay tiêu dùng phi trả góp
Phương thức cho vay này là phương thức số tiền sẽ được thanh toán một lần khi
Đây là phương thức mang tính ít rủi ro nhất mà ngân hàng thực hiện, vì nó mang
tính rủi ro ít nên lãi suất sẽ thấp nguồn thu cho ngân hàng không đáng kể. Phương thức
này được thực hiện là khi mà những nhà bán lẻ bán cho ngân hàng các khoản nợ mà
người tiêu dùng mua chịu tại các nhà bán lẻ, công ty bán lẻ bảo đảm rằng chắc chắn ngân
hàng sẽ thu được nợ nếu mà ngân hàng không thu được từ người tiêu dùng thì nhà bán lẻ
chấp nhận mua lại hợp đồng củ
Tài trợ truy đòi hạn chế
Đây là phương thức khi mà ngân hàng không thu được nợ từ người tiêu dùng thì
các nhà bán lẻ chỉ chịu một phần trách nhiệm trong hợp đồng đó, và phần chịu trách
nhiệm này phụ thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng với công ty bán lẻ
Tài trợ miễn truy đòi
Đây là phương thức khi ngân hàng chịu rủi ro cao nhất, ngân hàng có thu được nợ
từ người tiêu dùng hay không là tùy thuộc vào ngân hàng và nếu mà ngân hàng không thu
được nợ thì ngân hàng hoàn toàn tự chịu mọi rủi ro, người bán lẻ hoàn toàn không cần quan tâm tới ngân hàng sau khi hợp đồng đã kí xong. Bù lại với phương thức này thì
ngân hàng có được nguồn thu cao, lãi suất cao hơn. Khi thực hiện những hợp đồng như
thế này đòi hỏi ngân hàng phải phân tích thật kĩ trước khi đưa ra quyết định
Tài trợ có mua lại
Đây là phương thức có sự thỏa thuận của ngân hàng với người bán lẻ rằng có thể
mua lại hợp đồng, hoặc khi ngân hàng trong tình trạng kém giải ngân thì có thể bán lại
cho công ty bán lẻ 1.3.2. Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Đây là khoản vay trực tiếp được ngân hàng thực hiện với khách hàng. Mà cụ thể là
ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng cho khách hàng vay cũng như là trực tiếp thu
nợ từ khách hàng, mỗi phương thức đều có mặt ưu điểm và mặt hạn chế
Xét mặt ưu điểm: ngân hàng có thể tận dụng tốt nguồn nhân lực của mình, tận
mặt
2.3 Thấu chi
Đây là hình thức mà ngân hàng chỉ áp dụng đối với các cán bộ công nhân viên
trong ngân hàng, và những khách hàng phải rất thân quen với ngân hàng và có tình hình
tài chính tốt. Đây là hình thức khi mà khách hàng tiêu hết số tiền trong tài khoản của
mình và có nhu cầu cần dùng thêm thì ngân hàng có thể cho vay thấu chi đối với các
khách hàng đó. Phương thức này rất tiện lợi đối với những người thường có những khoản
chi tiêu nằm ngoài dự tính, và khách hàng là phải có quan hệ tốt với ngân hàng và rất có
uy tín đối với ngân hàng
2.4 Thẻ tín dụng
Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng, và qua đó quản lí tài khoản của
khách hàng, cũng như là các hình thức vay mượn của khách hàng với ngân hàng
IV Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
Cho vay tiêu dùng như chúng ta đã nói ở phần trên, hiện tại cho vay tiêu dùng
đang là mục tiêu phát triển của các ngân hàng thương mại. Chúng được thực hiện theo
quy trình như các khoản cho vay tín dụng của ngân hàng
Bước 1 : Phân tích khách hàng và món vay trước khi cấp tín dụng
Đây là bước vô cùng quan trọng nó là phu thuộc vào những cán bộ tín dụng có kinh
nghiệm có khả năng đánh giá nhận xét khách hàng chính xác và hợp lí nhằm không đánh rơi
khách hàng cũng như là thu được nguồn lợi lớn nhất cho ngân hàng
Các phương pháp thu thập và xử lí thông tin
- Nói chuyện trực tiếp với khách hàng, đặc biệt là xuống tận nhà xưởng của khách
hàng để kiểm tra về tính chính xác cũng như là giá trị ngầm của khách hàng qua vị trí địa
lí hay là lợi thế cạnh tranh - Hoặc là tìm kiếm các thông tin qua các đối tác đã từng làm việc với ngân hàng
cũng như đã từng làm việc với khách hàng để có được những thông tin quan trọng, vì
thực tế để tìm hiểu được một khách hàng trong thời gian ngắn không phải là chuyện dễ.
Vì vậy tìm hiểu bằng nhiều phương pháp sẽ giúp cho ngân hàng tiết kiệm được thời gian
gì
Số lượng tín dụng : khách hàng muốn vay khoản tiền là bao nhiêu, bằng loại tiền
nào
Lãi suất: hợp đồng ghi rõ lãi suất mà ngân hàng thỏa thuận với khách hàng
Thời hạn tín dụng: thời hạn tín dụng được xác định cụ thể giữa khách hàng với
ngân hàng, là thời hạn mà ngân hàng sẽ chấp nhận giải ngân toàn bộ số tiền mà khách
hàng có nhu cầu vay được tính từ lúc khách hàng nhận món vay đầu tiên tới khi ngân
hàng giải ngân món vay cuối cùng
Bước 3
Giải ngân và kiểm soát khi cho vay vốn
Đây là giai đoạn sau khi đã hoàn thành xong các thủ tục cần thiết và tới lúc ngân
hàng giải ngân cho khách hàng số tiền mà khách hàng yêu cầu, và đồng thời ngân hàng
thực hiện công việc theo dõi và kiểm tra khoản vay của khách hàng. Khi có một vấn đề
nào đó thì ngân hàng có thể yêu cầu trực tiếp khách hàng hoàn trả ngay vốn vay để đảm
bảo cho khoản mà ngân hàng cho vay
Bước 4
Thu nợ món vay
Quan hệ tín dụng kết thúc khi mà ngân hàng thu hết gốc và nợ. nếu có vấn đề gì
xảy ra như là khách hàng chậm thanh toán hay là chây ì trong việc thanh toán thì ngân
hàng cần có biện pháp xử lí, như là niêm phong tài sản đảm bảo … nếu mà khách hàng
thực hiện tốt thì có thể thực hiện một hợp đồng tín dụng khác
Đến đây là đã kết thúc một hợp đồng tín dụng trong ngân hàng thương mại
Tại mỗi bước đều có một nhiệm vụ cụ thể, và phải thực hiện theo trình tự các
bước và nhiệm vụ cụ thể
- Đó là những bước để thực hiện một hợp đồng thực hiện tín dụng, ngày nay trên
thế giới thì các ngân hàng lớn đều sử dụng hệ thống chấm điểm tín dụng để có thể đánh giá một cách chính xác và khách quan đối với từng cá nhân đến vay vốn tại ngân hàng.
Hệ thống chấm điểm tín dụng là phương pháp mà ngân hàng lượng hóa rủi ro có thể xẩy
mặt hạn chế đó là ngân hàng có thể mất đi những khách hàng tốt mà hệ thống tính điểm
không có chuẩn về mặt đó, hay là những phương án rất khả thi
Mặt khác thì hệ thống chuẩn điểm được xây dựng trên tiêu chuẩn của quá khứ, từ
những hợp đồng đã thực hiện do vậy mà chất lượng tín dụng trong tương lai sẽ không
được ngân hàng cập nhật.
Để hạn chế các nhược điểm trên thì yêu cầu ngân hàng phải thường xuyên xem xét,
kiểm tra lại hệ thống chấm điểm của ngân hàng mình, xem xét lại các tiêu thức, các đối
tượng mặt hàng được ưu tiên, ngân hàng cân thay đổi thường xuyên để có thể thay đổi
cho phù hợp với sự biến đổi của nền kinh tế, hệ thống chấm điểm của ngân hàng mà
không được thay đổi thường xuyên sẽ ảnh hưởng tới khách hàng của ngân hàng trong
tương lai, từ đó sẽ mang lại rủi ro mà ngân hàng sẽ phải đối diện trong tương lai khi mà
những khách hàng tốt lần lượt bị ngân hàng từ chối
V. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương
mại
1. Quan niệm về mở rộng cho vay tiêu dùng
Như chúng ta đã để cập ở những mặt lợi của tín dụng tiêu dùng, trong điều kiện
đất nước ta ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao do
vậy mà số tiền để người dân bỏ ra tiêu dùng để phục vụ cho cuộc sống ngày càng nhiều
từ đó dẫn đến sẽ có những cá nhân tới khách hàng vay tiền với mục đích là tiêu dùng
nhiều hơn do để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của bản thân và của gia đình, các ngân hàng
thương mại cần nhận ra điều đó, đó là một thách thức đối với ngân hàng cũng như là một
cơ hội đối với ngân hàng, vì vậy mà các ngân hàng cần đẩy mạnh hoạt động tín dụng,
những điều kiện đó sẽ giúp cho ngân hàng ngày càng phát triển và mang về một khoản
lợi nhuận, bên cạnh đó các ngân hàng cần mở rộng thị trường ra các nước bạn xung
quanh để tạo nên tiềm lực tài chính vững mạnh
Trong tương lai ngân hàng cân định hướng rõ, coi tín dụng tiêu dùng là đóng vai
trò chủ đạo trong các dịch vụ của ngân hàng, nghiệp vụ này sẽ là tiền đề cho các nghiệp
vụ khác cùng phát triển. Để làm được tốt điều đó thì ngân hàng cần mở rộng hoạt động