TIỂU LUẬN:
Báo cáo tổng hợp tại công ty
trách nhiện hữu hạn Phú Bình
Lời nói đầu Trong thời gian thực tập tại công ty trách nhiện hữu hạn (TNHH) Phú Bình, dựa trên
cơ sở lí thuyết đã học tại trường và những điều thực tế tại doanh nghiệp, được sự giúp đỡ
của tiến sĩ Nguyễn Xuân Quang, thạc sĩ Đinh Lê Thị Hải Hà và các cán bộ của công ty,
tôi đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu tình hình sản xuất kinh doanh của công ty để đề ra các
biện pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh của công ty làm chuyên đề cho báo cáo thực tập
tổng hợp của tôi.
Trong thời gian viết báo cáo mặc dù hết sức cố gắng nhưng do thời gian có hạn , kinh
nghiệm chưa có, cơ sở lí luận chưa tốt nên bài viết còn nhiều khiếm khuyết. Tôi rất mong
được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo về mặt lí luận và các cán bộ của công ty trên cơ sở
thực tế để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của
thạc sĩ và các cán bộ của công ty đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bản báo các thực tập
tổng hợp này.
- Công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản làm tăng giá trị của nông sản, thúc đẩy nông
nghiệp phát triển.
- Công nghiệp sản xuất ra phần lớn các hàng tiêu dùng phục vụ đời sống và xuất khẩu.
Mỗi chuyên ngành công nghiệp có vai trò, vị trí nhất định trong nền kinh tế quốc dân,
tuỳ thuộc vào công dụng của sản phẩm và hiệu quả kinh tế xã hội mà nó mang lại.
Các ngành công nghịêp chế biến tạo ra các sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối
cùng, đáp ứng hầu hết các nhu cầu của sản xuất, đời sống, xuất khẩu, thúc đẩy phát triển
các ngành kinh tế quốc dân. Phát triển công nghiệp chế biến mang lại hiệu quả kinh tế xã
hội cao. Hoá chất là một trong những ngành công nghiệp chế biến quan trọng của nước ta.
Phát triển ngành hoá chất tạo điều kiện thuận lợi và làm tiền đề cho các ngành khác phát
triển. Hoá chất là một mặt hàng tương đối phổ biến, nó được sử dụng rộng rãi ở các ngành
sản xuất khác.
Nhận biết được nhu cầu đó vào ngày 25 tháng 9 năm 1996 công ty trách nhiệm hữu
hạn Phú Bình được thành lập, với số vốn ban đầu là 600 triệu đồng.
Công ty bao gồm có 1 bộ phận sản xuất đặt tại: Lộc Hà - Đông Anh – Hà Nội.
Bộ phận kinh doanh đặt trụ sở tại 217 Ngô Gia Tự – Gia Lâm – Hà Nội
I . Chức năng, nhiệm vụ của công ty.
1. Chức năng.
1.1. Quản lí và sử dụng các nguồn lực
Quản lí và sử dụng các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh
Được chuyển nhượng cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản
Được thế chấp quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lí, sử dụngcủa
công ty tại ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật
1.2. Tổ chức quản lí, tổ chức kinh doanh
Kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng kí, đúng ngành nghề đã ghi trong chứng nhận
đăng kí sản xuất kinh doanh theo khả năng của công ty và nhu cầu của thị trường.
Khai thác và mở rộng thị trường trong và ngoài nước, xuất khẩu, nhập khẩu theo quy
Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và các khoản nộp ngân sách theo quy định của pháp luật.
Công bố công khai báo cáo tài chính hàng năm, các thông tin theo quy định của Chính
phủ để đánh giá đúng đắn và khách quan sự hoạt động của công ty.
2.4. Trong quan hệ với cơ quan quản lí
Chịu sự thanh tra và kiểm tra của đại diện chủ sở hữu, của cơ quan quản lí nhà nước
theo ngành, theo lĩnh vực kinh doanh, trên cùng lãnh thổ.
Thực hiện chế độ báo cáo định kì theo quy định của Nhà nước, báo cáo bất thường
theo yêu cầu của cơ quan quản lí có thẩm quyền Có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm
trực tiếp trước pháp luật trong phạm vi quyền hạn và nghĩa vụ được quy định tại điều lệ.
Công ty hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước và các quy định khác của pháp
luật, chịu sự quản lí của nhà nước. Vốn và các nguồn lực khác do công ty tự huy động
Con dấu theo quy định của nhà nước
Có tài khoản riêng
Bảng cân đối tài sản, các quỹ theo quy định của nhà nước
Có quyền tự chủ trong kinh doanh
Phần II. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty Phú Bình.
I .Đặc điểm lĩnh vực kinh doanh.
Công ty Phú Bình là một công ty vừa sản xuất vừa kinh doanh, nên ta xét đặc điểm
lĩnh vực kinh doanh của nó trên hai khía cạnh: sản xuất và kinh doanh.
1. Sản xuất
Công ty Phú Bình tiến hành sản xuất sản phẩm liên quan đến lĩnh vực hoá chất. Công
ty có một bộ phận sản xuất đặt tại Lộc Hà - Đông Anh – Hà Nôi.Với khoảng 35 công
nhân có tay nghề cao tiến hành sản xuất ở bộ phận này.
Trong bài này tôi chỉ trình bày đặc điểm của các sản phẩm do công ty sản xuất ra mà
không trình bày đặc điểm các sản phẩm mà công ty nhập về để kinh doanh. Đồng Sunfát(CuSO
4
) là một loại muối vô cơ, đựơc sản xuất từ nguyên liệu đồng(Cu)
và axít Sunfuric(H
2
SO
4
). Phục vụ cho nông nghiệp, phan bón, thuốc bảo vệ thực vật.
Chất tẩy rửa công nghiệp phục vụ cho việc tẩy rửa các chất bẩn, các vết bẩn.
Kẽm Sunfát (ZnSO4) cũng là một loại muối vô cơ, dùng cho trong ngành công nghệp
chế biến phân bón.
II.Đặc điểm thị trường khách hàng
Vai trò to lớn của thị trường luôn được khẳng định trong quá trình kinh doanh. Thị
trường là sống còn đối với sản xuất kinh doanh hàng hoá. Còn thị trường thì còn sản xuất
kinh doanh, mất thị trường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ.
Đối với một công ty vừa sản xuất vừa kinh doanh như công ty Phú Bình thì việc chiếm
lĩnh được thị trường đầu vào cũng như thị trường đầu ra là rất cần thiết.
Sản phẩm sản xuất ra của công ty phụ thuộc không nhỏ vào nguồn nguyên liệu đầu
vào. Chất lượng của nguyên liệu quyết định chất lượng sản phẩm mà công ty sản xuất.
Chính vì vậy mà việc lựa chọn nguồn cung cấp của công ty được quan tâm rất lớn. Công
ty luôn phải nhập các nguyên liệu tốt từ các nhà cung cấp có uy tín trên thị trường, những
nhà cung cấp có quan hệ tốt lâu đời đối với công ty. Bên cạnh việc nhập nguyên liệu để
tiếnh hành sản xuất, công ty còn nhập các loại thành phẩm để bán. Các sản phẩm mà cont
y nhập về phải đạt tiêu chuẩn chất lượng của Nhà nước, của các tổ chức kiểm định chất
lượng. Đầu vào của công ty thường được nhập từ các công ty hoá chất trong nước như:
Công ty hoá chất Việt Trì, Super phốt phát Lâm Thao, bên cạnh đó công ty còn nhập khẩu
- Cạnh tranh giữa các sản phẩm khác nhau để cùng thoả mãn một mong muốn.
- Cạnh tranh trong cùng loại sản phẩm.
- Cạnh tranh giữa các nhãn hiệu.
Thị trường hoá chất rất phong phú đa dạng với nhiều loại mặt hàng. Trên thị trường
hiện nay, các sản phẩm hoá chất được sản xuất ra từ nhiều các doanh nghiệp khác nhau, từ doanh nghiệp Nhà nước tới các doanh nghiệp tư nhân. Công ty Phú Bình là một công
ty TNHH, phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp khác trong nước bởi mỗi
sản phẩm công ty sản xuất ra đều có những sản phẩm cạnh tranh khác có cùng tác dụng.
Giá cả và chất lượng sản phẩm quyết định tới khả năng cạnh tranh của mỗi sản phẩm. Để
cạnh tranh với các doanh nghiệp hoá chất khác, công ty phải tiến hành nghiên cứu để
nâng cao chất lượng của sản phẩm sản xuất ra đồng thời hạ giá thành của sản phẩm.
Trong nền kinh tế mà người bán nhiều hơn người mua thì sự cạnh tranh diễn ra thật khốc
liệt. Để tồn tại và phát triển đòi hỏi mỗi công ty phải tự tìm cho mình hướng đi thật phù
hợp và có hiệu quả.
Bên cạnh việc cạnh tranh với các sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước, công ty
còn phải đối phó với các mặt hàng nhập về từ Trung Quốc trên thị trường nước ta. Như
chúng ta đều biết hoá chất của Trung Quốc có rất nhiều chủng loại với giá cả rẻ hơn nhiều
so với các sản phẩm của nước ta. Đây là thách thức rất lớn đối với không chỉ công ty Phú
Bình mà còn là của các công ty trong nước. Trung Quốc ngày càng chiếm một thị phần
hoá chất khá lớn ở nước ta. Tình hình đó yêu cầu công ty phải tìm mọi biện pháp để nhằm
làm giảm chi phí từ đó có cơ hội giảm giá thành sản xuất, có điều kiện cạnh tranh với hoá
chất Trung Quốc. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu của cả công ty trong quá trình phát
triển.
1Đặc điểm nội tại của công ty.
1. Cơ cấu tổ chức của công ty.
Giám đốc :
Giám đốc công ty là người là người có quyền điều hành cao nhất trong công ty và có
nghĩa vụ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của công ty.
Giúp giám đốc xây dựng và thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Bộ phận sản xuất:
Tiến hành các hoạt động sản xuất sản phẩm để công ty bán trên thị trường.
Sơ đồ tổ chức của công ty. 1.Đặc điểm về nhân lực.
Công ty Phú Bình có khoảng 50 cán bộ công nhân viên, hoạt động ở hai bộ phận sản
xuất và kinh doanh.
Bộ phận sản xuất có 35 người trong đó có:
1 phó giám đốc, chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất của công ty.
2 kĩ sư phụ trách về mặt kĩ thuật.
1 kế toán viên, chịu trách nhiệm hạch toán của bộ phận này.
30 công nhân có trình độ trực tiếp sản xuất.
2 bảo vệ phụ trách bảo vệ kho vật tư hàng hoá.
Bộ phận kinh doanh gồm có 15 người trong đó:
1 phó giám đốc chịu trách nhiệm kinh doanh.
. Có đầy đử
các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất. Công nghệ sản xuất cũng đã được cập
nhật thường xuyên.Cán bộ công nhân viên được trang bị đầy đủ các loại bảo hộ lao động
từ quần áo găng tay, khẩu trang, ủng, giày.
Bộ phận kinh doanh tách rời với bộ phận sản xuất. Bộ phận kinh doanh có trụ sở là
một ngôi nhà lớn nằm ở 217 Ngô Gia Tự – Gia Lâm – Hà Nội, đựơc trang bị đầy đủ các
thiết bị cho hoạt động kinh doanh như bàn ghế để làm việc và các thiết bị cần thiết khác…
Phần III. Kết quả kinh doanh và tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của công
ty.
I .Khái quát tình hình phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong mấy
năm gần đây.
1. Tình hình sản xuất.
Bảng 2: Tình hình sản xuất của công ty qua 3 năm từ năm 2000 đến năm 2002.
(Xem trang sau)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy sản lượng sản xuất của công ty:
Năm 2001 có sự giảm so với năm 2000 về một số mặt hàng như: Đồng Sunfát, giảm
so với năm 2000 là 12 tấn; hoa quả chế biến là 200 tấn. Nguyên nhân là do công ty thu
mua nguyên liệu gặp phải khó khăn do tình trạng khan hiếm các loại hoa quả; mặt hàng
đồng do công ty thu mua năm đó không đảm bảo đủ chất lượng nên sản lượng sản xuất ra
bị giảm sút.
Năm 2002, rút kinh nghiệm năm trước công ty đã tổ chức thu gom nguyên liệu ngay
từ đầu mùa vụ nên đã tăng được sản lượng trong sản xuất đối với các mặt hàng đồng
Sunfát, hoa quả chế biến so với năm 2001. Nhưng mặt hàng tinh chế nhựa thông thì sản
lượng lại giảm đi 45 tấn. Nguyên nhân là do năm 2001 mặt hàng vẫn còn tồn kho.
Tên s
ản phẩm
trường. Bên cạnh đó ta cũng thấy đặc điểm của hoá chất là không để được lâu, chính vì
thế mà công ty phải nghiên cứu nhu cầu thị trường thế nào để cho lưọng tồn kho là nhỏ
nhất.
Qua bảng trên ta cũng nhận thấy điều đặc biệt là mặt hàng hoa quả chế biến luôn được
tiêu thụ hết, nguyên nhân là do mặt hàng này hầu hết là nhập khẩu sang Trung Quốc, sản
xuất theo đơn đặt hàng.
Năm 2002, mặt hàng tinh chế nhựa thông tiêu thụ rất mạnh. Sản xuất 300 tấn nhưng
tiêu thụ lên tới 327 tấn.
Tên sản phẩm Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Sản
xuất
Tiêu
thụ
Sản
xuất
Tiêu
thụ
Sản
xuất
Tiêu
thụ
Đồng Sunfát 197 190 185 185 245 233
Tinh ch
ế nhựa thông
290
278
345
Bảng 4: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua 3 năm
từ năm 2000 đến năm 2002.
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2000 Năm 2001 Năm2002
Giá tr
ị sản xuất
Tri
ệu
đ
ồng
12305,7
11549
13630,68
Doanh thu Triệu đồng 15877,5
15000
16816,38
Nộp ngân sách Triệu đồng 952,65
870
1042,592
Trong nền kinh tế thị trường vai trò của kế hoạch hoá không giảm đi mà lại được tăng
lên, nó như một công cụ một yếu tố để tổ chức và quản trị các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp có hiệu quả.
Đối với mỗi doanh nghiệp có các kế hoạch: Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm; kế hoạch mua
sắm, dự trữ và vận chuyển; kế hoạch hoá tài chính doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh công ty Phú Bình đã tiến hành lập được
một số các kế hoạch sau:
Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm: Bao gồm kế hoạch bán hàng, kế hoạch chi phí
kinh doanh cho hoạt động tiêu thụ và kế hoạch quảng cáo.Về nguyên tắc kế hoạch bán
hàng là cơ sở của mọi kế hoạch bộ phận của mọi lĩnh vực chức năng khác của doanh
nghiệp.
Bảng 5: Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ của công ty
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2000
Năm2001
Năm2002
KH TT KH TT KH TT
Giá tr
ị sản xuất.
12616
12305,7
TT
KH
TT
KH
TT
Các loại hoa quả Tấn 1400 1400 1500 1200 1500 1495
Đồng(C
u
) Tấn 200 200 245 200 250 250
Kẽm(Z
n
) Tấn 50 50 55 55 50 50
Axít HCl Lít 6500 6000 7500 7000 7500 7500
Axít H
2
SO
4
Lít 6500 6500 7500 6900 7500 7500
Nhìn chung công ty đã thực hiện hoàn thành kế hoạch mua nguyên liệu cho sx. Tuy
nhiên, vào năm 2001 kế hoạch mua thu gom các loại hoa quả đã không hoàn thành chỉ
tiêu của năm, nguyên nhân là do tình hình khan hiếm của các mặt hàng này trên thị
trường, điều này cũng có ảnh hưởng nhất định trong quá trình sản xuất.
2. Hoạt động nghiên cứu thị trường.
Bất kì một doanh nghiệp nào trong quá trình hoạt động cũng phải nghiên cứu thị
3
4
1
2
3
4
1
2
3
4
Vị trí các thị trường * * *
Giá cả của thị trường * * *
Tình hình c
ạnh tranh
*
Chú giải: 1: Điều kiện không thuận lợi
2: Điều kiện bình thường
3: Điều kiện thuận lợi
4: Điều kiện rất thuận lợi
Thông qua bảng trên ta thấy đối với công ty Phú Bình thì thị trường miền Bắc là thị
trường mà doanh nghiệp có nhiều thuận lợi nhất, tuy vậy tình hình cạnh tranh ở thị trường
này rất khó khăn, bởi trong thị trường này có rất nhiều đối thủ cạnh tranh từ các công ty
Nhà nước cũng như tư nhân như: Công ty hoá chất Đức Giang; công ty hoá chất Việt
Trì… Thị trường miền Nam công ty chưa có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng đó là thị trường
tiềm năng mà công ty có thể khai thác để mở rộng thị trường của mình.
3. Công tác tạo nguồn.
Để phục vụ cho hoạt động sản xuất công ty phải tiến hành mua sắm nguyên vật liệu.
Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, nhu cầu nguyên vật liệu luôn biểu hiện dưới dạng cầu.
Nhu cầu nguyên vật liệu có mối liên hệ trực tiếp với sản xuất và lưu thông hàng hoá. Mối
liên hệ này được thể hiện:
Nhu cầu nguyên vật liệu Sản xuất
Cầu nguyên nhiên vật liệu nhu cầu, khả năngthanh toán, giá cả sản xuất,
cung hàng hoá sản xuất.
Cơ cấu nhu cầu nguyên nhiên vật liệu của công ty cho sản xuất được thể hiện dưới
dạng sau:
Tổng nhu cầu cho sản xuất
Phân
xưởng
ản
xuất
các
phụ
trợ
cần
thiết
Các nhân tố hình thành nhu cầu nguyên vật liệu trong công ty: Tiến bộ khoa học kĩ
thuật trng các yếu tố sản xuất; quy mô tái sản xuất; khối lượng và cơ cấu sản phẩm sản
xuất, quy mô thị trường; cung vật tư hàng hoá; giá cả nguyên nhiên vật liệu….
Trong nền kinh tế thị trường yêu cầu của hiệu quả kinh doanh đòi hỏi công ty phải hết
sức quan tâm đến việc mua sắm và sử dụng nguyên vật liệu. Nhu cầu cần phải được tính
toán khoa học làm sao với số lượng nguyên vật liệu cần phải mua về ở mức tối thiểu mà
vẫn đảm bảo được yêu cầu của sản xuất. Điều này đòi hỏi công ty phải có phương pháp
xác định cụ thể. Đối với công ty Phú Bình thì áp dụng phương pháp tính nhu cầu nguyên
vật liệu theo sản lượng sản phẩm.
Công thức xác định:
Nnc = Qsp Msp
Trong đó:
N
sx
: nhu cầu nguyên vật liệu dùng để sản xuất sản phẩm
Q
sp
: sản lượng sản xuất trong kì kế hoạch
Msp: mức sử dụng vật tư cho đơn vị sản phẩm.
Chính vì có sự tính toán cân nhắc khoa học mà công ty đã tiết kiệm được rất nhiều chi
Năm 2002
Xút(NaOH) Tấn 47 45 50
Na
3
PO
4
T
ấn
20
25
18
HNO
3
Tấn 18 20 23
H
3
PO
4
Tấn 15 10 10
Chất xử lí nước Tấn 117 120 100
4. Công tác tổ chức.
Để thành công trong kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp cần được thực hiện trên
Năm 2000: 700000 đồng /1 công nhân/1 tháng
Năm 2001: 720000 đồng /1 công nhân/1 tháng
Năm 2002: 800000 đồng / 1 công nhân/1 tháng
5. Tình hình tiêu thụ của công ty
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố
quyết định sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường.
Tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò trong việc phản ánh kết qủa cuối cùng của hoạt động sản
xuất kinh doanh. Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Qua tiêu thụ tính chất hữu cơ của sản phẩm mới được xác định một cách hoàn
toàn, tái sản xuất đươc mở rộng, tăng nhanh quá trình tiêu thụ là tăng nhanh vòng quay
của vốn lưu động và tiết kiệm vốn.
Công tác tiêu thụ gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp cho người sản xuất
hiểu thêm về kết quả của sản xuất và nhu cầu của khách hàng. Qua công tác tiêu thụ sản
phẩm mà doanh nghiệp có điều kiện đổi mới kỹ thuật công nghệ và ứng dụng công nghệ
mới vào sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, tạo điều kiện
cho doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ, mở rộng các hình thức liên
doanh liên kết.
5.1. Tiêu thụ theo loại sản phẩm.
Bảng 9: Tình hình tiêu thụ theo loại sản phẩm
Nhìn vào biểu đồ ta thấy mặt hàng hoa quả chế biến có sản lượng tiêu thụ nhiều nhất: năm
2000 là 1400 tấn, năm 2001 là 1200 tấn, năm 2002 là 1495 tấn.
Các mặt hàng luôn giữ được khối lượng tiêu thụ tăng hàng năm là: Xút, axít HNO
3
,
tinh chế nhựa thông, chất tẩy rửa công nghiệp. Trong khi đó mặt hàng chất xử lí nước thì
khối lượng tiêu thụ giảm hàng năm.
233
125,9459
T
ấn
Hoa qu
ả chế
biến
1400
93,33333
1200
85,71428
1495
124,5833
T
ấn
Tinh ch
ế
nhựa thông
278
110,5714
367
94,83204
Tấn Chất xử lí
nước
115
101,76991
110
95,65217
100
90,90909
Tấn Axít HNO
3
17
113,33333
19
111,7647
122,22
9
81,818182
Tấn MuốiNa
3
PO
4
20
111,11111
17
85
17
100