1
PL
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------- CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2009”
TÊN CÔNG TRÌNH:
FRANCHISE_ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 06 năm 2009
2
PL
MỤC LỤC
LỜI MỞ DẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.3.1. Bài phỏng vấn số 1: TS LÝ QUÝ TRUNG_ Tổng giám đốc thương hiệu
PHỞ 24 & Giám đốc điều hành Nam An Group ……….…………….36
2.3.2. Bài phỏng vấn số 2: CAO MINH KIM KHÁNH-
Trưởng phòng nhượng quyền của iSPACE………………………..……38
KẾT LUẬN CUỐI CHƯƠNG 2………………………………………41
Chương 3:
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP RÚT RA TỪ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
3.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình nghiên cứu việc
áp dụng hình thức Franchise của các doanh nghiệp tại thành
phố Hồ Chí Minh ………………………………………………………….42
3.2. Giải pháp trong quá trình nghiên cứu và phân tích số liệu
3.2.1. Đề xuất của nhóm dựa trên các nhân tố rút ra từ
mô hình hồi quy……………………………………………...…………44
3.2.2. Giải pháp chung
A.Đối với các nhà nhượng quyền…………………………..……….47
B.Đối với các nhà nhận quyền………………………………...…….48
C.Giải pháp chung…………………………………………….……..49
KẾT LUẬN ĐỀ TÀI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
PL
PHỤ LỤC
Phụ Lục 1: Bảng 1.1: Hệ thống nhượng quyền và số cửa hàng nhượng quyền ở một số
nước trên thế giới đến năm 2006 ……………………………….............1PL
Phụ Lục 2: Luật về Nhượng Quyền Thương Mại tại Việt Nam …….….4PL
Phụ Lục 3: Hồ sơ đăng ký nhượng quyền của doanh nghiệp trong nước và nước
thách thức mới để ngày càng đổi mới _ trở thành một đất nước có nền kinh tế sôi động,
thu hút nhiều nhà đầu tư trên thế giới. Với một nền kinh tế thị trường mở rộng, Việt Nam
đang ngày càng có nhiều công ty nước ngoài thâm nhập vào thị trường, điều này đã làm
cho thị trường Việt Nam trở nên sôi động và có tính cạnh tranh gay gắt hơn. Những
thương hiệu nổi tiếng trên thế giới cũng đã có mặt tại Việt Nam như KFC, Gloria Jeans
Coffees …, ngày càng khẳng định tên tuổi của mình với một hệ thống kinh doanh rộng
khắp.
Trong bối cảnh như vây, một phương thức kinh doanh mới cũng đã xuất hiện tại Việt
Nam _ Nhượng Quyền Thương Mại ( Franchise ). Với phương thức kinh doanh này, nhà
đầu tư có thể sử dụng vốn của mình một cách hiệu quả và ít rủi ro, phát triển nhanh thị
trường, mở rộng thị trường và có được chổ đứng trong lòng khách hàng.
Nhượng quyền thương mại đã có từ rất lâu trên thế giới, nhưng đây là một lĩnh vực khá
mới mẽ tại Viêt Nam. Có thể thuật ngữ “ nhượng quyền kinh doanh” hay “ nhượng
quyền thương mại” thì nhiều người đã nghe qua nhưng hiểu về hình thức này thì không
nhiều. Trên thế giới, có rất nhiều thương hiệu nổi tiếng đã áp dụng thành công hình thức
kinh doanh này như Mc’Donald, KFC, Gloria Jeans Coffees …, từ đó đã tạo được thương
hiệu mạnh có một vị thế chắc chắn trên thế giới. Còn tại Việt Nam, những thương hiệu
như: Phở 24, Cà phê Trung Nguyên … _ được coi là những thương hiệu mạnh và có tiềm
năng phát triển cao nhưng lại chưa có được một chỗ đứng và uy tín đối với khách hàng
trong nước và thế giới. Cà phê Trung Nguyên được coi là thương hiệu tiên phong trong
việc áp dụng phương thức kinh doanh này tại Việt Nam và đã gặp hái được nhiều thành
công trong nước lẫn quốc tế. Nhưng rồi sau đó là sự tụt hậu và mất kiểm soát trong hệ
thống nhượng quyền, để đến một ngày Trung nguyên không còn là một hệ thống lớn
mạnh như trước nữa.
6
PL
Từ đó nhiều người sẽ tự hỏi rằng, hình thức kinh doanh này có thật sự phù hợp với
nước ta hay là nó có quá nhiều rủi ro? Do đâu mà những thương hiệu lớn trên thế giới lại
áp dụng hình thức này thành công đến như vậy, còn những thương hiệu Việt Nam thì lại
không?
thương mại
- Nghiên cứu các tài liệu về Franchise qua sách báo và Internet.
- Thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu .
5. Tính mới
Hình thức Franchise chỉ mới thực sự phổ biện tại Việt Nam cũng như thành phố Hồ Chí
Minh trong vài năm gần đây. Hiện nay tại nước ta vẫn chưa có một trung tâm đào tạo nào
đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực này và cũng ít ai có thể hiểu rõ hình thức kinh doanh này.
Do đó, nghiên cứu về hình thức Franchise _ Nhượng quyền thương mại là một đề tài
nghiên cứu còn khá mới mẻ tại thành phố Hồ Chí Minh.
6. Bố cục
Đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sờ lý luận
1.1. Quá trình hình thành và phát triển Franchise trên thế giới
1.2. Khái niệm và phân loại Franchise
1.3. Quy định pháp luật về Franchise
Chương 2: Phân tích kết quả nghiên cứu mức độ hài lòng của khách hàng đối với các
thương hiệu đang nhượng quyền thương mại thông qua bảng khảo sát – Sử dụng phần
mền phân tích dữ liệu SPSS
2.1. Phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của
khách hàng đối với các thương hiệu đang nhượng quyền thương mại tại
thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc khảo sát bằng bảng câu hỏi
2.2. Thực trạng nhượng quyền thương mại tại thành phố Hố Chí Minh
2.3. Phỏng vấn đại diện của một số công ty tiêu biểu đang áp dụng hình thức nhượng
quyền thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh ( Nhóm đã phỏng vấn TS Lý Quý Trung-
Tổng giám đốc thương hiệu PHỞ 24 & Giám đốc điều hành Nam An Group và anh Cao
Minh Kim Khánh - Trưởng phòng nhượng quyền của iSPACE )
Chương 3: Những bài học kinh nghiệm và giải pháp rút ra từ đề tàinghiên cứu khoa học
8
PL
3.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình nghiên cứu việc áp dụng hình thức Franchise
PL
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Quá trình hình thành và phát triển Franchise trên thế giới
Từ cách đây hàng trăm năm, Franchise đã xuất hiện tại Châu Âu, rồi sau đó lan
rộng và phát triển mạnh tại Mỹ. Vào thập niên 90, khi tình hình khủng hoảng kinh tế
bùng nổ, nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, việc cắt giảm biên chế xảy ra ở hầu hết
các nước. Khi đó, tại những nước bị ảnh hưởng, đặc biệt là Mỹ, các nhân viên quản trị
cao cấp đã tìm đến hình thức kinh doanh Franchise như một giải pháp cứu cánh lúc bấy
giờ. Họ tự bỏ vốn và làm chủ mô hình kinh doanh của mình, đồng thời họ cũng đã góp
phần vào sự phát triển mạnh mẽ của hình thức này tại Mỹ.
Năm 1851, nhà sản xuất máy may Singer của Mỹ đã ký và thực hiện hợp đồng
nhượng quyền thưong mại đầu tiên và trở thành người tiên phong trong việc phát triển
của hình thức kinh doanh này. Đây cũng là hợp đồng nhượng quyền đầu tiên được ký
giữa người nhượng quyền và người nhận quyền.
Tuy nhiên, theo nhiều tài liệu ghi nhận thì sự phát triển ồ ạt của các trạm xăng và
các gara buôn bán xe hơi sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất, được coi là một trong
những loại hình kinh doanh đầu tiên được nhân rộng thông qua hình thức nhượng quyền
_ nhưng ở đây chỉ là hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm.
Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai, mô hình kinh doanh Franchise mới thực sự
bùng nổ và trở nên phổ biến nhất là trong các ngành dịch vụ, bán lẻ, phân phối, nhà hàng
và khách sạn. Khi nhắc tới hình thức kinh doanh Franchise, người ta sẽ liên tưởng ngay
đến ngành ăn uống mà cụ thể là các chuỗi nhà hàng “fast food” như Mc’Donald, KFC,
Lotteria … và hiện nay ngành này cũng đang là ngành sử dụg phương thức Franchise
nhiều nhất
Hiện nay, Franchise đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới với mức tăng
trưởng cao. Tùy theo tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và đặc thù của mỗi nước mà hoạt
động nhượng quyền thương mại có tốc độ và qui mô phát triển khác nhau. Theo thống kê
từ World Franchise Council (WFC, 2006), nhóm nước phát triển có hoạt động nhượng
quyền thương mại diễn ra mạnh mẽ hơn so với các nước đang phát triển hay kém phát
triển.
Nguồn: Theo cuộc điều tra nhượng quyền của WFC được thực hiện bởi EFF –10/2006
2100
1500
1088
971
929
880 850
850 850
735
0
500
1000
1500
2000
2500
Trung Qu
ố
c M
ỹ
Nh
ậ
t B
ả
n Barzil (2005) Pháp
Đứ
c Canada Philippines
(2003)
Ấ
n
trưởng và cả thị phần của ngành thực phẩm, bản lẻ luôn chiếm tỷ trọng cao.
12
PL
-20% 0% 20% 40% 60% 80% 100% 120%
Dịch vụ trẻ em
Dịch vụ thông thường
Xây dựng
Bất động sản
Nhà hàng
Dịch vụ kinh doanh
Bảo trì
Giáo dục
Du lịch
Thức ăn bán lẻ
Thể thao
Thức ăn nhanh
Hàng gốm sứ
Cửa hàng bán lẻ
Phòng cho thuê
Ô tô
Dịch vụ cá nhân
In ấn
Tỉ lệ tăng trưởng số cửa hàng nhượng quyền trong các ngành ở Mỹ 2000 – 2006
Nguồn: Darrell Johnson - Franchise Leadership and Development Conference 2007
1.2. Khái niệm và phân loại Franchise
1.2.1. Khái niệm Franchise
Trên thế giới, tùy vào nền văn hóa, kinh tế hay chính trị mà quan niệm về nhượng
quyền cũng khác nhau.Từ franchise có nguồn gốc từ tiếng pháp là “franc” có nghĩa là
bán hàng. Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh
doanh do bên giao sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng
kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”.
Ủy ban thương mại liên bang Hoa Kỳ _ định nghĩa một hợp đồng nhượng quyền
thương mại là hợp đồng theo đó bên giao hỗ trợ đáng kể cho bên nhận trong việc điều
hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ cách thức vận hành của bên nhận, chuyển
quyền sở hữu nhãn hiệu cho bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn
hiệu hàng hóa của bên giao và yêu cầu bên nhận thanh toán cho bên giao một khoản phí
tối thiểu.
14
PL
Luật sở hữu công nghiệp của Mêhico có hiệu lực từ tháng 6 năm 1991 quy định:
“Nhượng quyền thương mại tồn tại khi một “li-xăng” cấp quyền sử dụng một thương hiệu
nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản
xuất, chế tạo hoặc bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp
vận hành, các hoạt động thương mại hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu thiết lập
với chất lượng, danh tiếng, hình ảnh của sản phẩm hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới
thương hiệu đó”.
Chương 54, Bộ luật dân sự Nga _ định nghĩa bản chất pháp lý của “sự nhượng quyền
thương mại” như sau: “Theo Hợp đồng nhượng quyền thương mại, một bên (bên có
quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay
không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh cảu bên sử dụng
một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ
dẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc lập theo hợp đồng
đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ”.
Theo Hiệp hội nhượng quyền Pháp, nhượng quyền thương mại là một phương thức
hợp tác giữa một bên là nhà nhượng quyền và bên còn lại là một hay nhiều nhà nhận
nhượng quyền để khai thác hàng hóa, dịch vụ hay công nghệ mà người nhượng quyền sở
hữu. Trong đó, bao gồm quyền sở hữu của hàng hóa hay dịch vụ, bí mật hay bí quyết
kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ hay công nghệ. Trên cơ sở đối tượng nhượng quyền này,
triển và bất cứ hoạt động nào của các bên tham gia nếu không tương thích với những yêu
cầu của hệ thống nhượng quyền thương mại cũng sẽ làm cho hệ thống ấy có nguy cơ sụp
đổ hay biến đổi sang một hình thức kinh doanh khác thậm chí là biến mất khỏi thị trường.
Điều này thực sự là một thử thách mà cả nhà nhượng quyền và nhà nhận quyền thường
xuyên phải đối mặt.
Để kinh doanh thành công bằng hình thức này, trước hết chúng ta cần làm quen
với các thành phần cơ bản hình thành nên hệ thống nhượng quyền thương mại đã được
nhiều quốc gia, nhiều tổ chức và doanh nghiệp trên thế giới áp dụng.
Nhà nhượng quyền (Franchisor): là một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu thương hiệu, sản
phẩm hay dịch vụ hoặc bí quyết, có mô hình kinh doanh tối ưu… và tiến hành hình thức
kinh doanh bằng cách nhượng quyền cho một hoặc nhiều đối tác qua việc thực hiện hợp
đồng nhượng quyền thương mại.
16
PL
Nhà nhận quyền (Franchisee): là cá nhân hoặc tổ chức kinh doanh được bên nhượng
quyền thông qua hợp đồng nhượng quyền cho phép sử dụng thương hiệu, mô hình, hệ
thống các quy trình… để kinh doanh sản phẩm dịch vụ theo một chuẩn thống nhất được
nhà nhượng quyền quy định trong cẩm nang nhượng quyền trong một khoảng thời gian,
địa điểm và phạm vi nhất định.
Phí nhượng quyền (Initial fee or Franchise fee): là khoản phí không hoàn lại mà nhà
nhận nhượng quyền phải trả cho nhà nhượng quyền để gia nhập hệ thống nhượng quyền
cho việc kinh doanh ở một địa điểm hoặc khu vực xác định trong một khoảng thời gian
nhất định được hai bên thống nhất trong hợp đồng nhượng quyền. Tùy vào chiến lược
kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và uy tín trên thương trường của nhà nhượng quyền
mà mức phí này có giá trị khác nhau. Đôi khi mức phí này cũng thay đổi tùy theo vùng
miền địa lý của từng hệ thống nhượng quyền thương mại.
Phí hoạt động hay phí vận hành (Royalty fee): là khoản phí mà nhà nhận nhượng
quyền phải trả hàng tháng hoặc quí hoặc năm cho nhà nhượng quyền, được căn cứ trên
doanh thu thu được tại địa điểm hoạt động của mình. Mức phí này có thể là tỷ lệ phần
trăm doanh thu của tất cả sản phẩm được bán tại cửa hàng hoặc là một mức phí cố định
nặng của mình trong việc phát triển thương hiệu cho đối tác đại lý độc quyền. Do đó,
phần phí franchise (gồm phí ban đầu và phí hàng tháng) thu được từ phía người mua
franchise sẽ được chủ thương hiệu chia cho đại lý franchise độc quyền này theo tỉ lệ thỏa
thuận như 50/50, 60/40, hay 70/30.
Thường thì bên đại lý franchise độc quyền sẽ được chia phần nhiều hơn chủ thương hiệu
vì phần lớn công sức và chi phí tìm kiếm và phát triển số người mua franchise trong khu
vực đều do phía đại lý franchise độc quyền gánh chịu.
Song đại lý franchise độc quyền thường phải cam kết với chủ thương hiệu rẳng trong một
thời gian nhất định phải có bao nhiêu cửa hàng nhượng quyền mở ra, và nếu không thực
hiện được đúng cam kết này thì coi sẽ mất độc quyền. Do đó nhiều đại lý franchise độc
quyền đã tự đứng ra mở thêm cửa hàng để đáp ứng số lượng chỉ tiêu đề ra bởi hợp đồng
thỏa thuận giữa họ và chủ thương hiệu trung bình kéo dài khoảng 10-20 năm.
B. Franchise phát triển khu vực
Người mua franchise phát triển khu vực cũng sẽ độc quyền trong một phạm vi và thời
hạn nhất định. Tuy nhiên, khác với Master Franchise, đối tác mua franchise phát triển
khu vực không được bán lại cho bất cứ ai nhưng cũng không phải cung cấp các dịch vụ
18
PL
cho ai như đối với trường hợp Master franchise. Để được độc quyền trong một khu vực
nhất định, người mua franchise phát triển khu vực phải trả một khoản chi phí franchise
ban đầu tương đối cao và phải cam kết phát triển được bao nhiêu cửa hàng theo một tiến
độ thời gian đã được ghi rõ trong hợp đồng đã được thống nhất với chủ thương hiệu. Nếu
không đáp ứng đúng những thỏa thuận trong hợp đồng, doanh nghiệp này sẽ bị mất ưu
tiên độc quyền tương tự như đối với trường hợp của Master franchise.
C. Bán cho từng cá nhân riêng lẻ
Đây là hình thức bán franchise lẻ trực tiếp cho từng đối tác tại nước ngoài và hình
thức này chỉ thích hợp đối với các quốc gia nằm cung khu vực và chủ thương hiệu không
có nhu cầu phải bán nhiều franchise. Điểm lợi thế lớn của hình thức bán lẻ này là chủ
thương hiệu có thể làm việc và kiểm tra sâu sát với từng doanh nghiệp nhượng quyền.
Ngoài ra, phí franchise thu được không phải chia cho một đối tác trung gian nào. Tuy
franchise công bố cho người mua franchise là quan trọng nhất. Thuật ngữ chuyên môn về
tài liệu công bố này được gọi là Uniform Franchise Offering Circular, viết tắt là UFOC.
Tài liệu này thường chỉ ra từng hạng mục chi tiết mà người bán franchise phải công bố
cho các đối tác mua franchise tiềm năng và phải được trao cho đối tác trước khi ký hợp
đồng franchise. Nói cách khác, chủ thương hiệu phải cung cấp đầy đủ thông tin về công
ty, sản phẩm, mô hình kinh doanh, tình hình hoạt động của doanh nghiệp, các quy định
về việc nhượng quyền … để người mua franchise biết và quyết định có mua franchise
hay không.
Nhiều quốc gia còn quy định cụ thể thời gian nào bên bán franchise phải trao cho
bên mua franchise này chứ không phải để tới cận kề ngày ký hợp đồng franchise. Sau đây
là những quy định về Franchise được công bố trong tài liệu UFOC của Mỹ.
Gồm 23 hạng mục thông tin cập nhật nhất về chủ thương hiệu và gần như toàn bộ các
điều khoản chính của một hợp đồng franchise. Đa số các cá nhân từng mua franchise ở
các nuớc trên thế giới đều nhờ luật sư chuyên về franchise rà soát từng hạng mục và sau
đó góp ý xem hạng mục nào nên hay có thể chỉnh sửa. Thương hiệu lớn, đã có tiếng thì
lúc nào cũng khó khăn hơn trong việc đàm phán chỉnh sửa các hạng mục theo hướng có
lợi hơn cho người mua franchise. Và có những hạng mục gần như không thể đàm phán
được, do đó người mua franchise phải ý thức được điều này khi đàm phán, ví dụ như các
phí franchise ban đầu, phí franchise hàng tháng… Sau đây là một số chi tiết của 23 hạng
mục trong một UFOC này:
20
PL
1. Chủ thương hiệu và hệ thống franchise. hạng mục này bao gồm lịch sử của hệ thống
franchise như tên thương hiệu, địa chỉ và những vị trí mặt bằng đang kinh doanh. Mô tả
khái quát về hệ thống franchise như mô hình kinh doanh, thâm niên, kinh nghiệm… Tất
cả nhằm mục địch cung cấp thông tin, giúp cho đối tác mua franchise hiểu hơn về hệ
thống franchise truớc khi quyết định mua franchise.
2. Kinh nghiệm của chủ thuơng hiệu. Đây là phần giới thiệu kinh nghiệm, khả năng và
tiểu sử làm việc trong hội đồng quản trị (nếu có), ban giám đốc và một số ví trí quản lý
chủ chốt khác ít nhất trong thời gian là 5 năm. Một công ty mạnh lúc nào cũng bắt đầu
công bố trước tất cả các thiết bị, các nguồn hàng, nguồn cung cấp mà đối tác mua
franchise bắt buộc phải mua hay thuê. Bên cạnh đó, chủ thương hiệu chủ thương hiệu
cũng phải công bố nguồn hàng nào mình có nhận huê hồng hay có lãi từ việc mua hàng
của đối tác mua franchise.
9. Nghĩa vụ của người mua franchise. Phần này sẽ liệt kê từng nghĩa vụ chính yếu của
người mua franchise trong hợp đồng nhượng quyền.
10. Nghĩa vụ của người bán franchise. Tương tự nghĩa vụ của người mua franchise, nghĩa
vụ của người bán franchise cũng phải được quy định rõ rang và cụ thể, trong đó không
thể thiếu nghĩa vụ đào tạo và dịch vụ hỗ trợ cho cửa hàng franchise trước và sau khai
trương. Ví dụ, chương trình về huấn luyện, đào tạo phải được ghi rõ rang là trong thời
gian bao lâu, tại đâu và tiến hành như thế nào.
11. Hỗ trợ tài chính. Bao gồm các thông tin liên quan đến khả năng hỗ trợ tài chính của
chủ thương hiệu đối với các đối tác mua franchise. Nhiều hệ thống franchise trên thế giới
có chương trình hỗ trợ hoặc cho đối tác mua franchise vay tiền với lãi suất ưu đãi để mở
cửa hàng franchise, tuy nhiên trường hợp này không còn phổ biến. Tại Việt Nam, việc hỗ
trợ tài chính trực tiếp từ phía chủ thương hiệu còn khó khả thi hơn do mô hình kinh
doanh franchise còn khá mới mẻ. Giới thiệu đối tác mua franchise vay tiền từ ngân hàng
hay tổ chức tín dụng có quan hệ tốt với chủ thương hiệu thì khá phổ biến tại Mỹ, Úc,
châu Âu và nhiều quốc gia khác. Nhưng người mua franchise không nên kỳ vọng gì
nhiều từ nguồn tài chính trực tiếp hay gián tiếp của chủ thương hiệu.
12. Độc quyền lãnh thổ. Nếu chủ thương hiệu cấp phép độc quyền cho người mua
franchise trong một khu vực hay lãnh thổ nhất định nào đó thì các quy định, nghĩa vụ,
quyền hạn, điều kiện liên quan phải được ghi rõ trong hạn mục này.
22
PL
13. Thông tin về nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng và khẩu hiệu. Chủ thương hiệu phải
cho biết rõ tất cả những thông tin lien quan đến việc đăng ký của nhãn hiệu, thương hiệu,
biểu tượng, và khẩu hiệu nếu có. Đã có một số trường hợp xảy ra ở nước ngoài chủ
thương hiệu chưa đăng ký bảo hộ mà bán franchise, do đó dẫn đến trường hợp khiếu nại
sau này. Người mua franchise cũng có thể yêu cầu chủ thương hiệu cung cấp bản sao của
18. Công bố các nhân vật nổi tiếng liên quan. Chủ thương hiệu bắt buộc phải liệt kê ra tất
cả các nhân vật nổi tiếng hay người của công chúng có lien quan đến việc sở hữu, quản
trị điều hành hay quảng bá cho hệ thống franchise. Tuy nhiên, người mua franchise khôn
ngoan sẽ không bao giờ bị lòa mắt bởi những gương mặt nổi tiếng mà sẽ cẩn thận phân
tích, đánh giá tính hiệu quả thật sự của một hệ thống franchise.
19. Công bố doanh số và lợi nhuận. Chủ thương hiệu có quyền lựa chọn công bố hoặc
không công bố con số doanh thu, lợi nhuận thật sự của một cửa hàng franchise điển hình
nào đó trong hệ thống để các đối tác mua franchise tiềm năng có thể dựa vào đó tham
khảo. Tuy nhiên, khá nhiều hệ thống franchise không muốn tiết lộ thông tin này do muốn
bảo mật cho các cửa hàng franchise. Đa số các chủ thương hiệu trên thực tế sẽ giải thích
rằng lý do họ không thể cung cấp thông tin này vì kết quả kinh doanh của mỗi cửa hàng
đều khác nhau nên rất khó dự đoán.
20. Doanh số các cửa hàng trong hệ thống franchise. Tất cả cửa hàng đã và đang kinh
doanh trong hệ thống franchise của chủ thương hiệu trong thời gian 3 năm qua phải được
liệt kê đủ trong hạng mục này, trong đó ghi rõ bao nhiêu cửa hàng là của công ty, bao
nhiêu cửa hàng là của đối tác mua franchise. Đối với cửa hàng franchise đã đóng cửa
hoặc đã ký hợp đồng nhưng không triển khai được trong thời gian 3 năm gần đây, chủ
thương hiệu phải trình bày lý do. Đây là phần quan trọng của tài liệu UFOC. Các con số
cửa hàng đóng cửa và mở cửa mới sẽ nói lên phần nào tính hiệu quả và đà phát triển của
hệ thống franchise. Một hệ thống franchise được xem là rủi ro nếu quá nhiều đối tác phải
đóng cửa hay sang nhượng lại cho người khác do bất kỳ lý do nào trong thời gian 3 năm.
Ngoài ra, người mua franchise cũng có thể yêu cầu chủ thương hiệu cho biết kế hoạch
phát triển hệ thống ít nhất là trong thời gian 12 tháng sắp tới ( bao nhiêu cửa hàng mới,
tại những khu vực, địa điểm nào…)
21. Báo cáo tài chính của chủ thương hiệu. Báo cáo tài chính của chủ thương hiệu sẽ cho
thấy hệ thống franchise có đang hoạt động hiệu quả hay không. Thông thường, một bộ
báo cáo tài chính chuẩn sẽ bao gồm bảng cân đối tài sản (balance sheet), báo cáo lãi lỗ
24
PL
(income statement) và báo cáo luân chuyển tiền mặt ( cash flow) cho năm vừa qua. Nhiều
PL
Những quy định về Franchise tại Việt Nam được ghi trong :
NGHỊ ĐỊNH :Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại
(CHÍNH PHỦ: Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 06 năm 2005;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại,)
Gồm các chương sau:
- Chương I : QUY ĐỊNH CHUNG
- Chương II: HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Mục 1: ĐIỀU KIỆN HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Mục 2: CUNG CẤP THÔNG TIN VÀ HỢP ĐỒNG TRONG NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠi
Mục 3: ĐĂNG KÝ HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Mục 4: HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG
QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ THẨM QUYỀN XỬ LÝ VI PHẠM
- Chương III: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Để hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đều
phải Đăng ký theo mẫu đã được chính phủ quy định. Sau đây là : Hồ sơ đăng ký
nhượng quyền của doanh nghiệp trong nước và nước ngoài ( PHỤ LỤC 3), trong đó
có:
- Mẫu 1: Mẫu đơn đăng ký hoạt động nhượng quyền nộp tại Sở Thương Mại, áp dụng
cho doanh nghiệp tại Việt Nam dự kiến nhượng quyền trong nước.
- Mẫu 2: Mẫu đơn đăng ký hoạt động nhượng quyền nộp tại Bộ Công Thương, áp dụng
cho doanh nghiệp tại Việt Nam dự kiến nhượng quyền ra nước ngoài hoặc doanh nghiệp
nước ngoài dự kiến nhượng quyền tại Việt Nam.
KẾT LUẬN CUỐI CHƯƠNG 1