Một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang tỉnh tuyên quang - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có
những chuyển biến mạnh mẽ. Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã được
nhường chỗ cho nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết của
Nhà nước. Cơ chế mới đã tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát
triển mạnh mẽ. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã được nhường chỗ ho
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước. Đặc biệt
là nền kinh tế nông nghiệp đã có những bước nhảy vượt bậc mà nền kinh tế
hộ nông dân đóng vai trò quyết định.
Kinh tế hộ nông dân nước ta đã đạt được những thành quả to lớn, góp
phần quan trọng tạo nên sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước. Khai
thác có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp- nông thôn, phát huy những
lợi thế vốn có của đất nước, tạo công ăn việc làm, từng bước làm tăng thu
nhập cho lao động làm nông nghiệp là những mục tiêu mà kinh tế hộ nông
dân nước nhà về cơ bản đã làm dược trong thời gian qua. Tuy nhiên, cũng từ
những kết quả đạt được đó, trên con đường phát triển kinh tế hộ nông dân
nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta làm tốt hơn nữa trong
thời gian tới như ruộng đất cho người nông dân, vốn, tín dụng cho hộ nông
dân, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, thị trường cung ứng đầu tư vào,
đầu ra, nâng cao trình độ tay nghề, kiến thức cho người lao động trong nông
nghiệp nông thôn.
Na Hang là một huyện miền núi nằm ở đầu nguồn sông Gâm phía cuối
Tỉnh Tuyên Quang. Cũng như các huyện miền núi khác, Na Hang là một
huyện thuần nông với hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông .nghiệp
của huyện là kinh tế hộ nông dân. Nông nghiệp là ngành luôn đóng vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế của toàn thể nhân dân và hộ nông dân cũng
luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hộ gia đình có trong toàn huyện. Tuy
1

2
3
- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn
luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên.
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các
cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài có thể là cơ sở khắc phục những vấn đề bất cập mà kinh tế
nông hộ đang gặp phải.
- Đề tài có thể đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực giúp
người dân địa phương phát triển kinh tế.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1.Một số khái niệm
2.1.1.1. Các khái niệm về hộ
Trong điều 107 dự thảo ghi: “Hộ gia đình mà các thành viên cùng đóng
góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trông một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp
luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó; hộ gia đình mà đất ở
được giao cho nông hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến
đất ở đó”.
Liên hiệp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới
một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ IV về quản lý nông trại tại Hà Lan
năm 1980 đưa ra khái niệm: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có có liên
quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và hoạt động khác”.
Có quan niệm lại cho rằng hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các

trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ. Được nhà nước thừa nhận
và tạp điều kiện để phát triển”.
Theo GS - TS Trần Đình Đằng “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức
kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, được hình thành và tồn tại khách
quan lâu dài trên cơ sở sức lao động, đất đai và tư liệu dản xuất khác của gia đình
là chính”. Ông cũng đã nghiên cứu về thực trạng kinh tế hộ gia đình của các nước
trên thế giới và Việt Nam, định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh
tế hộ, lựa chọn thị trường, tổ chức các điều kiện để tiêu thụ sản phẩm.
2.1.2. Đặc trưng hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân gồm có 6 đặc trưng sau:
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu, quá trình quản lý và sử
dụng các yếu tố sản xuất. Sở hữu trong hộ nông dân là sở hữu chung, có nghĩa
là mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu chung với những tư liệu vốn
có, cũng như các tài sản khác của hộ. Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế
chung và có cùng chung một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức
trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp công việc cũng rất linh hoạt, hợp lý.
Từ đó dẫn đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông hộ rất cao.
5
6
- Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ trong
nông hộ, mọi người thường gắn bó với nhau theo quan hệ huyết thống, kinh tế
nông hộ lại tổ chức với quy mô nhỏ hơn các loại hình kinh doanh khác nên
việc điều hành quản lý cũng đơn giản hơn. Trong nông hộ chủ hộ vừa là
người điều hành, người quản lý sản xuất vừa là người trực tiếp tham gia lao
động sản xuất, dẫn đến tính thống nhất giữa lao động trực tiếp và lao động
quản lý là rất cao.
- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao. Do kinh tế
hộ có quy mô nhỏ nên dẽ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp nông
nghiệp khác. Nếu gặp điều kiện thuận lợi hộ có thể tập trung mọi nguồn lực
vào sản xuất để mở rộng san xuất, khi gặp điều kiện bất lợi họ có thể dễ dàng

- Hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường: Họ có tham gia vào thị
trường nhưng ít.
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu: Họ tham gia mạnh mẽ vào
những hoạt động và biến đổi cuat thị trường.
2.1.3.3. Phân loại theo mức thu nhập của hộ
- Hộ khá
- Hộ trung bình
- Hộ nghèo
2.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế hộ nông dân.
2.1.4.1. Các yếu tố chủ quan
- Đất đai: Đất đai là tư liệu sẩn xuất chủ yếu và quan trọng không có gì
có thể thay thế được đối với sản xuất nông nghiệp. Sẽ không có sản xuất nông
ngiệp nếu như không có đất đai, số lượng và chất lượng sẽ quy định lợi thé so
sánh của mỗi vùng,miền trong sản xuất nông nghiệp. Hướng sử dụng đất đai
quy định các hướng sử dụng tư liệu sản xuất khác, chất lượng đất tốt hay xấu
ảnh hưởng rất lớn đến năng xuất cây trồng vật nuôi. Vì vậy với một diện tích
đất canh tác có hạn cần có kế hoạch sử dụng sao cho phù hợp để có hiệu quả
kinh tế cao nhất.
- Vốn đầu tư sản xuất: Vốn là giá trị của toàn bộ đầu tư đầu vào, bao
gồm những tài sản, vật phẩm trong kinh doanh. Cũng như các ngành sản xuất
khác, trong nông nghiệp vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu
thông hàng hóa. Vốn quyết định đến quy mô sản suất từ đó ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả
năng khai thác các nguồn vào trong sản xuất. Vốn được xếp vào các yếu tố
chủ quan vì chủ hộ có quyền huy động hoặc quyết định phân bổ vốn theo chu
7
8
kỳ sản xuất. Vốn được tạo ra từ hai nguồn cơ bản là vốn tự có và vốn vay.
Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không nó quyết định đến sự phát triển của
kinh tế hộ.

9
- Điều kiện tự nhiên: Do đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật
sống. trong quá trình sing trưởng và phát triển phụ thuộc nhiều vào điều kiện
ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, môi trương… Nếu gặp điều kiện thuận lợi
phù hợp với giai đoạn phát triển của cây trồng vật nuôi thì sẽ cho năng suất
cao và ngược lại. Như vậy trong sản xuất nông nghiệp thì điều kiện tự nhiên
là yếu tố quyết định khá lớn đến kết quả sản xuất cây trồng của nông hộ.
- Chính sách nhà nước: Chính sách kinh tế là công cụ đắc lực của chính
phủ. Trong quản lý kinh tế mỗi chính sách ban hành đều có tác động rất lớn
đến hoạt động sản xuất kinh doanh dù lớn hay nhỏ. Nếu chính sách đúng đắn
phù hợp với điều kiện sản xuất và ngược lại. Vì vậy chính sách có ảnh hưởng
tương đối lớn đến sản xuất của nông hộ. Trong quá trình phát triển nông
nghiệp nông thôn Việt Nam, Nhà nước đã chứng tỏ được vai trò của mình
trong quản lý kinh tế. Nó thể hiện rõ nét nhất ở chính sách ruộng đất trong
công cuộc đổi mới. Chính sách đã làm thay đổi thu nhập của toàn bộ cư dân
trong nông thôn. Ngoài ra nhà nước còn có những chính sách bảo vệ lợi ích
thiết thực của người nông dân như đặt giá trần, giá sàn…
- Ngoài các yếu tố trên, kinh tế nông hộ còn chịu ảnh hưởng của các
phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa…
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Khái quát sự phát triển của kinh tế hộ nông dân trên thế giới
2.2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở các nước trong khu vực và
thế giới
- Hà Lan: là một quốc gia nhỏ, lao động nông nghiệp chiếm 5,7% dân
số, hàng năm một lao động nông nghiệp làm ra khối lượng sản phẩm có thể
nuôi 112 người và chỉ đứng sau Đan Mạch (160 người). Năm 1960 Hà Lan
có 300.000 nông trại, bình quân đất canh tác 9 ha/hộ. Những năm gần đây còn
138.000 nông trại, bình quân 16 ha/hộ. Các nông trại được tổ chức gọn nhẹ,
sử dụng lao động gia đình là chính, chỉ thuê 1-2 lao động trong vòng một
tháng vào thời điểm thu hoạch. Trong các nông trại có đủ máy móc cần thiết

đình. Hàn Quốc năm 1953 có 2.249 trang trại nông hộ, những năm gần đây
còn 0,3 triệu nông hộ với quy mô trang trại 0,9 ha/hộ. Thái Lan với 3,214
triệu nông hộ(1970) tăng 4,5 triệu nông hộ (1990), bình quân ruộng đất 5,6
ha/hộ. Trung Quốc với số dân khoảng 1,3 tỷ người trong đó 75% số dân sống
ở nông thôn, canh tác trên 93,33 triệu ha đất, bình quân 0,13 ha/người. Tổng
diện tích gieo trồng 146,46 triệu ha. Nông hộ Trung Quốc đã và đang sở hữu
70,4% máy kéo lớn và trung bình, 96,18% máy kéo nhỏ, 74,4% ô tô vận tải
10
11
dùng trong nông nghiệp, 72,53% máy bơm nước. Trung Quốc là nước chủ
trương thiết lập ở nông thôn cơ chế kinh doanh hai tầng: Kinh doanh phân tán
của kinh tế hộ gia đình nông dân và kinh doanh thông nhất của kinh tế tập thể.
Năm 19978 thu nhập thuần túy bình quân mỗ nông dân là 134 nhân dân
tệ/năm, năm 1990 đã đạt 630 tệ. Nếu loại trừ yếu tố giá cả thu nhập tăng 2,2
lần, bình quân hàng năm tăng 10,7%. Tuy vậy thu nhập của hộ còn chênh lệch
giữa các vùng, dân số tăng quá nhanh, thể chế kinh tế hai tầng và hệ thống
dịch vụ nông thôn chưa được kiện toàn, tỷ giá sản phẩm công nghiệp dãn
ngày một rộng gây bất lợi cho người nông dân.
2.2.1.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới
Hà Lan:
Tài nguyên thiên nhiên về nông nghiệp của Hà Lan thiếu hụt. Đất ít lại
trũng, thường xuyên bị uy hiếp của ngập lụt, nhưng Hà Lan đã tìm tòi, tự
khẳng định những lợi thế so sánh của chính mình để phát triển nền nông
nghiệp theo chiến lược của một nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu, dựa vào
những ý tưởng sau đây:
- Nâng cao sức cạnh tranh quốc tế:
Hà Lan thông qua chính sách lớn" nhập lớn, xuất lớn " để phát huy lợi
thế so sánh tự thân, tăng sức canh tranh quốc tế. Trên thị trường thế giới, Hà
Lan có nhiều mặt hàng nông sản và hàng thực phẩm có sức cạnh tranh cao.
Chẳng hạn, ngoài mặt hàng hoa cắt tươi và củ hoa nổi tiếng thế giới, còn xuất

Năm 1995, Chính phủ Hà Lan quyết định xây dựng công trình chỉnh trị
dòng sông, hoàn thành vào năm 2015, vốn đầu tư 500 triệu Eurô. Để phòng
chóng thiên tai khắc nghiệt.
Nhà nước coi trọng nhiệm vụ cải tạo đất, hàng năm đầu tư 140 triệu
Eurô, bình quân 4000 Eurô/ha năm. Nhà nước còn tài trợ chỉnh lý đất đai,
biến các thửa ruộng nhỏ liên kết thành thửa lớn liền nhau, xây dựng hệ thống
kênh rạch, đảm bảo yêu cầu cơ giới hoá. Động mạch lớn của nền kinh tế là
mạng lưới giao thông hiện đại được hoàn chỉnh. Hà Lan có 2800 km đường
sắt, 110.000 km đường bộ, trong đó có 2400 km đường cao tốc. Đường hàng
không đứng thứ 9 thế giới, với 80 hãng hàng không có 230 tuyến bay đến
khắp các nước. Quỹ đất ít, "tấc đất, tấc vàng", Hà Lan đã áp dụng công nghệ
"dùng vốn thay đất". Để tạo ra hiệu suất cao của đất, ở Hà Lan, đã hình thành
hệ thống nhà kính với công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới. Nhà kính đã tiết
kiệm đất (thậm chí có nơi không dùng đất), lại có thể khống chế hoàn toàn
điều kiện tự nhiên. Trong nhà kính đã lắp đặt các thiết bị hiện đại, tự động
12
13
hoá, thông qua máy tính và hệ thống máy móc khác để điều chỉnh nhiệt độ, độ
ẩm, chiếu sáng, nước, thức ăn trong nhà kính, tạo ra một môi trường ưu việt,
loại trừ hoàn toàn các yếu tố bất lợi của điều kiện tự nhiên (Hà Lan vốn là
một nước không sản xuất được phong lan, nhưng nhờ nhà kính khắc phục
được những trở ngại đến sự sinh trưởng phát triển của hoa lan nhiệt đới, á
nhiệt đới, nên những năm gần đây Hà Lan đã sản xuất được 200 triệu hoa lan,
đứng thứ 9 thế giới). Tốc độ phát triển khoa học công nghệ trong nông nghiệp
Hà Lan được xếp vào những nước hàng đầu thế giới, đặc biệt là thành tựu tạo
giống và nhà kính, với phương thức đầu tư tập trung vốn và chất xám, theo
hướng đầu tư cao, thu nhập cao, hiệu suất cao. Với quỹ đất ít, Hà Lan áp dụng
công nghệ "tăng diện tích đất", tập trung áp dụng các biện pháp thâm canh
cao, nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích, tạo ra năng suất cao gấp nhiều
lần năng suất bình quân thế giới.

trong lĩnh vực cung cấp tín dụng nông nghiệp thông qua các tổ chức tín dụng
như ngân hàng quốc gia, ngân hàng thương mại, ngân hàng nông nghiệp và
các hợp tác xã nông nghiệp. Ngoài ra các tổ chức phi Chính phủ khác tham
gia cung cấp tín dụng cho nông nghiệp với lãi xuất phù hợp với điều kiện
người sản xuất.
- Chính sách giải quyết việc làm: Họ giải quyết việc làm trên cơ sở phát
triển đa dạng hóa kinh tế nông thôn, quan tâm đến phát triển công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống.
Trung quốc
Thu nhập và phân phối thu nhập tại các khu vực nông thôn:
Tổng thu nhập: Tổng thu nhập của kinh tế nông thôn trong năm 2005
chiếm tới 17.528,9 tỷ nhân dân tệ, tăng 16% so với năm trước đó (dựa trên giá
của năm được quy định
2.2.2. Khái quát sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta
điều trên 90%. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ gia đình
đang loay hoay trong cảnh sản xuất tự cấp, tự túc, thậm chí còn nhiều hộ sản
xuất tự nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nền kinh tế
hàng hóa phát triển cũng đồng thời dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo. Về lương
thực, thực phẩm tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 28,9%, trong đó nông thôn là
35,7% (thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 22%, cao nhất là vùng Tây Bắc
68,7%)
2.2.3. Một số mô hình phát triển của kinh tế hộ nông dân
14
15
2.2.3.1. Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp
Chuyên chăn nuôi: Bò sữa; cá, tôm, cua; hươu, trăn, rắn mô hình này
đang phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng bằng
sông Hồng (ĐBSH), ven biển miền Trung
Chuyên trồng trọt: Chè, cà phê, cao su mô hình này chủ yếu ở Trung du
miền Núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Đây là mô hình các hộ kinh

trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Mô hình này cho lãi cao nhưng chủ
hộ phải có vốn lớn, nắm vững khoa học và công nghệ (KH&CN), việc nhân
rộng không dễ.
2.2.3.5. Mô hình nuôi bò sữa - chế biến - tiêu thụ tại chỗ
Mô hình này được phát triển ở ngoại thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh hoặc các vùng có khí hậu thuận lợi như Mộc Châu (Sơn La), Vĩnh
Phúc, Lâm Đồng. Nếu chế biến và marketing tốt, có trang thiết bị hiện đại, tổ
chức quản lý tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thì mô hình này sẽ đạt hiệu quả và
phát triển bền vững. Tuy nhiên, hiện nay mô hình này đang gặp khó khăn do
giá cả biến động theo chiều không có lợi cho nông dân.
2.2.3.6. Mô hình chuyên canh rau, hoa, quả xuất khẩu dịch vụ thương mại tại nhà
Mô hình này đang phát triển mạnh tại vùng ven thành phố Đà Lạt (Lâm
Đồng), vùng có khí hậu á nhiệt đới: Sa pa (Lao Cai), Lạng Sơn, Cao Bằng,
Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Lục Ngạn (Bắc Giang) Để mô hình này phát triển, các
hộ cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hình thức, khả năng bảo quản và uy tín
trên thị trường.
2.2.3.7. Mô hình nông - lâm kết hợp
Loại mô hình này được phát triển rộng rãi ở vùng trung du và miền núi.
Cây trồng gồm: Cây rừng, đỗ đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây công
nghiệp, cây đặc sản Vật nuôi gồm trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, chim, thú rừng…
Hoạt động lâm nghiệp gồm: Bảo vệ, khai thác, trồng, sơ chế, chăm sóc, cải
tạo rừng… Phương thức canh tác đặc trưng là canh tác trên đất dốc.
Hiện nay, một số nơi đã xuất hiện các nghề như dịch vụ du lịch sinh
thái, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu. Mô hình này còn khó khăn về vốn,
khả năng ứng dụng KH&CN, hạ tầng cơ sở…
2.2.3.8. Mô hình sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
16
17
Mô hình này thường hoạt động thành làng, gần đây có nơi đã phát triển
thành quy mô nhiều làng, xã. Dù hoạt động tiểu thủ công nghiệp có phát triển,

Khả, xã Sơn Phú, xã Thanh Tương
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.3.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Các thông tin, số liệu thứ cấp được thu thập từ các bài báo, bài viết,
các báo cáo, các văn bản đã được công bố. Trong quá trình xử lý tài liệu em
có chọn lọc và loại bỏ những thông tin, số liệu không cần thiết trên cơ sở tôn
trọng tài liệu gốc
3.3.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Tiến hành điều tra thu thập số liệu về tình hình sản xuất kinh doanh
của các hộ nông dân tại địa bàn trong phạm vi nghiên cứu.
3.3.1.3. Phương pháp chọn mẫu
- Địa bàn chọn huyện Na Hang làm địa bàn nghiên cứu, chọn 3 xã vùng
ven lòng hồ làm địa bàn điều tra.
- Chọn mẫu điều tra: Chọn 60 hộ trong 3 xã thuộc vùng ven lòng hồ
làm mẫu điều tra, mỗi xã chọn 20 hộ.
18
19
3.3.2. Phương pháp xử lý thông tin số liệu
- Số liệu, thông tin thứ cấp: Được phân tích, tổng hợp sao cho phù hợp
với các mục tiêu của đề tài.
- Số liệu, thông tin sơ cấp: Được xử lý trên bảng tính Excel, phần
mềm SPSS
3.3.3. Phương pháp phân tích số liệu
3.3.3.1. Phương pháp phân tích so sánh
- Các số liệu phân tích được so sánh qua các năm, các chỉ tiêu để thấy
được những thực trạng liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
3.3.3.2. Phương pháp phân tích thống kê
- Từ các chỉ tiêu đã tính, tiến hành phân tích sự biến động về tình hình
kinh tế- xã hội qua các năm trong phạm vi nghiên cứu.

Ci
Ci là khoản chi phí thứ i trong một quá trình sản xuất
- VA (Giá trị gia tăng) : Là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi
chi phí trung gian của một hoạt động sản xuất kinh doanh nao đó
Công thức: VA= GO - IC
GO là giá trị sản xuất
IC là chi phí trung gian
20
21
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên chung của huyện Na Hang
Vùng ven lòng hồ huyện Na Hang- tỉnh Tuyên Quang bao gồm 10 đơn
vị hành chính là các xã miền núi thuộc huyện Na Hang, là một huyện vùng
cao của tỉnh Tuyên Quang. Huyện nằm cách thành phố Tuyên Quang 110 km
về phía Bắc, tiếp giáp với các huyện của 3 tỉnh: Bắc Cạn- Cao Bằng- Hà
Giang, cụ thể:
- Phía Bắc giáp các huyện Bắc Mê- Hà Giang và huyện Bảo Lạc-
Cao Bằng
Về địa hình: Có đặc trưng của vùng núi cao chia làm hai dạng chủ yếu
- Địa hình thung lũng: Đây là các thung lũng nằm kẹp giữa các khe núi
hình thành các ruộng bậc thang, các bãi trồng rau màu và các tụ điểm dân cư.
- Địa hình núi cao: Chủ yếu là các đồi núi có độ dốc lớn, phân làm hai
loại: Đồi núi đất và đồi núi đá vôi. Đặc điểm của địa hình này là độ dốc lớn,
địa hình chia cắt, đi lại và canh tác khó khăn. Xã có thôn Bản Bung nằm trong
rừng đặc dụng có độ cao trên 370 m so với mựa nước biển, địa hình bằng
phẳng tạo nên một vùng sinh thái đặc trưng.
Quá trình hình thành đất tại vùng chủ yếu là quá trình Ferarit hoá, đất
có thành phần cơ giới tự nhiên nhẹ đến trung bình, tầng dầy nhiều mùn, hơi
chua, độ pH từ 4,5 - 6, độ ẩm tương đối cao, thích hợp với nhiều loại cây

huyện chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp. Trình độ lao động còn thấp, đa số
là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề. Cùng với đất đai, lao động là
yếu tố đặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản xuất nông nghiệp nhất là
trong hoàn cảnh trình độ cơ giới hóa của nước ta còn thấp.
Tình hình dân số và lao động của các xã thuộc ven lòng hồ qua 3 năm
2009- 2011 được thể hiện ở bảng 4.2
Bảng 4.2. Dân số và lao động của các xã thuộc ven lòng hồ huyện Na
hang qua 3 năm (2009-2011)
Năm
Chỉ tiêu
ĐVT 2009 2010 2011 So sánh (%)
Số
lượng

cấu
(%)
Số
lượng

cấu
(%)
Số
lượng

cấu
(%)
10/09 11/10 BQ
1. Tổng số nhân
khẩu
Khẩu

- Số khẩu BQ/hộ Khẩu 4,3 4,58 4,68 106,51 102,18 104,34
- Số lao động
BQ/hộ
Người 3,19 2,87 3,02 89,97 105,22 97,59
(Nguồn: Phòng Nông Nghiệp& PTNT huyện Na Hang)
24
25
Qua bảng 4.2 ta thấy, qua 3 năm (2009-2011) nhân khẩu của vùng đã
có sự biến động lớn từ năm 2009- 2010, nguyên nhân là do năm 2010 Chính
phủ đã có quyết định tách năm xã của huyện Na Hang và thành lập huyện mới
Lâm Bình chính vì thế tổng dân số của các xã thuộc ven lòng hồ đã giảm
mạnh từ 38181 người(năm 2009) xuống còn 28791 (năm 2010). Năm 2011
dân số của vùng là 31.387 người, tăng 0,902%. Tổng số hộ từ năm 2010 đến
năm 2011 cũng tăng lên 0,656%. Trong đó tỷ lệ hộ thuần nông chiếm cao
nhất và đang có xu hướng giảm dần, các hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề,
dịch vụ dần tăng lên. Đây là tín hiệu đáng mừng đối với sự phát triển kinh tế
nông hộ của huyện cũng như của các xã thuộc ven lòng hồ
Về lao động: lao động trong trong vùng được chia làm 2 loại chính là
lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp. Trong 3 năm tỷ lệ lao
động trong nông nghiệp ngày càng có xu hướng giảm và tỷ lệ lao động phi
nông nghiệp ngày càng tăng. Qua bảng 4.2 cho thấy khẩu nông nghiệp và lao
động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tương đối cao. Điều này chứng tỏ nông
nghiệp vẫn là ngành cần chú trọng trong phát triển kinh tế của huyện nói
chung và kinh tế nông hộ của vùng lòng hồ nói riêng. Song bên cạnh đó,
huyện cũng cần đẩy mạnh phát triển ngành nghề- dịch vụ, đa dạng hóa ngành
nghề, tăng thu nhập cho nông hộ, giảm bớt sự dư thừa lao động trong nông
nghiệp vào lúc nông nhàn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện theo
hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, du lịch và dịch vụ, giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp trong tổng giá trị sản xuất của huyện nói chung và các xã
ven lòng hồ nói riêng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status