hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần công nghiệp tự cường - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với tốc phát triển của ngành điện lực, ngành sản xuất dây và cáp điện
Việt Nam những năm gần đây cũng có bước phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu
truyền tải, thông tin liên lạc, điện khí hóa nông thôn cũng như phục vụ cho các
ngành khác trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước.
Hiên nay, do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng nên sức
cạnh tranh trong ngành là rất cao, các công ty trong nước và nước ngoài tham gia
cung cấp sản phẩm ngày càng nhiều với chất lượng tốt, bên cạnh đó doanh nghiệp
cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề bất ổn, ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và
phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Sự bất ổn này có nhiều nguyên nhân
khác nhau, xuất phát từ nhiều phía. bất ổn chủ yếu là thuế nhập khẩu nguyên vật
liệu của ngành tương đối cao và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.
Đối với một doanh nghiệp bất kỳ thì hoạt động lập kế hoạch là chức năng đầu
tiên của quá trình quản lý, có vai trò rất quan trọng. Lập kế hoạch gắn liền với việc
lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, là cơ sở để xác định
và triển khai các chức năng còn lại là tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra .Bởi vậy chất
lượng của công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh được nâng cao sẽ là điều kiện
cần thiết để đảm bảo quá trinh kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
Công ty Cổ phần Công nghiệp Tự Cường ngày nay là sự kế thừa và phát triển
từ HTX Công nghiệp Tự Cường được thành lập từ năm 1960, Công ty được thành
lập nhằm đáp ứng nhu cầu về dây cáp điện trong công nghiệp, xây dựng và cả trong
tiêu dùng, công ty đã tham gia cung cấp dây và cáp điện trong cả nước để cải tạo
lưới điện nông thôn và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Chuyển đổi phương thức hoạt
động từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần đòi hỏi công ty phải
thay đổi một số lĩnh vực, trong đó có công tác kế hoạch nói chung và lập kế hoạch
nói riêng, xuất phát từ vai trò quan trọng của việc lập kế hoạch và trên cơ sở nghiên
cứu thực trạng phát triển của ngành, thực trạng hoạt động lập kế hoạch tại Công ty
tôi thấy còn nhiều bất cập, các trở ngại rủi ro trong quá trình SX vẫn thường xảy ra,
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa

động mặc dù có KH nhưng lại không được triển khai thực hiện theo KH và rút cuộc
vẫn chỉ là trên giấy, còn các mục tiêu của KH thì không thực hiện được. Thực chất
KH và KHH là hai khái niệm khác nhau.
1.1 Khái niệm kế hoạch hóa
Từ lâu trong các doanh nghiệp các nhà quản lý doanh nghiêp luôn đặt ra cho
DN mình những mục tiêu, những hướng đi mà doanh nghiệp sẽ đi trong tương lai.
Những mục tiêu, cái đích đó được cụ thể hóa trong chiến lược phát triển của doanh
nghiệp. Tuy nhiên vai trò này không phải lúc nào cũng được thừa nhận một cách
nhất quán, nó có thể là công cụ quản lý không thể thiếu được với đối tượng này,
nhưng lại là thủ phạm của sự cứng nhắc với đối tượng khác. KHH có nhiều nghĩa
khác nhau và đã từng là chủ đề của nhiều ý kiến trái ngược, cho dù nó liên quan đến
DN hay là nền kinh tế quốc dân.
Vậy hiểu theo cách chung nhất thì kế hoạch hóa là một phương thức quản lý
theo mục tiêu, nó là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các
quy luật xã hội và tự nhiên đặc biệt là các quy luật kinh tế để tổ chức quản lý các
đơn vị kinh tế kỹ thuật, các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hội
theo những mục tiêu thống nhất.
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
Vì vậy kế hoạch hóa ở đây có thể bao trùm ở những quy mô và phạm vi khác
nhau. Nó có thể là KHH nền kinh tế nói chung trên phạm vi cả nước, bao trùm lên
tất cả các ngành kinh tế. Hoặc nó cũng có thể là KHH cho từng ngành kinh tế riêng
lẻ, hay có thể là KHH theo vùng, địa phương trên phạm vi một vùng nhất định và ở
cấp độ nhỏ nhất nó là KHH trong doanh nghiệp. Vậy KHH trong doanh nghiệp là
phương thức quản lý theo mục tiêu nó bao gồm các hành vi can thiệp của chủ thể
DN tới các hoạt động của DN nhằm mục đích đạt được mục tiêu đề ra cho DN.
Như vậy KHH trong doanh nghiệp thể hiện được kỹ năng dự báo các xu hướng
phát triển của DN trong tương lai, mục tiêu mà DN cần đạt được, tổ chức triển khai
các hành động đã được đề ra, công tác này bao gồm ba bước la: Lập KH, tổ chức

- Kế hoạch dài hạn : Là kế hoạch cho thời kỳ từ 5 năm trở lên nhằm xác
định các lĩnh vực hoạt động của tổ chức,xác định các mục tiêu,chính sách giải pháp
dài hạn về tài chính, đầu tư, nghiên cứu phát triển …do những nhà quản lý cấp cao
lập mang tính tập trung cao và linh hoạt.
- Kế hoạch trung hạn: Là kế hoạch cho thời kỳ từ 1 đến 5 năm nhằm phác
thảo các chính sách, chương tình trung hạn để thực hiện các mục tiêu được hoạch
định trong chiến lược của tổ chức.Kế hoạch trung hạn được lập bởi các chuyên gia
quản lý cấp cao, chuyên gia quản lý điều hành đồng thời nó ít tập trung và ít uyển
chuyển hơn kế hoạch dài hạn.
- Kế hoạch ngắn hạn : Là kế hoạch cho thời kỳ dưới 1 năm, là sự cụ thể
hoá nhiệm vụ sản xuất kinh doanh dựa vào mục tiêu chiến lược, kế hoạch, kết quả
nghiên cứu thị trường, các căn cứ xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện năm kế
hoạch do các chuyên gia quản lý điều hành và chuyên gia quản lý thực hiện lập nên
kế hoạch này không mang tính chất tập trung và thường rất cứng nhắc, ít linh hoạt.
Ba loại kế hoạch trên có quan hệ hữu cơ với nhau .Trong đó, kế hoạch dài hạn
giữ vai trò trung tâm , chỉ đạo trong hệ thống kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, là cơ sở để xây dựng kế hoạch trung hạn và kế hoạch hằng năm.
2.2 Theo góc độ nội dung, tính chất hay cấp độ
- Kế hoạch chiến lược: Kế hoạch chiến lược xuất phát từ tiếng Hy Lạp và xuất
hiện lần đầu tiên trong lĩnh vực quân sự. Chiến lược có nghĩa là "nghệ thuật của
tướng lĩnh" để tìm ra con đường đúng đắn nhất giành chiến thắng. Lập kế hoạch
chiến lược cho doanh nghiệp phổ biến vao những năm 1960, đối với các doanh
nghiệp lớn khi mà hoạt động của chúng trở nên phức tạp hơn, đồng thời cạnh tranh
gay gắt hơn, đa dạng hơn trong khi các tiến bộ khoa học công nghệ trở nên tăng tốc
hơn khiến cho các doanh nghiệp khó khăn trong việc lựa chọn mục tiêu phát triển
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
công nghệ và sản phẩm mới, thâm nhập thị trường, lựa chọn các phương thức phát
triển

SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
mục tiêu, sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng. Lập kế hoạch phải tuân thủ
theo một quy trình với các bước đi cụ thể:
Hình 1.1: Các bước soạn lập kế hoạch
Nguồn: Giáo trình kế hoạch kinh doanh
Sơ đồ tổng quát trên mô tả những bước đi cụ thể của quy trình lập kế hoạch
như sau:
Bước 1: Nhận thức cơ hội trên cơ sở xem xét đánh giá môi trường bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp, xác định thành phần cơ bản của môi trường tổ chức,
đưa ra các thành phần có ý nghĩa thực tế với doanh nghiệp, thu thập và phân tích
thông tin về thành phần này; Tìm hiểu các cơ hội có thể có trong tương lai và xem
xét một cách toàn diện, rõ ràng, biết được ta đang đứng ở đâu trên cơ sở điểm mạnh
và điểm yếu của mình. Hiểu rõ tại sao chúng ta phải giải quyết những điều không
chắc chắn và biết chúng ta hy vọng thu được gì. Việc đưa ra các mục tiêu thực hiện
của doanh nghiệp trong thời kỳ kế hoạch phụ thuộc vào những phân tích này.
Bước 2: Thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu cho toàn doanh nghiệp và cho các đơn vị
cấp dưới. Các mục tiêu sẽ xác định kết quả cần thu được và chỉ ra các điểm kết thúc
trong các việc cần làm, nơi nào cần phải được chú trọng ưu tiên và cái gì cần hoàn
thành bằng một hệ thống các chiến lược, các chính sách, các thủ tục, các ngân quỹ,
các chương trình.
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa

Phân
tích
môi
trường

Nhiệm

Bước 4: Xác định các chương trình dự án. Đây là các phân hệ của kế hoạch
chiến lược. Các chương trình thường xác định sự phát triển của một trong các mặt
hoạt động quan trọng của đơn vị kinh tế như: chương trình hoàn thiện công nghệ,
chương trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, chương trình tính toán dự trữ còn các
dự án thường định hướng đến một mặt hoạt động cụ thể hơn như dự án phát triển thị
trường, đổi mới sản phẩm. Thông thường một chương trình ít khi đứng riêng một
mình, nó thường là bộ phận của hệ thống phức tạp các chương trình, phụ thuộc vào
một số chương trình và ảnh hưởng đến một số chương trình khác. Dù là chương
trình lớn hay chương trình bộ phận thì nội dung của việc xây dựng các chương trình
đều bao gồm: xác định các mục tiêu, nhiệm vụ; các bước tiến hành ; các nguồn lực
cần sử dụng và các yếu tố khác cần thiết để tiến hành chương trình hành động cho
trước; những yêu cầu về ngân sách cần thiết. Các dự án thường được xác định một
cách chi tiết hơn chương trình, nó bao gồm các thông số về tài chính và kỹ thuật,
các tiến độ thực hiện, tổ chức huy động và sử dụng nguồn lực, hiệu quả kinh tế tài
chính.
Bước 5: Soạn lập hệ thống các chức năng và ngân sách. Mục tiêu của các kế
hoạch kinh doanh thường hướng tới là: Đáp ứng đòi hỏi của thị trường; Nâng cao
hiệu quả của hoạt động kinh doanh, quản lý một cách có hiệu quả nguồn lực; Đảm
bảo thực hiện chiến lược kinh doanh đã chọn. Để thực hiện được những mục tiêu
nói trên, kế hoạch chiến lược phải được cụ thể hóa bằng hệ thống các kế hoạch chức
năng, xem như đó là các kế hoạch tác nghiệp để chỉ đạo và điều hành sản xuất kinh
doanh. Hệ thống các kế hoạch chức năng ba gồm: Kế hoạch sản xuất sản phẩm,
phát triển sản phẩm mới; kế hoạch mua sắm thiết bị, nguyên vật liệu; kế hoạch nhân
sự, kế hoạch tài chính, kế hoạch marketing.
Sau khi các kế hoạch tác nghiệp được xây dựng xong cần lượng hóa dưới dạng
tiền tệ các dự toán về mua sắm các yếu tố sản xuất, phục vụ bán hàng, nhu cầu
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
vốn gọi là lập ngân sách. Ngân sách chung của doanh nghiệp biểu thị tổng toàn bộ

9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
Mục tiêu cuối cùng: Là mục tiêu cao nhất mà doanh nghiệp muốn đạt được.
Nó là lý do tồn tại của doanh nghiệp. Mục tiêu này tác động dài hạn trong việc thực
hiện kế hoạch. Nó thường được thể hiện trong kế hoạch chiến lược.
Mục tiêu trung gian: Là cái đích mà kế hoạch trực tiếp vươn tới, và việc có
đạt được mục tiêu trung gian hay không sẽ quyết định mức độ thành công của kế
hoạch. Mục tiêu này thường đi kèm các chỉ tiêu để thực hiện nó.
Mục tiêu đầu ra trực tiếp của kế hoạch: Là những sản phẩm hữu hình cụ thể
mà kế hoạch tạo ra được nhằm góp phần trực tiếp đạt được mục tiêu trung gian.
Hoạt động: Là những công việc cụ thể mà kế hoạch tiến hành để có đầu ra
dự kiến.
Giữa bốn cấp mục tiêu này có quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, mục tiêu
cần đạt được trong kỳ kế hoạch sẽ là mục tiêu cụ thể( mục tiêu trung gian). Để thực
hiện mục tiêu đó, trong kỳ kế hoạch cần đảm bảo thực hiện được một số đầu ra nhất
định.
- Chỉ tiêu kế hoạch: Là những nhiệm vụ cụ thể để xây dựng thành các con số
cần đạt được trong kỳ kế hoạch. Đó là các mục tiêu được thể hiện bằng con số, có
xác định thời gian và không gian cụ thể. Các chỉ tiêu phản ánh phần định lượng của
bản kế hoạch và là đích phấn đấu của mỗi giai đoạn trong quá trình phát triển.
Mỗi cấp mục tiêu tương ứng với hệ thống các mục tiêu. Như vậy trong bản kế
hoạch cũng phải bao gồm các chỉ tiêu phản ánh bốn cấp mục tiêu: Chỉ tiêu tác động,
chỉ tiêu kết quả, chỉ tiêu đầu ra, chỉ tiêu hoạt động.
3.2.3 Các giải pháp thực hiện
Các công cụ cơ bản để triển khai thực hiện mục tiêu đã xác định trong kế
hoạch bao gồm các chương trình dự án, các kế hoạch ngắn hạn, các kế hoạch chức
năng và ngân sách.
- Xây dựng các chương trình dự án nhằm hướng tới những mục tiêu đặt ra.
Các nội dung cơ bản của chương trình, dự án bao gồm: Mục tiêu của chương trình,
dự án; phạm vi tác động của chương trình, dự án đến khả năng hoàn thành các mục

phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành: Giảm thuế,
trợ cấp
- Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP,
tỉ suất GDP trên vốn đầu tư
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
S – social: xã hội
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội
đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó.
Các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt
là các văn hóa tinh thần. Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận những giao
thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các quốc gia. Sự giao thoa này sẽ thay
đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng phát triển với các ngành.
Bên cạnh văn hóa , các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm
khi nghiên cứu thị trường,: tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh
dưỡng, ăn uống thu nhập trung bình, phân phối thu nhập lối sống, học thức,các quan
điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống điều kiện sống… những yếu tố xã hội này chia cộng
đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu
nhập khác nhau
T- techonogic: công nghệ
Công nghệ ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động công ty.
- Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu.
- Ảnh hưởng của công nghệ thông tin, internet đến hoạt động kinh doanh.
doanh nghiệp đang nắm giữ công nghệ tiên tiến nhưng cũng chưa hẳn nắm giữ thế
mạnh về cạnh tranh vì thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng
loạt các công nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ.
Hội nhập kinh tế
- Toàn cầu hóa tạo ra các sức ép cạnh tranh, các đối thủ đến từ mọi khu vực.
Quá trình hội nhập sẽ khiến các doanh nghiệp phải điều chỉnh phù hợp với các lợi

(Khả năng ép giá)
Sản phẩm thay thế
(Nguy cơ sản phẩm
thay thế)
Cạnh tranh trong
ngành
(cạnh tranh của các
doanh nghiệp hiện có)
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
- Khả năng kiếm lợi nhuận của người mua.
- Tính quan trọng của sản phẩm đối với người mua.
- Thông tin về thị trường.
Đối thủ cạnh tranh trong ngành
Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các doanh nghiệp đang
kinh doanh cùng ngành nghề với doanh nghiệp trên thị trường.
Sức cạnh tranh của các đối thủ thể hiện:
- Số lượng đối thủ cạnh tranh nhiều hay ít.
- Mức độ tăng trưởng của ngành nhanh hay chậm.
- Chi phí lưu kho hay chi phí cố định cao hay thấp.
- Các đối thủ cạnh tranh có đủ ngân sách để khác biệt hóa sản phẩm.
- Năng lực sản xuất của đối thủ tăng hay không? Nếu tăng thì với tốc độ bao
nhiêu?
- Tính chất đa dạng sản xuất của đối thủ cạnh tranh.
- Mức độ kì vọng của họ vào chiến lược kinh doanh.
Nhà cung cấp
Nhà cung cấp hình thành nên thị trường cung cấp cho doanh nghiệp về vốn,
nguyên vật liệu, lao động. Phân tích sức ép của nhà cung cấp nên doanh nghiệp cần
phải phân tích các yếu tố sau:
- Số lượng nhà cung cấp nhều hay ít.

đó. Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản động cộng lại. trong chuỗi giá trị có 2
mảng chính: hoạt động chức năng và hoạt động tác nghiệp
Hoạt động chức năng: hạ tầng doanh nghiệp, quản lý nhân sự, nghiên cứu và
triển khai, mua sắm.
Hoạt động tác nghiệp:cung ứng nội bộ, sản xuất, cung ứng đầu ra, marketing,
dịch vụ sau bán hàng.
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
3.3.2 Phương pháp xác định các mục tiêu chỉ tiêu
Xác định mục tiêu: Sử dụng cây vấn đề và cây mục tiêu
Cây vấn đề
Trước khi lập ra các mục tiêu cần phải đánh giá phân tích tình hình tìm ra đâu
là vấn đề then chốt. Để xác định vấn đề then chốt cần trả lời các câu hỏi sau:
- Vấn đề nào phải đối mặt trong quá trình phát triển?
- Những hoạt động nào có thể gây bất lợi cho công ty
- Những hoạt động nào chúng ta cần phải coi trọng
- Những yếu kém cần phải vượt qua?
Sau đó tiến hành tìm ra những vấn đề ưu tiên phải giải quyết bằng cách trả lời
các câu hỏi sau:
- Vấn đề nào được nhiều người quan tâm nhất? vì sao?
- Vấn đề nào có thể giải quyết được? vì sao?
- Vấn đề nào cần được giải quyết trước nhất? vì sao?
- Vấn đề nào được giải quyết sẽ kéo theo các vấn đề khác được giải
quyết theo? Vì sao?
Hình thành cây vấn đề bằng cách tìm ra một vấn đề then chốt nhất sau đó tìm
ra các nguyên nhân dẫn đến vấn đề then chốt đó. Tiếp tục lặp lại như vậy cho tới khi
nguyên nhân sau xa của nó là điều kiện nguồn lực có thể giải quyết được.
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
16

cấp 3
Vấn
đề
cấp 3
Vấn
đề
cấp 3
Vấn
đề
cấp 3
Vấn
đề
cấp 3
Vấn
đề
cấp 3
Vấn
đề
cấp 3
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
Hình1.4: Sơ đồ cây mục tiêu
Nguồn: Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội
Xác định chỉ tiêu: Sử dụng phương pháp dự báo
Dự báo định lượng: hay còn gọi là phương pháp ngoại suy là sự kéo dài các
quy luật trong quá khứ đến hiện tại và tương lai. Phương pháp này thích hợp với dự
báo ngắn hạn.
Dự báo định tính
- Đánh giá của đại lý, nhà phân phối: công ty yêu cầu khách hàng của mình dự
báo mức bán trong vùng của họ cho các kỳ tới. sau đó công ty sẽ tổng hợp kết quả

cấp 3
Mục
tiêu
cấp 3
Mục
tiêu
cấp 3
Mục
tiêu
cấp 3
Mục
tiêu
cấp 3
Mục
tiêu
cấp 3
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
Sau khi các kế hoạch tác nghiệp được xây dựng xong cần lượng hóa chúng
dưới dạng tiền tệ các dự toán mua sắm các yếu tố sản xuất phục vụ cho sản xuất
kinh doanh sau đó so sánh với khả năng huy động được vốn cho các hoạt động đó
trong cùng thời gian dự kiến. Điều chỉnh kế hoạch khi không khớp giữa kế hoạch
thu và kế hoạch chi.
4. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp
4.1 Yếu tố ngoài doanh nghiệp
Có thể nói bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành xây dựng cho mình một
bản kế hoạch hoàn chỉnh thì đều phải quan tâm tới tất cả các yếu tố bên trong lẫn
bên ngoài doanh nghiệp, bởi chúng ảnh hưởng khá lớn tới sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp. Sự tác động của chúng lên các doanh nghiệp là khác nhau. Vì

tế trong nước. Điều đó, cũng có nghĩa là sự hoạt động của các doanh nghiệp cũng
phát triển một cách nhanh chóng hơn. Ta có thể lấy ví dụ: Việc Mỹ bình thường hóa
với Việt Nam, cũng như việc Việt Nam có mối quan hệ tốt với nhiều quốc gia trên
thế giới khiến cho kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia tăng lên đáng kể. Việc
Việt Nam gia nhập WTO cho phép thuế nhập khẩu của hàng hóa nước ngoài bằng
không khiến cho sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước khó khăn hơn
trước, hay sự khủng hoảng tài chính trên thế giới ( bắt nguồn từ nền kinh tế Mỹ) gây
không ít khó khăn cho tình hình kinh tế của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam
cũng không ngoại trừ, lạm phát, giá cả leo thang của tất cả các nguyên, vật liệu ảnh
hưởng không nhỏ tới tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trong nước.
Yếu tố pháp luật: Hành lang pháp lý bao giờ cũng tạo nên môi trường kinh
doanh công bằng giữa các doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự thay đổi ít nhiều quy định
của pháp luật tới ngành cũng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì thế, khi bắt đầu xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh người
lãnh đạo phải có những nghiên cứu, tìm hiểu Pháp luật có liên quan.
4.1.2 Yếu tố thuộc môi trường ngành
Đi sâu vào tình hình kinh tế ngành thì việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế
hoạch sẽ phải chú trọng đến các yếu tố sau:
- Thị trường ( nhóm khách hàng): Thông qua số lượng, tình trạng mong muốn
của họ, doanh nghiệp có thể tiến hành nghiên cứu để đi sâu vào sản xuất. Đây là
nhóm quyết định đến doanh thu của doanh nghiệp, sự tăng lên hay giảm đi mức cầu
sẽ quyết định tới lượng cung của doanh nghiệp ra thị trường. Vì vậy trong quá trình
lập kế hoạch, doanh nghiệp phải dự báo được tổng lượng cầu trong kỳ kế hoạch, từ
đó để điều chỉnh lượng cung sao cho hợp lý. Bên cạnh đó, bản kế hoạch cũng phải
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
tính đến những trường hợp khó khăn có thể xảy ra khác để có thể ứng phó kịp thời
với thị trường.
Song song với việc củng cố ổn định khách hàng lâu năm thì doanh nghiệp phải

- Hàng hóa thay thế là sản phẩm của các hãng thuộc hàng khác nhau nhưng có
khả năng thỏa mãn cùng một nhu cầu của khách hàng giống như các hãng trong
ngành.
4.2 Yếu tố thuộc doanh nghiệp
4.2.1 Nguồn nhân lực
Trong các yếu tố đóng góp vào hoạt động sản xuất thì yếu tố con người là yếu
tố quan trọng nhất, chi phối các yếu tố còn lại: tài nguyên, vốn và khoa học công
nghệ. Thật vậy, con người có thể chinh phục tự nhiên, tạo ra vốn và khoa học công
nghệ. Do đó, yếu tố con người đối với mọi hoạt động sản xuất là vô cùng quan
trọng. Đặc biệt trong công tác lập kế hoạch thì vai trò của con người là một nhân tố
chủ chốt. Con người, ở đây cụ thể là cán bộ làm công tác kế hoạch, là những người
thu thập, xử lý thông tin và là người đưa ra những quyết định cuối cùng cho bản kế
hoạch của mình. Vì vậy, nếu cán bộ làm công tác kế hoạch không đáp ứng đủ công
tác chuyên môn cũng như hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực liên quan thì sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng của công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Đội ngũ cán bộ làm công tác phải đảm bảo những phẩm chất nhất định:
- Là nhà lí luận tốt, có thói quen suy luận trừu tượng và có tính chất của nhà
ngoại giao.
- Có chuyên môn về kế hoạch sâu, biết sử dụng hiểu biết vào việc soạn thảo kế
hoạch, chính sách và tổ chức điều hành công tác kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.
- Có khả năng giao tiếp ở mức độ chuyên nghiệp với các chuyên viên, chuyên
gia ở các chuyên môn, chức năng khác như: tài chính, hành chính, marketing
- Có sở thích và kinh nghiệm làm việc trong môi trường kinh doanh, có kinh
nghiệm lãnh đạo.
- Là người trưởng thành, hiểu biết sâu rộng các mối quan hệ kinh doanh, kĩ
thuật kể cả chính trị, xã hội, pháp luật.
4.2.2 Nguồn lực tài chính
Một bản kế hoạch khả thi là một bản kế hoạch dựa trên những căn cứ vững
chắc và đáng tin cậy. Một trong những căn cứ đó là tiềm lực tài chính của doanh
nghiệp. Nếu như lập kế hoạch không tính đến năng lực tài chính thì sẽ chỉ là vẽ ra

nguyên nhiên vật liệu đầu vào và bao nhiêu đầu ra cho doanh nghiệp. Hay nói cách
khác, doanh nghiệp không tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất kinh
doanh cho chính mình, không có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, hoàn toàn
thụ động trước thị trường không kích thích sáng tạo kìm hãm sản xuất, hệ thống các
chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là cơ sở điều tiết mọi hoạt động tổ chức và quản lí
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp: Kế hoạch 48B
SXKD của các doanh nghiệp. Vai trò lớn nhất của kế hoạch SXKD trong cơ chế
này là:
Có năng lực tạo ra các tỉ lệ tiết kiệm và tích lũy rất cao, thực hiện được những
cân đối cần thiết trong tổng thể kinh tế quốc dân, nền kinh tế có thể đạt được mức
cung ứng các nguồn lực cần thiết để tạo ra tăng trưởng nhanh.
Hướng các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu và các lĩnh vực cần
ưu tiên trong từng thời kì nhất định.
Các đơn vị kinh tế xem như là những tế bào trong tổng thể nền kinh tế, thực
hiện nhiệm vụ kế hoạch theo những mục tiêu thống nhất từ trên xuống.
1.2 Trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với
quy luật của thị trường. Vì vậy, những dấu hiệu thị trường là cơ sở để các doanh
nghiệp thực hiện hành vi sản xuất kinh doanh của mình. Vì vậy, kế hoạch hóa vẫn
là cơ chế quản lý cần thiết, hữu hiệu của các doanh nghiệp. Lập luận về sự tồn tại và
phát triển của kế hoạch hóa doanh nghiệp trong nền Kinh tế thị trường xuất phát từ
chính vai trò của nó trong quản lý doanh nghiệp. Những vai trò chính được thể hiện
như sau:
Thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của DN
Kế hoạch là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối
hợp nỗ lực của các thành viên trong một doanh nghiệp. Lập kế hoạch cho biết mục
tiêu và cách thức đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Khi tất cả nhân viên trong
cùng một doanh nghiệp biết được doanh nghiệp mình sẽ đi đâu và họ sẽ cần phải

biến động bất thường, kinh tế thị trường ngày càng diễn biến phức tạp, môi trường
cạnh tranh trong các doanh nghiệp tăng cao nên công ty phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức vì vậy công tác kế hoạch giúp công ty có được những phương án
chiến lược, kế hoạch dự phòng để có thể linh hoạt trong hoạt động sản xuất.
2.3 Tránh tình trạng lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp
Kế hoạch SXKD là công cụ quản lý theo mục tiêu của công ty, quy định cụ thể
những nhiệm vụ về sản xuất sản phẩm, về các công việc phù hợp với kế hoạch tiêu
thụ sản phẩm. Lập kế hoạch SXKD là khâu đầu tiên, quan trọng nhất có liên quan
tới việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của công ty. Kế hoạch tổng
thể hàng năm sẽ cho biết các chỉ tiêu kế hoạch cần đạt được trong năm, kế hoạch
SV: Cấn Xuân Hòa GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoa
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status