TIỂU LUẬN:
Thực trạng môi trường kinh doanh
ảnh hưởng đến sản xuất của ngành
may mặc của nước ta và biện pháp
phát triển LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và
công nghệ, khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế đã làm cho môi trường
kinh doanh của các doanh nghiệp, các ngành có sự thay đổi nhanh chóng cả
về xu hướng và tốc độ. Sự thay đổi đó tác động rất lớn đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp do bất kì một doanh nghiệp nào
cũng phải tồn tại trong một môi trường kinh doanh nhất định. MTKD có
thể mang đến cơ hội cũng như nguy cơ cho doanh nghiệp. Do đó doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải phân tích môi trường kinh
1.1.2 Khái niệm phân tích MTKD .
MTKD tồn tại khách quan đối với doanh nghiệp. Nó luôn luôn biến
động theo những xu hướng thuận nghịch khác nhau đối với hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp hay của ngành. Vì vậy, nó đòi hỏi các cấp lãnh
đạo, các nhà quản trị không chỉ dừng lại ở việc nhận thức được MTKD mà
phải biết phân tích MTKD để tận dụng cơ hội do MTKD mang lại & hạn
chế bớt ảnh hưởng không tốt từ MTKD.
Phân tích MTKD là quá trình mà các nhà chiến lược tiến hành kiểm
tra, xem xét các nhân tố môi trường khác nhau (môi trường kinh tế, môi
trường văn hóa-xã hội, môi trường công nghệ, nhà cung cấp, nhà phân
phối…) và xác định các cơ hội hoặc các đe dọa đối với doanh nghiệp. (theo
giáo trình quản trị chiến lược của PGS.TS LÊ VĂN TÂM)
Tuy nhiên, chúng ta cần phan biệt giữa 2 khái niệm phân tích
MTKD& phán đoán MTKD. Phán đoán MTKD là việc đưa ra các ý kiến
hay các quyết định nào đó từ việc phân tích MTKD. Như vậy phân tích
phải đi trước, phán đoán chỉ có thể có được và đạt hiệu quả khi người phán
đoán có đủ các thông tin, dữ liệu từ quá trình phân tích. 1.2. Vai trò của phân tích MTKD
MTKD quyết định sự tồn tại & phát triển của doanh nghiệp,của
ngành. Doanh nghiệp chỉ có thể thành công khi biết kết hợp hài hòa các yếu
tố bên trong với các yếu tố và điều kiện của môi trường bên ngoài.
Chỉ có trên cơ sở phân tích MTKD, doanh nghiệp mới nhận thức
được các yếu tố của MTKD ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, của ngành. Đồng thời, doanh nghiệp thấy được tính chất phức tạp
và biến động , xu hướng và tốc độ thay đổi cũng như tiên lượng đúng các
yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Như vậy, vai trò của phân tích MTKD là rất quan trọng. Đó là,
công việc không thể thiếu được trong suốt quá trình kinh doanh. Cụ thể:
Tuy nhiên, sự tác động của các yếu tố MTKD tới các doanh nghiệp,
các ngành khác nhau là khác nhau. Một sự thay đổi của MTKD có thể là cơ
hội đối với doanh nghiệp này, ngành này nhưng lại có thể là nguy cơ cho
doanh nghiệp khác, ngành khác. Vì vậy, phân tích MTKD giúp doanh
nghiệp, ngành thấy được ảnh hưởng của môi trường đến hoạt động của
doanh nghiệp mình như thế nào để có biện pháp thích hợp. Ví dụ, nhu cầu
và tâm lý trong cách ăn mặc của người dân luôn luôn thay đổi. Nó đòi hỏi
các doanh nghiệp may mặc phải không ngừng nghiên cứu tâm lý khách
hàng để đưa ra sản phẩm may mặc phù hợp nhất với nhu cầu của khách
hàng. Có như vậy doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển.
Hai là, nhờ phân tích MTKD giúp cho doanh nghiệp xây dựng được
các chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn. Chiến lược kinh doanh là
định hướng hoạt động có mục tiêu của doanh nghiệp trong một thời kỳ dài
và hệ thống các chính sách, biện pháp, điều kiện để thực hiện được mục
tiêu đề ra. Phân tích MTKD chính là việc làm đầu tiên khi doanh nghiệp
tiến hành lập chiến lược kinh doanh. Thông qua phân tích MTKD, doanh
nghiệp thấy rõ được mình đang kinh doanh trong môi trường nào, chịu tác
động của những yếu tố nào, các yếu tố đó tác động là bất lợi hay thuận lợi… Chẳng hạn các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc ở nước ta cần
phải nhận thức rõ MTKD của doanh nghiệp mình, ngành mình hiện nay là
môi trường toàn cầu hóa. Đó là một sân chơi mới với những luật lệ, ràng
buộc mới… Nó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong
môi trường kinh doanh mới phải đề ra được chiến lược kinh doanh thích
hợp. Đặc biệt, may mặc là một ngành hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi
của môi trường. Do vậy việc phân tích MTKD của hàng may mặc càng cần
thiết & phải tiến hành liên tục và thường xuyên. Trên cơ sở phân tích
MTKD giúp các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc thấy được sự biến
động của thị trường nguyên vật liệu đầu vào như thị trường sợi, vải,chỉ ;
mối quan hệ với các đối tác hữu quan đến kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Môi trường tác nghiệp cũng bao gồm rất nhiều các yếu
tố. Các yếu tố đó là đối thủ cạnh tranh hiện hữu, khách hàng, nhà cung
cấp, sản phẩm thay thế, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn…
Bất kỳ một doanh nghiệp nào, một ngành nào trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh cũng đều chịu sự tác động của các yếu tố này.
May mặc là mặt hàng tiêu dùng nên chịu ảnh hưởng rất lớn từ yếu tố khách
hàng. Chỉ khi nào sản phẩm bán được thì khi đó doanh nghiệp mới thu hồi
được vốn, có lãi và tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh.
Thứ ba là môi trường bên trong: khác với hai môi trường trước, môi
trường bên trong là môi trường mà doanh nghiệp hoặc ngành có thể kiểm
soát được. Nó bao gồm các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, của ngành. Đó
là nguồn nhân lực, hệ thống cơ sở vật chất, hệ thống thông tin, thị trường
của doanh nghiệp, vốn kinh doanh, bộ máy nhân sự, quản trị tài chính-kế
toán, nề nếp văn hóa tổ chức, thương hiệu của doanh nghiệp… Do đây là
những yếu tố có thể kiểm soát được, nên trong quá trình sản xuất kinh
doanh doanh nghiệp cần phải phát huy nguồn nội lực vốn có của doanh
nghiệp đồng thời kết hợp với những điều kiện của môi trường bên ngoài để
tiến hành kinh doanh có hiệu quả.
1.3.2. Xét theo nhóm các yếu tố của MTKD Theo nhóm các yếu tố của MTKD thì MTKD có thể chia thành các
nhóm sau: Một là, nhóm môi trường kinh tế-chính trị-xã hội: Đó là trình độ
phát triển kinh tế-xã hội, mức thu nhập của dân cư, luật pháp, tâm lý, tập
quán xã hội, các chính sách kinh tế-xã hội của chính phủ…Đối với ngành
may mặc đó có thể là tâm lý ăn mặc, phong tục tập quán của người dân,qui
định hạn ngạch, thuế đối với việc nhập khẩu sợi, vải, quần áo, vào thị
trường nội địa…Tuy nhiên, khi Việt Nam gia nhập WTO hàng rào hạn
ngạch sẽ bị xóa bỏ, mức thuế sẽ giảm dần, tiến tới xóa bỏ.
1.4 Các phơng pháp nghiên cứu môI trờng kinh doanh
1.4.1 Kiu ma trn ỏnh giỏ yu t ngoi vi (EFE)
Đây là một công cụ giúp chúng ta l-ợng hoá đ-ợc sự tác động của
môi tr-ờng bên ngoài tới hot động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
tr-ớc những thay đổi của môi tr-ờng. Để xõy dng mụi trng ny chỳng ta
tin hnh 5 bc
Mt l xỏc nh cỏc yu t ca mụi trng bờn ngoi cú tỏc ng n
hot ng sn xut kinh doanh ca doanh nghip.
Hai l gỏn trng s t 0 n 1 cho tng yu t sao cho tng bng 1
Ba l cho im v phõn loi. Nu doanh nghip phn ng rt tt vi
yu t no ú thỡ cho 4 im, phn ng tt thỡ cho 3 im, phn ng trung
bỡnh th cho 2 im, phn ng rt ớt thỡ cho 1im.
Bn l xỏc nh s im bng cỏch nhõn trng s bc 2 vi số
điểm đã cho ở b-ớc 3
Cui cựng cng dn cỏc im bc 4. S im s dao ng t 1-
4. Nu bng 4 chng t doanh nghip phn ng rt tt vi mụi trng, nu
t t 2,5-4 thỡ doanh nghip phn ng khỏ tt vi mụi trng, t 1-2,5 thỡ
cho thy doanh nghip khụng tn dng c cỏc c hi ca mụi trng v
chu s e do t mụi trng t bờn ngoi.
1.4.2 Kiu ma trn ỏnh giỏ cỏc yu t ni vi (IFE)
õy l kiu ma trn túm tt v ỏnh giỏ nhng yu t bờn trong cú
th kim soỏt c ca doanh nghip, ca ngnh. Trờn c s ú doanh nghiệp, ngành thấy được điểm mạnh, điểm yếu cũng như mối liên quan
giữa các yếu tố tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng
hạn trên cơ sở đánh giá môI trường bên trong, doanh nghiệp sản xuất hàng
may mặc nhận thấy điểm mạnh của họ là lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ
đồng thời cũng thấy mặt yếu là công nghệ sản xuất, vốn kinh doanh… Ma
trận IFE cũng được lập tương tự như ma trận EFE
và mục đích phân tích, các doanh nghiệp có thể lựa chọn các kiểu ma trận
khác nhau để phân tích môi trường kinh doanh sao cho đạt kết qu¶ vµ hiÖu
qu¶ cao nhÊt.
1.5 C¸ch thøc khai thac m«i trêng kinh doanh
Như trên đã phân tích chúng ta thấy rõ ảnh hưởng sâu rộng của môi
trường kinh doanh đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nói chung và doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc nói riêng. Đồng thời
chúng ta cũng thấy rõ tầm quan trọng và sự cần thiết phải phân tích môi
trường kinh doanh. Để phân tích môi trường kinh doanh mỗi doanh nghiệp,
mỗi ngành tuỳ thuộc vào mặt hàng hay lĩnh vực kinh doanh cũng như khả
năng của từng doanh nghiệp mà có các biện pháp khai thác moi trường
kinh doanh khác nhau. Nhưng tổng quát nhất để khai thác môi trường kinh
doanh các doanh nghiệp, các ngành cần phải tiến hành các bước sau:
1.5.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin về môi trường kinh
doanh
Người Trung Quốc có câu “ Muốn làm giàu,thông tin phải đi đầu”
câu nói ấy cho thấy tầm quan trọng của “thông tin” khi giải quyêt hay tiến
hành bất cứ công việc gì. Đặc biệt trong môi trường kinh doanh cạnh tranh
khốc liệt, thì việc có được nguồn thông tin đáng tin cậy, kịp thời, đầy đủ sẽ
giúp doanh nghiệp thành công trong kinh doanh. Thông tin là cơ sở là
nguồn gốc của các hoạch định về chiến lược và kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp. Do vậy việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin về
môi trường kinh doanh là việc làm hết sức cần thiết và cần phải đặt lên
hàng đầu. Để tổ chức và xây dựng hệ thống thông tin 1 cách hiệu quả thì trước
hết doanh nghiệp cần phải xác định nhu cầu về các loại thông tin cần thiết,
sau đó đến mức độ và thời gian cần, rồi căn cứ vào khả năng tài chính của
doanh nghiệp để tiến hành thu thập, phân tích, xử lý, đánh giá thông tin.
Đó là tài sản vô giá của doanh nghiÖp.
1.5.2 Lựa chọn phương thức thâm nhập và mở rộng thị trường.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và doanh
nghiệp sản xuất hàng may mặc nói riêng thị trường chính là đầu ra của
doanh nghiệp. Bán được hàng đồng nghĩa với sản phẩm của doanh nghiệp
được thị trường chấp nhận. Khi đó doanh nghiệp sẽ thu hồi được vốn và có
lãi. Do vậy để tồn tại và phát triển doanh nghiệp cần phảI biết các phương
thức thâm nhập thị trường. Việc lựa chọn các phương thức thâm nhập thị
trường đúng đắn có ý nghĩa hết sức to lớn giúp doanh nghiệp giảm được
chi phí kinh doanh, chiếm lĩnh được thị trường,vượt qua rào cản của đối
thủ cạnh tranh, phong tục tập quán của khách hàng…
Đối với các doanh nghiệp sản xuất may mặc có thể lựa chọn các
phương thức thâm nhập thị trường như: Mở các đại lý, cửa hàng giới thiệu
sản phẩm, ký các hợp đồng gia công xuất khẩu sang thị trường nước ngoài
một cách trực tiếp hoặc qua trung gian… Thứ hai doanh nghiệp phảI nắm
rõ các loại chi phí hình thành nên giá bán của mỗi laọi sản phẩm. Trên cơ
sở đó để tìm kiếm nguồn đầu vào với chi phí thấp nhất nhằm hạ giá thành
sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời tìm kiếm
thị trường đầu ra lớn, ổn định và có tiềm năng. Thứ ba là trong cạnh tranh
doanh nghiệp cần phải nắm chắc các đối thủ cạnh tranh của mình về quy
mô, số lượng, khả năng cạnh tranh, phương thức cạnh tranh… để có các
biện pháp đối phó phù hợp.
1.5.3 Lùa chän c¬ héi kinh doanh
Khi doanh nghiệp có đủ thông tin mình cần, lựa chọn được phương
thức thâm nhập thị trường đúng đắn thì doanh nghiệp cần phải tiến hành
lựa chọn kinh doanh. Các nhà quản trị doanh nghiệp căn cứ vào thông tin họ thu thập được để xác định cơ hội hay nguy cơ đối với doanh nghiệp để
lựa chọn cơ hội kinh doanh tốt nhất. Cơ hội không phải tồn tại mãi mãi mà
1.5.5 Hoµn thiÖn c¸c ho¹t ®éng nghiÖp vô kinh doanh
BÊt k× doanh nghiÖp nào muốn chiến lược và kế hoạch kinh doanh
của doanh nghiệp trở thành hiện thực phảI thông qua hoạt động kinh doanh
hàng ngày của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc
cũng vậy, để thực hiện chiến lược kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải
tiến hành các công việc cụ thể như sau: mua vảI từ nhà cung cấp nào, số
lượng bao nhiêu loại vải gì, sản xuất lượng quần áo bao nhiêu cho vụ tới,
dự trữ là bao nhiêu, tổ chức bán hàng như thế nào, phương thức thanh toán
ra sao…
Để thực hiện được các hoạt động nghiệp vụ trên đòi hỏi doanh nghiệp phải
có một đội ngũ nhân viên có tính chuyên môn có tính chuyên nghiệp cao
trong từng hoạt động nghiệp vụ. Ví dụ như phải có đội ngũ thợ may giỏi,
nhanh nhậy trước biến động của tình hình kinh doanh, chỉ đạo tốt có hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, nắm bắt cơ hội
thị trường, đưa về cho doanh nghiệp mình những hợp đồng làm ăn lớn.
1.5.6 Góp phần hoàn thiện môI trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, các ngành kinh tế. Tuy nhiên hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp không phải lệ thuộc một chiều vào môi trường
kinh doanh mà nó có sự tác động qua lại. Hoạt động sản xuất kinh doanh
của mỗi doanh nghiệp đều có những ảnh hưởng ở một mức độ nào đó đến
các yếu tố của môI trường kinh doanh. Chẳng hạn việc dùng thuốc nhuộm
để nhuộm vả có thể gây ô nhiễm môi trường, các vải phế liệu từ quá trình
cắt may có thể là rác thải ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường… nếu
doanh nghiệp không có biện pháp xử lý đúng đắn. Trong điều kiện kinh
doanh mới “Chi phí môi trường” đang là vấn đề đáng để các doanh nghiệp
phải quan tâm. Do vậy các doanh nghiệp cần phải xây dựng cơ sơ vật chất kỹ thuật phù hợp với yêu cầu vệ sinh của môi trường, theo hướng văn
Tuy nhiên thực trạng hiện nay các doanh nghiệp may của ta phần lớn
xuất khẩu ra thị trường nước ngoài mà bỏ ngỏ thị trường trong nước .
Trong khi đó thị trương trong nước lại là một thị trường to lớn. Nhu cầu
may mặc của thị trường nội địa là 389000 tấn sản phẩm/ năm. Nếu biết
khai thác thì đây sẽ là một thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng.
Mặt khác các doanh nghiệp của ta chưa chú ý đến vấn đề xây dựng
thương hiệu. Do vậy khả năng cạnh tranh khi hội nhập nền kinh tế thế giới
là rất kém.
Do đó để hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì các doanh nghiệp của
ta cần phải xây dựng chiến lược và hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp
mình trong đó phân tích MTKD là một việc làm hết sức cần thiết.
2.2.Sự ảnh hưởng của MTKD đến sản xuất của ngành may mặc
ở nước ta và biện pháp phát triển.
2.2.1.Môi trường vĩ mô .
Môi trường vĩ mô là môi trường của toàn ngành kinh tế quốc dân ,có
ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc nói riêng và toàn
ngành dệt may nước ta nói chung. Đây là môi trường đa yếu tố. Mỗi yếu tố
có thể ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
sản xuất hàng may mặc mặc cách độc lập hoặc trong mối liên hệ với các
yếu tố khác. Để phân tích được sự ảnh hưởng của môi trường vĩ mô tới
hoạt động của ngành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất
hàng may mặc ta lần lượt xem xét các yếu tố sau:
a)Yếu tố kinh tế.
Yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả
kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuât hàng may mặc. Các yếu tố kinh
tế bao gồm một phạm vi rất rộng, ảnh hưởng tới sức mua và cơ cấu chi tiêu
của người tiêu dùng. Các yếu tố kinh tế là: tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất
đầu tư,tỷ lệ lạm phát, chính sách tài chính, tín dụng , tiền lương, thu nhập
bình quân đầu người…Đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc
đơn thuần là đáp ứng nhu cầu là hàng may mặc mà còn là may hàng thời
trang.
Lãi suất cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
đầu tư vào sản xuất ngành may mặc của Việt Nam. Trong những năm qua,
tỷ lệ lãi suất của chủng ta khá ổn định vì vậy mà đã thu hút được các nhà
đầu tư vào ngành này. Tuy vốn đầu tư vào ngành này không cần nhiều như
các ngành khác nhưng nếu có tỷ lệ lãi suất hợp lý sẽ kích thích các nhà đầu
tư đầu tư vào vốn, công nghệ, thiết kế… làm cho cung hàng hóa về may
mặc ngày càng phong phú, đa dạng mẫu mã, chất lượng, giảm giá thành,
tăng sức cạnh tranh. Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất hàng may
mặc cần phải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực
cũng như chuẩn bị tốt các yếu tố khác nhằm thu hút sự đầu tư từ bên ngoài.
b.Yếu tố chính trị, pháp lý
Trong kinh doanh hàng may mặc, môi trường chính trị, pháp lý có
ảnh hưởng mạnh đến các quyết định của doanh nghiệp. Ở nước ta, nền kinh
tế là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước do vậy, vai trò của
nhà nước đối với hoạt đọng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là
rất lớn. Ở Việt Nam,trong những năm qua, dệt may được xác định là ngành
công nghiệp mũi nhọn nên được Đảng và nhà nước quan tâm. Do vậy, đã
có rất nhiều chế độ, chính sách , văn bản pháp luật, qui định hỗ trợ và tạo
điều kiện để phát triển ngành công nghiệp may mặc. Luật đầu tư nước
ngoài ra đời tạo điều kiện cho ngành thu hút được vốn đầu tư nước ngoài.
Quyết định 908/QĐ-TTg ngày 26/7/2001 đã tháo gỡ cụ thể cho ngành như:
cho phép chuyển nhượng 20 trong số 29 mã dệt may vào thị trường EU từ
cấp hạn ngạch sang cấp giấy phép tự động ,giảm 50% phí đấu thầu hạn
ngạch hạ phí hạn ngạch để tăng khả năng cạnh tranh, ưu đãi về thuế theo
quy định hiện hành trong lĩnh vực gia công hay sản xuất hàng xuất khẩu,
miễn thuế trong vòng một năm toàn bộ lệ phí hải quan và lệ phí hạn ngạch
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc phát triển:
Chính phủ cần phải quy hoạch vùng trồng bông , ban hành một số chính sách hỗ trợ ngành trồng bông như hỗ trơ vốn dự trữ hạt giống , vốn đầu
tư,nghiên cứu khoa học và công nghệ…Mặt khác nhà nước có thể giảm
thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị cho các doanh nghiệp trong ngành cũng
như tăng cường hơn nữa công tác quản lý thị trường, xử lý nghiêm minh
các trường hợp làm hàng giả hàng nhái nhằm bảo vệ người tiêu dùng cũng
như uy tín của các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc.
c)Yếu tố văn hóa- xã hội –dân cư.
Mặc là một nhu cầu không thể thiếu của mỗi con ngừơi, do vậy may
mặc gắn liền với cuộc sống của mỗi chúng ta. Vì vậy sản phẩm may mặc
chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố văn hóa-xã hội –dân cư.
Trước hết là yếu tố văn hóa.Văn hóa được hiểu là một hệ thống giá
trị, quan niệm niềm tin, truyền thống và các chuẩn mực hành vi đơn nhất
với một nhóm người cụ thể nào đó được chia sẻ một cách tập thể. Việt nam
là một nước có nhièu dân tộc (54 dân tộc) mà mỗi dân tộc lại có một nền
văn hóa đặc trưng. Nền văn hóa của mỗi vùng có ảnh hưởng đến sinh hoạt
cũng như thói quen sử dụng hành may mặc. Với các dân tộc thiểu số thì
nhu cầu này rất thấp, họ chủ yêu tự cung tự cấp, sử dụng hàng may sẵn rất
ít. Ngược lại ở vùng dân cư đồng bằng nhu cầu lại khá cao.Vì vậy các
doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc cần phải xác định thị trường tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp mình đó là ở đồng bằng, nơi dân cư tạp trung
đông đúc , khả năng tiêu thụ cao. Để hạ giá thành sản phẩm , thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu may mặc của dân cư thì các doanh nghiệp sản xuất hàng may
mặc cần đặt các cơ sở sản xuất gần khu dân cư dể giảm chi phí vận chuyển.
Hơn nữa văn hoá nước ta còn đa dạng theo vùng, miền. Nhìn chung
thị trường nội địa tương đối dễ tính , chỉ có dân cư ở thành phố, thị xã mới
có sự lựa chọn kĩ càng về kiểu dáng , mẫu mã , chất liệu màu sắc ,thời
màu sắc khác nhau trong sản phẩm may mặc .Với khoảng 85 triệu người và
thu nhập trên 600 USD/năm thị trường nội địa đã tạo ra một nhu cầu rất lớn
cho ngành sản xuất hàng may mặc. Mặt khác với quy mô dân số lớn và cơ cấu dân số trẻ, nó cung cấp
một nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ. Điều này tạo diều kiện
cho các doanh nghiệp may mặc có thể giảm giá thành sản phẩm để tăng sức
cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.
Xã hội ngày càng phát triển cùng với nó xu hướng mặc của người
dân cũng thay đổi theo. Đó là cơ hội cho các doanh nghiệp may mặc gia
tăng sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng . Trên thực tế để
phát triển sản phẩm đòi hỏi các doanh nghiệp cần phẩi tìm hiểu kĩ nền văn
hóa mà doanh nghiệp sẽ tung sản phẩm của mình tại đó , khai thác triệt để
thị trường nội địa, nắm bắt nhanh chóng sự thay đổi trong xu hướng tiêu
dùng để đưa ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường.
d)Yếu tố tự nhiên.
Các yếu tố tự nhiên có thể là điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất hàng may
mặc . Ở Việt Nam khí hậu rất đa dạng theo từng vùng , điều này đã quyết
định đến sản phẩm may mặc trên thị trường. Ở những vùng có điều kiện
khí hậu khác nhau ứng với từng mùa vụ khác nhau đòi hỏi phải cung cấp
những sản phẩm khác nhau cho phù hợp. Chẳng hạn đối với mùa hè do thời
tiêt nóng bức các doanh nghiệp phải sản xuất những sản phẩm thoáng, mát.
Ngược lại mùa đông sản phẩm may mặc phải ấm áp .Với 4 mùa trong năm ,
đây là điều kiện để các doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm may mặc,tạo ra
nhiều sản phẩm đáp ứng mọi nhu cầu của mọi tầng lớp dân cư.
Ngoài ra tài nguyên thiên nhiên nước ta khá phong phú và đa dạng.
Khí hậu đất đai của nước ta rất thích hợp để trồng các loại cây như bông ,
đay…là một trong những loại nguyên liệu cho ngành may mặc.Do đó ảnh
bằng máy khâu đạp bằng chân đã được thay thế bằng dây chuyền máy may
tự động hiện đại hay trang bị máy ép thân 1 loại may có thể thay thế cho 10
lao động trong khâu là…Đến năm 1999 ngành đã đổi mới được 95% máy
móc thiết bị, năm 2003 toàn ngành có khoảng 190000 máy may hiện đại.
Nhờ có công nghệ hiện đại, các donah nghiệp của ta đã nầng cao được năng suất lao động chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh
với các sản phẩm cùng loại trên thị trường khu vực và thế giới.
Công nghệ có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp may mặc. Do vậy để phát triển ngành này thì vấn đề
đặt ra là các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư những dây chuyền
thiết bị công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó phải tổ chức các lớp đào tạo bồi
dưỡng ngắn hạn để nâng cao tay nghề cũng như trình độ kĩ thuật để vận
hành được tốt máy móc thiết bị hiện đại đó. Sự phát triển của khoa học
công nghệ và kĩ thuật đặt ra cho ngành may mặc Việt Nam trước những áp
lực và thách thức to lớn. Trong điều kiện hội nhập hiện nay các doanh
nghiệp của nước ta cần phải mở rộng giao lưu , làm ăn với các doanh
nghiệp nước ngoài để tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ ,cũng như kinh
nghiệm sản xuất tiên tiến của các doanh nghiệp bạn nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất của doanh ngiệp mình.
f) Yếu tố toàn cầu hóa.
Ngày 11/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ
chức thương mại thế giới WTO. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối
với các doanh nghiệp của ta nói chung và đối với các doanh nghiệp sản xất
hàng may mặc nói riêng.Với việc trở thành thành viên của tổ chức thương
mại thế giới, Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi về thuế , một số quy định,
hàng rào ngăn cản việc xuất khẩu sẽ bị xóa bỏ. Điều này tạo hành lang
pháp lý thông thoáng cho các sản phẩm của chúng ta hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và thế giới. May mặc là sản phẩm xuất khâu chủ yếu của nước