II
TIỂU LUẬN:
Hãy để trẻ tự do vui chơi – ngại gì vết bẩn”
cho thương hiệu OMO trên thị trường Việt
Nam _Thực trạng và giải pháp LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, xu hướng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ,
thúc đẩy kinh tế Việt Nam hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Đặc biệt từ khi Việt Nam ra nhập WTO năm 2006, toàn cầu hóa kinh tế và nhất
thể hóa kinh tế khu vực đã làm gia tăng sự liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp
nhưng đồng thời cũng buộc các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau ngày càng gay
gắt. Thị trường rộng mở - 86 triệu dân cùng với nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng
cao thực sự là cơ hội kinh doanh hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là
các tập đoàn đa quốc gia. Và Unilever là ví dụ điển hình cho doanh nghiệp nước
Phần II : Thực trạng các hoạt động PR với thông điệp : “ Hãy để trẻ tự do vui
chơi – ngại gì vết bẩn” và một số nhận xét, đánh giá về hoạt động PR cho thương
hiệu bột giặt OMO
Phần III : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động PR cho
thương hiệu bột giặt OMO
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN UNILEVER - THƯƠNG HIỆU
OMO VÀ THỊ TRƯỜNG BỘT GIẶT TẠI VIỆT NAM
1.1. Giới thiệu khái quát về tập đoàn Unilever
1.1.1. Tập đoàn Unilever quốc tế
Unilever là tập đoàn của Anh và Hà Lan chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu
dùng như mỹ phẩm, hóa chất giặt tẩy, kem đánh răng, dầu gội, thực phẩm Ngày
xuất xà phòng quy mô lớn. Ông mua 23 hecta đất trên bờ sông Mersey. Dự án sản
xuất xà phòng được một kiến trúc sư nổi tiếng người Liverpool có tên là William
Owen thiết kế và bắt đầu khởi động vào tháng 3/1888. Kể từ đây, Lever đã mở
thêm ba nhà máy sản xuất xà phòng mới tại Anh.
Năm 1890, Lever mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của mình ra khỏi
biên giới nước Anh. Ngoài nhà máy tại Mỹ, Lever còn “bành trướng” sang tận Úc,
Canada, Đức và Thụy Sĩ. Ngay tại quê hương của mình, vào năm 1911, Lever
Brothers chiếm một thị phần rất lớn, cứ ba bánh xà phòng trên thị trường thì có
một bánh xà phòng là sản phẩm của Lever. Năm 1906, Lever mua lại Vinolia –
một công ty sản xuất xà phòng, năm 1910 – mua lại Hudson's – một hãng sản xuất
bột giặt lớn ở Anh. Còn từ 1910 đến 1915, ông mua thêm ba công ty chuyên sản
xuất xà phòng Anh mà một trong số đó chính là Pears, một đối thủ chính của
Unilever.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Lever tiếp tục “bành trướng” sang tận
châu Phi. Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã củng cố thêm vị trí của Unilever
trên thị trường nội địa cũng như quốc tế. Lever mở rộng mặt hàng kinh doanh của
mình sang lĩnh vực sản xuất bơ thực vật (margarin). Tháng Giêng 1930, sự hợp
nhất giữa Margarine Union (Hà Lan)và Lever Brothers được thực hiện. Một liên
minh mới Anh-Hà Lan có tên là Unilever đã ra đời. Để tránh hệ thống đánh thuế
kép, liên minh này quyết định tách thành hai công ty: Unilever PLC có trụ sở tại
Anh và Unilever NV đóng trụ sở tại Hà Lan. Và dù hai công ty này có cơ cấu hoạt
động gần như độc lập, song Unilever vẫn như một thục thể thống nhất. Cổ đông
của Unilever, dù ở Anh hay Hà Lan cũng đều nhận được một mức cổ tức như
nhau.
CÁC THƯƠNG HIỆU CỦA UNILEVER Unilever là tập đoàn sản xuất hàng tiêu dùng đang sở hữu những thương
hiệu lớn như Lipton, Hellman’s, Ragu, Rama, Magnum, Bertolli, Knorr,
Bird’Eyes, Slim-Fast, Dove, Pond, Signal, Close-up, Surf và Omo…
vị trí thứ nhất hoặc thứ hai trong dòng sản phẩm nhất định nào đó. Ngoài ra, hãng
còn thực hiện những giao dịch có lợi như mua lại nhà máy sản xuất các loại sản
phẩm giúp giảm cân Slimfast, công ty Bestfoods – chủ nhân của súp Knorr, hay
bán đi phần tài sản đã không còn sinh lợi.
Trong những năm gần đây, tập đoàn đã :
Tiến hành nhiều nghiên cứu thị trường và phát hiện ra rằng, nhóm sản phẩm
dinh dưỡng, hay thực phẩm bổ sung vitamin, thảo dược, trái cây và các yếu tố giúp
giảm cân… đang trên đà tăng trưởng mạnh.
Tung ra nhiều sản phẩm hoàn toàn mới: nước ép trái cây, rau củ dưới cái
tên Knorr Vie, thực phẩm ít chất béo Becel…
Lên kế hoạch đưa vào các thương hiệu sẵn có khái niệm “được bổ sung các
yếu tố nâng cao sức đề kháng”.
Đặt nhiệm vụ đuổi kịp Nestle và Procter&Gabler trên thị trường Châu Âu. 1.1.2. Unilever Việt Nam
Thâm nhập vào thị trường Việt Nam từ năm 1995, tới nay tập đoàn đã trở
thành một trong các nhà đầu tư thành công nhất ở Việt Nam với 2 doanh nghiệp:
công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam(100% vốn nước ngoài) chuyên về các
sản phẩm chăm sóc cá nhân và gia đình (bột giặt OMO, Viso, xà bông và sữa tắm
Lux, Lifebuoy, Dove, dầu gội Sunsilk, Clear, Lifebuoy, các loại nước vệ sinh gia đình Vim, nước rửa chén bát Sunlight, các loại sữa rửa mặt và kem dưỡng da
Pond"s, Hazeline ) và Công ty TNHH Unilever Việt Nam chuyên về các sản
phẩm thực phẩm, trà và các đồ uống từ trà, các sản phẩm chăm sóc vệ sinh răng
miệng (trà Lipton nhãn vàng, Lipton Icetea, nước mắm và bột nêm Knorr.). Tổng
cộng, Unilever Việt Nam sản xuất và phân phối 14 nhãn hàng chủ lực tại thị
trường trong nước.
vệ sinh răng miệng) Chăm sóc cá nhân: Sunsilk, Clear, Dove, phao tròn, Hazeline, Pond's, P / S, Close
up, Rexona
Thực phẩm: Lipton, Knorr
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA UNILEVER VIỆT NAM
Unilever Việt Nam nói chung, hai công ty trực thuộc nói riêng quản trị
doanh nghiệp dựa vào mô hình cơ cấu tổ chức theo tuyến sản phẩm. Đối với mỗi
ngành hàng hay tuyến sản phẩm, giám đốc có toàn quyền quyết định tất cả các
hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành hàng mình phụ trách.
Có thể khái quát bộ máy tổ chức của hai công ty trực thuộc Unilever Việt
Nam như sau : Hội đồng quản trị
Thư kí HĐQTChủ tịch HĐQT Ban kiểm soát
Tổng giám đốc
Giám đốc ngành hàng A
Giám đ
ốc ngành hàng BGiám đ
ốc ngành
hàng C
Unilever Việt Nam chuyên về các sản phẩm thực phẩm, trà và các đồ uống từ trà,
các sản phẩm chăm sóc vệ sinh răng miệng.
Unilever Việt Nam hiện đang điều hành hai nhà máy: một tại Củ Chi và
một tại Thủ Đức- thành phố Hồ Chí Minh trong khi duy trì mối quan hệ sản xuất
hợp đồng với các doanh nghiệp địa phương khác nhau. Unilever Việt Nam đã phát
triển một mạng lưới phân phối và bán lẻ rộng lớn tại các địa phương, tỉnh thành
trên cả nước. Hiện nay, công ty trực tiếp quản lý hơn 1.500 lao động. Công ty cam
kết hình thành quan hệ đối tác mạnh mẽ với các doanh nghiệp địa phương trong
chế biến sản xuất và cung ứng nguyên liệu cũng như đóng gói. Việc kết hợp này
đã giúp các đối tác Việt Nam phát triển kinh doanh của mình, đảm bảo thu nhập
ổn định hơn và tạo ra hơn 6.000 việc làm cho người lao động. Tổng doanh thu bán
hàng của công ty năm 2008 đạt tương đương 1% GDP của Việt Nam và tiếp tục
tăng trong các năm tiếp theo. Hiện tại, Unilever có 76 nhà cung cấp nguyên liệu
đầu vào, 54 công ty hợp tác đóng gói và sản xuất của công ty thông qua các hợp
đồng gia công.
Unilever Việt Nam được xem là một trong những công ty có vốn đầu tư
nước ngoài hoạt động hiệu quả , liên tiếp được trao giải thưởng Rồng Vàng trong
nhiều năm . Công ty cũng nằm trong số những doanh nghiệp tham gia tích cực vào
các hoạt động tài trợ xã hội , từ thiện. Từ năm 1995 đến năm 2005, Unilever Việt
Nam đã đóng góp vào ngân sách quốc gia hơn 2.400 tỉ đồng.Unilever luôn ý thức
và tích cực tham gia các hoạt động hỗ trợ cộng đồng, đóng góp nâng cao đời sống, sức khỏe của người dân Việt Nam. Trong 15 năm qua , Công ty đã dành hơn 300
tỷ đồng, kết hợp với Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan ban ngành
địa phương thực hiện một số chương trình lớn dài hạn trong các lĩnh vực y tế, giáo
dục, xoá đói giảm nghèo, và phòng chống thiên tai. Công ty đã giúp người dân có
hoàn cảnh khó khăn và đặc biệt là trẻ em tiếp cận dễ dàng hơn với các dịch vụ y tế
thông qua các dự án "P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam", "Vì ánh mắt trẻ thơ", nâng
cao trình độ đào tạo nghề và hỗ trợ kinh phí cho các trường dành cho người khuyết
phẩm có giá cả phải chăng ở các vùng có thu nhập thấp như Châu Á và Châu Phi,
không chỉ cung cấp sản phẩm tẩy rửa có chất lượng hàng đầu mà còn làm giảm
thời gian, nỗ lực thể chất và lượng nước cần thiết để giặt quần áo bằng tay.
Nhận biết 80% người tiêu dùng Việt Nam sống ở vùng nông thôn có thu
nhập thấp, Unilever Việt Nam đã đề ra mục tiêu giảm giá thành sản xuất nhằm
đem lại mức giá cả hợp lý cho người tiêu dùng. Công ty đã dựa vào các doanh
nghiệp nhỏ ở địa phương để tìm các nguyên liệu tại chỗ thay thế một số loại phải
nhập khẩu; điều này vừa giảm được chi phí mua hàng vừa đóng thuế nhập khẩu ít
hơn. Ngoài ra công ty cũng phân bố sản xuất, đóng gói cho các vệ tinh tại các khu
vực Bắc, Trung, Nam để giảm chi phí vận chuyển và kho bãi. Unilever cũng đã
thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính giúp các doanh nghiệp địa phương có thể
nâng cấp trang thiết bị sản xuất, chuyển giao kĩ thuật, tổ chức các chương trình
huấn luyện sản xuất.
PHÂN PHỐI
Năm 1995, Unilever xâm nhập vàoViệt Nam, nhanh chóng tạo ra một hệ
thống tiếp thị và phân phối toàn quốc, bao quát hơn 100.000 địa điểm.Unilever đã
đưa ra khái niệm tiêu thụ bán lẻ trực tuyến, sử dụng nhân viên bán hàng trực
tuyến. Những nhân viên này có nhiệm vụ chào các đơn hàng mới, giao hàng và
cấp tín dụng cho các đơn hàng tiếp theo. Các điểm bán lẻ được cấp tủ bày hàng
năm, sử dụng tối đa không gian trong cửa hàng và tạo ra tính bắt mắt cho sản phảm. Ngoài ra, công ty còn giúp đỡ các hãng phân phối bằng việc cho vay các
khoản để mua phương tiện đi lại, đào tạo quản lý và đội ngũ nhân viên bán hàng.
Hiện nay, mạng lưới phân phối sản phẩm bột giặt OMO ngày càng mở
rộng, bao quát khắp các tỉnh thành trên cả nước với 283 nhà phân phối cùng với
150.000 cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc. Unilever kí kết hợp đồng với các nhà
phân phối, bán lẻ nước ngoài: METRO, BIG-C và các hãng trong nước: HAPRO,
tập đoàn PHÚ THÁI, SATRA…cùng hệ thống các siêu thị lớn trong cả nước. Các
nhà phân phối này lại đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua hệ thống
khách hàng là các tổ chức thì sức mua, hành vi mua và sử dụng sản phẩm có nhiều
khác biệt so với khách hàng cá nhân trong các hộ gia đình. Sức mua của họ thường
lớn, mua thường xuyên và mua trong các siêu thị hay đại lý lớn. Còn khách hàng
cá nhân mua với số lượng ít hơn, hay mua trong các chợ, cửa hàng tạp hóa. Sau
đây, ta lần lượt liêt kê một số đặc điểm của khách hàng mục tiêu mà OMO hướng
tới(chung cho cả hai đối tượng cá nhân và tổ chức):
THU NHẬP
Ban đầu, thị trường OMO nhắm tới là thị trường trung và cao cấp. Sau
này, với cam kết đem lại lợi ích tốt nhất cho cuộc sống, OMO đã và đang cố gắng
tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm để hướng tới nhóm khách hàng có thu
nhập thấp ở nông thôn và miền núi.
GIỚI TÍNH
Bột giặt là hàng hóa chăm sóc vệ sinh cá nhân và gia đình nên đối tượng
ra quyết định mua thường là các bà nội trợ hay những người phụ nữ. Cũng có một
số ít khách hàng là nam giới nhưng tỷ lệ này không nhiều.
NGHỀ NGHIỆP, TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA
Bột giặt là sản phẩm tiêu dùng của mọi nhà nên không kể nghề nghiệp
hay trình độ văn hóa nào, OMO muốn hướng tới mọi đối tượng khách hàng. Chỉ
có điều ở trình độ văn hóa càng cao, nghề nghiệp càng ổn định, có địa vị trong xã
hội thì khách hàng càng đòi hỏi sản phẩm có nhiều tính năng vượt trội: trắng sáng,
không hại da tay, giữ được hương thơm bền lâu, sản phẩm cao cấp dành cho máy
giặt…
SỞ THÍCH, THÓI QUEN VÀ HÀNH VI MUA Người tiêu dùng khi sử dụng bột giặt đều muốn sản phẩm kết hợp được
nhiều tính năng, quan trọng là : trắng sáng, diệt khuẩn, hương thơm, không hại da
tay, tiện dụng cho máy giặt. Đáp ứng sở thích đó, OMO đã cho ra đời nhiều dòng
bột giặt: OMO tẩy trắng, OMO hương ngàn hoa, OMO tẩy hết 99% vết bẩn, OMO
matic dùng cho máy giặt khiến người tiêu dùng hứng thú với sản phẩm hơn.
chỉ có một vài nhãn hiệu bột giặt trong nước với chất lượng thấp, mẫu mã kém đa
dạng. Từ năm 1995 trở lại đây, nước ta bước vào thời kì mở cửa và hội nhập, các
doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ồ ạt thì thị trường mới trở nên sôi
động. Nguồn cung dồi dào với sự hiện diện của các thương hiệu như OMO, Tide,
Vì dân, Hoa Mơ, Surf, Viso… Tiêu biểu phải kể đến sự ra nhập thị trường của các
tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực lớn như Unilever và P&G. Sản phẩm bột giặt
OMO của Unilever và Tide của P&G đang chiếm thị phần lớn tại Việt Nam. Theo
số liệu điều tra, thương hiệu bột giặt Omo chiếm 60% thị trường bột giặt trong
nước, Tide-đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Omo chiếm 30% thị phần, 10% còn lại
dành cho các thương hiệu bột giặt khác. Sự xuất hiện của các tập đoàn này đem lại
cho thị trường một cơn lốc cạnh tranh khốc liệt- cuộc đua giành thị phần giữa các
doanh nghiệp trong và ngoài nước. Quy luật cạnh tranh khiến các doanh nghiệp ý
thức rất rõ mục tiêu trong hoạt động kinh doanh của mình, không ngừng nâng cao
chất lượng, cải tiến mẫu mã, khác biệt hóa sản phẩm để đáp ứng tốt hơn nữa nhu
cầu của người tiêu dùng. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, các sản phẩm
bột giặt đa dạng về mẫu mã, chủng loại, chất lượng ngày một nâng cao. Nguồn
cung tương đối ổn định, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng đã và đang là lợi
thế tốt đảm bảo cho giá cả ít biến động.
1.3.2. Cầu thị trường
Ta có thể thấy, kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng với tốc độ cao,
kéo theo đó là sự tăng lên về dân số mỗi năm dẫn đến cầu thị trường ngày một gia
tăng trong tất cả các mặt hàng, trong đó có bột giặt. Cầu thị trường bột giặt không
chỉ tăng lên về số lượng mà còn có nhiều thay đổi so với trước kia. Xã hội hiện
đại, đối với mỗi gia đình, bột giặt là một trong những sản phẩm tiêu dùng thiết
yếu. Điều kiện sống càng phát triển thì nhu cầu con người về những sản phẩm
hoàn thiện cũng thay đổi theo thời gian. Người tiêu dùng ngày càng có nhiều nhu
cầu, mong muốn đặt ra cho sản phẩm hàng hóa. Với cuộc sống hiện đại bận rộn, có it thời gian người tiêu dùng mong muốn bột giặt phải có tính năng giặt trắng,
Giá của hàng hoá cạnh tranh : giá của sản phẩm bột giặt cạnh tranh giảm,
chất lượng tương đương thì người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang sử dụng sản
phẩm bột giặt đó.
Thị hiếu : thị hiếu thay đổi , người tiêu dùng đặt ra các yêu cầu ngày càng
cao cho các loại bột giặt, dẫn đến cầu thay đổi. Cầu tăng khi doanh nghiệp nắm bắt
được thị hiếu khách hàng, từ đó cải tiến sản phẩm.
Kỳ vọng của người tiêu dùng (về thu nhập hay giá của hàng hoá trong
tương lai): người tiêu dùng có kỳ vọng thu nhập tăng trong tương lai sẽ quyết định
tăng chi tiêu dẫn đến cầu hàng hóa tăng cao.
các dịp/ sự kiện tiêu biểu trên các phương tin thông tin đại chúng . Đạt được việc quảng bá rộng hơn về vai trò tích cực, sự cần thiết phải sử
dụng sản phẩm bột giặt OMO trong cuộc sống hàng ngày.
Định vị sản phẩm bột giặt OMO lên một tầm cao mới, khắc sâu trong
tâm trí khách hàng như là một thương hiệu uy tín, vì cộng đồng.
2.1.2. Quy trình thực hiện hoạt động PR
Để đạt được mục tiêu đề ra, Unilever đã xây dựng một kế hoạch bao gồm
nhiều bước công việc cụ thể. Tất cả đều được tiến hành một cách bài bản và thống
nhất. Dưới đây là các bước công việc đã được triển khai:
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH
Như đã nói ở trên, bước công việc này hoàn toàn cần thiết để thăm dò ý
kiến và hiểu rõ thái độ, suy nghĩ của cộng đồng mục tiêu đối với vấn đề doanh
nghiệp đưa ra. Ở đây, vấn đề mà Unilever đưa ra thảo luận là sự phát triển toàn
diện của trẻ nhỏ. Cụ thể như sau:
“Xã hội phát triển đem lại nhiều thay đổi cho cuộc sống của mỗi chúng
ta. Bên cạnh những tiến bộ làm nâng cao chất lượng cuộc sống thì nảy sinh nhiều
vấn đề đáng lo ngại. Cụ thể là các vấn đề liên quan đến sự phát triển toàn diện của
trẻ nhỏ - thế hệ tương lai. Trước áp lực học hành, thi cử cộng thêm sự bận rộn của
cuộc sống hiện đại, trẻ em ngày càng ít được tự do vui chơi, sống với tuổi thơ của
mình. Bởi nhiều lý do mà các ông bố , bà mẹ hạn chế con mình tiếp xúc với thiên
nhiên , môi trường xung quanh. Một trong các lý do được tìm ra là họ lo ngại các
vi khuẩn, bụi bẩn sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe con cái họ. Chính vì vậy, OMO
đưa ra thông điệp : “ Hãy để trẻ tự do vui chơi- ngại gì vết bẩn”, sống đúng với
tuổi thơ tươi đẹp của mình , tự do trải nghiệm cuộc sống , khám phá thế giới…”
Trên thực tế, để xác định thái độ và ý kiến của khách hàng, Unilever đã
Các bà mẹ
của trẻ từ
10-12 tuổi
Mẹ của bé trai 19 19 19 18
Mẹ của bé gái 18 19 19 19
Tổng số 37 38 38 37
Tại Việt Nam, Unilever tiến hành phỏng vấn trực tiếp 150 bà mẹ theo mô
hình trên và thu được ý kiến phản hồi như sau: “ Trẻ em trong độ tuổi từ 6-12 tại
Việt Nam cũng như 10 quốc gia khác trên thế giới đang chịu sức ép rất lớn. Đến
91% bà mẹ được phỏng vấn cho biết hoạt động vui chơi chủ yếu của con họ là
xem tivi (trong khi tỷ lệ này với các bà mẹ trên toàn thế giới là 71%). Chỉ có 4%
bà mẹ Việt Nam cho biết con mình thường xuyên tham gia vào các trò chơi vận
động (trong khi tỷ lệ này với các bà mẹ trên toàn thế giới là 22%). 80% bà mẹ Việt
Nam cũng chia sẻ: khi thiếu các hoạt động thể chất, vui chơi ngoài trời, trẻ sẽ khó lòng thấy hạnh phúc, vui tươi được với nhịp sống của mình”.(Số liệu được công
bố tại Hội thảo chuyên đề và cam kết : “Hãy để trẻ tự do vui chơi” do Vụ Giáo dục
tiểu học (Bộ GD-ĐT) tổ chức sáng 10-8-2007 tại TP.HCM).
Cùng với phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ trên khắp các tỉnh thành, Unilever
còn tiến hành khảo sát trực tuyến qua trang web: www.haydetretudo.com.vn. Đây
là hình thức phỏng vấn nhanh, đơn giản và tiện lợi đối với các bà mẹ hay công
chúng quan tâm đến chủ đề này nhưng có ít thời gian rảnh rỗi. Hệ thống tự động
đưa ra 10 câu hỏi với hai lựa chọn : có hoặc không cho khách hàng trả lời. Sau mỗi
câu trả lời, hệ thống sẽ tự động đưa ra số liệu thống kê liên quan đến câu hỏi đó-
những con số tỷ lệ phần trăm cụ thể. Sau đây là ví dụ:
Khảo sát trực tuyến
Câu 1: Bạn có nghĩ rằng mọi người ở đất nước mình đang quên đi tầm
quan trọng của việc học thực nghiệm?
CÓ KHÔNG
tập các loại văn bản rất đa dạng, gồm những bản báo cáo dành cho cổ đông, báo
cáo thường niên, thông cáo báo chí, các bài báo diễn văn, những cuốn sách nhỏ,
bản tin nội bộ, bài viết trên các website…
Thiết kế và sản xuất
Nhân viên PR của Unilever phải thiết kế, sản xuất những cuốn niên giám,
các bản báo cáo, phim tài liệu, các chương trình truyền thông đa phương tiện…Bởi
vậy, yêu cầu nhân viên PR cần có kiến thức và kỹ năng cơ bản, cập nhật về thiết
kế và sản xuất chương trình, biết xây dựng mối quan hệ tốt, hiểu biết với các nhà
thiết kế trong và ngoài tổ chức.
Quan hệ với giới truyền thông
Quan hệ với giới truyền thông là một phần quan trọng trong hoạt động
PR. PR thiết lập và phát triển một mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với giới báo chí.
Unilever cung cấp thông tin cập nhật mới nhất về hoạt động PR của mình tới báo
chí. Công việc này bao gồm những hoạt động như soạn thảo và phát thông cáo báo
chí, họp báo, tổ chức các buổi gặp mặt…Nhân viên PR của Unilever phải liên tục
duy trì và phát triển hình ảnh của công ty mình thông qua quảng cáo và việc xuất
hiện thường xuyên trên các phương tiên thông tin đại chúng.
Truyền thông Truyền thông là một phần không thể thiếu của hoạt động của PR.Qua các
buổi họp, diễn thuyết, ra mắt sản phẩm…, Unilever cố gắng đưa ra thông điệp PR :
“ Hãy để trẻ tự do vui chơi- ngại gì vết bẩn” một cách hiệu quả tới từng nhóm
khách hàng và công chúng riêng biệt để đạt được mục tiêu nhất định. Nhiệm vụ
này đòi hỏi nhân viên PR phải có những kỹ năng diễn đạt, đồng thời phải hiểu
biết thấu đáo về tâm lý và nhu cầu của các nhóm khách hàng, công chúng khác
nhau trong xã hội.
Tổ chức sự kiện đặc biệt, tài trợ từ thiện hỗ trợ cộng đồng
Tổ chức sự kiện là hoạt động không thể thiếu khi tiến hành PR cho một
sản phẩm. Unilever lên kế hoạch tổ chức những sự kiện đặc biệt với trọng tâm
“Ngại gì vết bẩn” là một chương trình toàn cầu của Unilever được thực
hiện thông qua những nhãn hiệu bột giặt của tập đoàn trên khắp thế giới, đã dành
một khoảng thời gian đáng kể để lắng nghe các bà mẹ bày tỏ những nỗi lo, hy
vọng và mong muốn của mình cho những đứa con thân yêu và tuổi thơ của chúng.
Thông qua cuộc trò chuyện này, Unilever đã hiểu được các bà mẹ đều lo lắng
rằng ngày nay tuổi thơ của con mình đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi các nhân tố
về lối sống và áp lực xã hội. Họ cảm thấy rằng con cái không thể tận hưởng được
tuổi thơ và tự do tham gia các hoạt động ngoại khóa có thể kích thích việc học tập
từ trải nghiệm thực tế và tăng cường sự phát triển của chúng. Bên cạnh đó, thông
qua cuộc nghiên cứu đáng tin cậy này, Unilever cũng đo lường các tác động tiềm
ẩn do việc thiếu học tập thực nghiệm mang lại cho trẻ. Vì vậy, Unilever đã tiến
hành một cuộc nghiên cứu định lượng trên toàn cầu“Quan điểm của người mẹ:
Hãy để trẻ tự do sống với tuổi thơ”. Và thông điệp : “Hãy để trẻ tự do vui chơi-
ngại gì vết bẩn” sẽ được truyền tải một cách tự nhiên và thuyết phục nhất đến
người tiêu dùng, đặc biệt là các bà mẹ.
(Trích báo cáo toàn cầu của OMO )