TIỂU LUẬN:
Một số biện pháp về tổ chức nhằm đẩy
mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại
Tổng Công ty Dệt May Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Với bề dày hơn 20 năm, Tổng Công ty Dệt May Hà Nội trực thuộc Tập đoàn
Dệt May Việt Nam là một trong những Doanh nghiệp hàng đầu của ngành Dệt May
Việt Nam. Tổng Công ty đã không ngừng lớn mạnh và phát triển trong suốt những
chặng đường nhiều thử thách, đặc biệt là trong thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập với
nền kinh tế thế giới.
Với quy mô lớn như Tổng Công ty, liệu có cần phải nghiên cứu thêm về hoạt
động tiêu thụ sản phẩm và các biện pháp nhằm nâng cao hoạt động này trong nền
kinh tế thị trường thời mở cửa. Chỉ có một câu trả lời duy nhất, hoạt động tiêu thụ sản
phẩm luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong mọi chiến lược của Tổng Công ty. Dù
chiến lược đó có là nâng cao sức mạnh cạnh tranh bằng chất lượng, nâng cao thị
phần, thu lại nhiều nhất lợi nhuận hay doanh thu cho doanh nghiệp,… thì cuối cùng
tất cả vẫn xoay quay vấn đề làm sao để thúc đẩy hoạt động tiêu thụ của doanh
nghiệp.
thụ sản phẩm của Tổng Công ty. CHƯƠNG I : NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
I.NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC TRONG DOANH NGHIỆP.
1.Khái niệm về tổ chức.
Tổ chức là một hệ thống kinh tế- xã hội gồm nhiểu người được tập hợp với
nhau cùng hoạt động vì một mục đích chung, cùng tồn tại trong những hình thái cơ
cấu nhất định và cùng được phân cho những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất
định, có vai trò và đảm nhiệm những trách nhiệm cũng như nhận được những lợi ích
nhất định.
Tổ chức cũng có thể hiểu theo một hướng khác khi xét tổ chức như là một chức
năng của quá trình quản lý. Theo đó, tổ chức được hiểu như là một hoạt động bao
gồm việc phân bổ, sắp xếp nguồn lực con người và gắn liền với con người là những
nguồn lực khác nhằm thực hiện thành công công tác kế hoạch của tổ chức.
Như vậy về bản chất, tổ chức là việc thực hiện phân công lao động một cách
khoa học. Khi tiến hành tổ chức, người ta không chỉ chú ý đến thiết kế cấu trúc mà
còn chú ý đến phương thức hoạt động và đặc biệt chú ý đến bố trí nhân lực, lao động
được gắn cho những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định để vận hành bộ máy
tổ chức đó.
2.Những nội dung cơ bản trong công tác tổ chức.
2.1. Xác định và phân loại các hoạt động cần thiết.
Mỗi tổ chức được thiết kế và lập nên đều có những mục tiêu hoạt động nhất
định cần hướng tới như là cơ sở để tồn tại của tổ chức đó. Kết quả của giai đoạn này
là danh mục các chức năng nhiệm vụ, công việc hoạt động cần thiết để thực hiện mục
tiêu chiến lược của mỗi tổ chức. Quá trình phân chia các công việc hoạt động được thực
hiện theo như sơ đồ 1.1:
đóng góp tương ứng của bộ phận đó trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của
công ty.
Vấn đề quan trọng là sử dụng cơ sở nào để phân chia tổ chức thành các bộ phận,
phòng ban trực thuộc.
* Cơ sở được sử dụng rộng rãi nhất là tổ chức theo chức năng. Những chức
năng cần thiết điển hình như là sản xuất, marketing, tài chính, kế toán, và nhân sự…
* Một cơ sở được sử dụng phổ biến nữa là phân chia các phòng ban theo sản
phẩm. Tất cả những công việc gắn với việc sản xuất và bán một sản phẩm hay một
chủng loại sản phấm sẽ được đặt dưới sự chỉ đạo của một nhà quản lý.
*Các loại hình khách hàng mà cơ sở hướng tới cũng có thể được sử dụng như
một cơ sở để phân chia tổ chức thành các phòng ban bộ phận.
* Một cơ sở nữa là tập hợp các phòng ban theo địa bàn hoạt động. Mọi hoạt
động trong một khu vực nhất định sẽ được giao cho một nhà quản lý.
* Cũng nhiều khi, các tổ chức xây dựng mô hình cơ cấu tổ chức dựa trên các
quá trình của công việc. Các quá trình ở đây chỉ những công đoạn kỹ thuật cần thiết
để làm ra sản phẩm.
* Ngoài ra chúng ta cũng có thể sử dụng nhiểu cơ sở cùng một lúc để phân chia
tổ chức thành các bộ phận, phòng ban. Như vậy chúng ta sẽ các bộ phận, phòng ban
được tổ chức theo mô hình ma trận hỗn hợp.
2.3. Phân chia lao động, xác định vị trí của từng cá nhân.
Việc phân chia lao động đề cập đến mức độ chuyên môn hoá các công việc cao
hơn nữa sau khi đã phân chia tổ chức thành các phân hệ, các bộ phận. Quá trình này
là sự quy định cụ thể trách nhiệm của mỗi cá nhân để mỗi người có cơ sở rõ ràng
trong việc thực hiện các công việc của mình.
Tất cả các tổ chức đều bao gồm những công việc được chuyên môn hoá và xác
định những nhiệm vụ rõ ràng đến từng cá nhân. Tuy nhiên có thể có những công việc
được chuyên môn hóa nhiều hơn hay ít hơn công việc kia. Sự khác biệt về mức độ
chuyên môn hoá giữa các công việc dựa trên những khía cạnh sau: _ Dựa trên
nhịp độ làm việc.
dù tổ chức có mạnh đến đâu. Vì vậy tuỳ theo mức độ ưu tiên, nguồn lực cần phải
được phân bổ một cách hợp lý để có thể tạo ra sự khác biệt thực sự về việc chú trọng
vào từng lĩnh vực cần cải tiến.
3.Các thuộc tính của cơ cấu tổ chức.
3.1. Chuyên môn hoá và phân chia tổ chức thành các bộ phận.
* Chuyên môn hoá sẽ xảy ra khi một người, một bộ phận, một phân hệ sẽ thực
hiện một hoặc một số chức năng, nhiệm vụ, công việc có mối quan hệ tương đồng.
Cơ cấu tổ chức quản lý được phân công, phân nhiệm các phân hệ trong hệ thống theo
các nhóm chuyên ngành, với những con người được đào luyện tương ứng và có đủ
quyền hạn. Thông qua chuyên môn hoá năng suất lao động của tổ chức sẽ tăng lên,
tạo nên những nhiệm vụ đơn giản dễ đào tạo, việc quản lý cũng dễ dàng hơn. Tuy
nhiên nó cũng tạo ra một cách làm việc thụ động từ đó khả năng thích nghi của con
người trước đòi hỏi của môi trường là thấp, tạo cảm giác xa lạ, đối địch giữa những
người lao động.
* Sự chuyên môn hoá theo chiều ngang tất yếu dẫn tới việc hình thành các bộ
phận và phân hệ của tổ chức. Việc hình thành các bộ phận, phân hệ của tổ chức được
thực hiện theo nhiều tiêu chí khác nhau làm xuất hiện các mô hình tổ chức khác
nhau.
Ưu điểm của mô hình tổ chức theo chức năng đó là phát huy tính tích cực
những ưu điểm của chuyên môn hoá. Tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm của
chuyên môn hoá mà ta đã vừa đề cập ở trên. Ngoài ra nó cũng có nhược điểm đó là
nhóm khách hàng có tính đơn thị trường.
Ưu điểm chính của mô hình tổ chức theo sản phẩm là giúp việc quy định trách
nhiệm đối với các mục tiêu cuối cùng tương đối dễ dàng, tăng cường việc phối hợp
giữa các phòng ban chức năng. Nhược điểm là sự tranh giành nguồn lực giữa các
tuyến sản phẩm, nó cũng cần nhiều cán bộ quản lý chung.
Ưu điểm của mô hình tổ chức theo địa dư đó là chú ý đến nhu cầu thị trường và
vấn đề địa phương, có thể phối hợp hành động của các bộ phận và hướng các hoạt
động này vào các thị trường cụ thể. Nhược điểm là khó duy trì hoạt động trên diện
phù hợp, cần phải dựa trên các mối quan hệ cơ bản sau đây:
_ Tầm quản lý và trình độ của các cán bộ quản lý có quan hệ tỷ lệ thu
ận.
_ Tính phức tạp của hoạt động quản lý và tầm quản lý có quan hệ tỷ lệ
nghịch.
_ Trình độ và ý thức tôn trọng tuân thủ mệnh lệnh của cấp dưới với tầm quản lý
có quan hệ tỷ lệ thuận.
_ Tầm quản lý và sự rõ ràng trong xác định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm có
quan hệ tỷ lệ thuận.
_ Năng lực của hệ thống thông tin có ảnh hưởng đến tầm quản lý.
3.5. Phối hợp các bộ phận.
Phối hợp là quá trình liên kết hoạt động của những con người, bộ phận, phân hệ
và hệ thống riêng rẽ nhằm thực hiện có kết quả và hiệu quả các mục tiêu chung của tổ
chức.
Phối hợp sẽ đặc biệt tỏ ra có hiệu quả đối với những môi trường công việc luôn
thay đổi, các công việc thường không thường nhật và dễ gặp phải các tình huống khó
dự đoán. Phối hợp đư
ợc thực hiện nhờ cả các công cụ chính thức và phi chính thức.
_ Các công cụ chính thức bao gồm các kế hoạch, các công cụ cơ cấu, mô hình
tập trung, sự giám sát và ra quyết định trực tiếp của các nhà quản lý, các công cụ hệ
thống thông tin và truyền thông.
_ Các công cụ phi chính thức có thể kể đến văn hoá và các mối quan hệ cá
nhân, văn hoá với hệ thống nhận thức, những giá trị, những chuẩn mực, những lễ
nghi hàng ngày, các mối quan hệ cá nhân.
II. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM.
1.Khái niệm tiêu thụ sản phẩm.
Để hiểu được khái niệm của tiêu thụ sản phẩm trước hết ta cần hiểu được thế
nào là phân phối lưu thông hàng hoá. Phân phối thực chất là đưa hàng hoá vào các
kênh phân phối, là một hệ thống tổ chức và công nghệ điều hoà, cân đối để tiếp cận
Thông qua tiêu thụ sản phẩm dự đoán được nhu cầu tiêu dùng chung trong xã hội và
từng khu vực nói riêng đối với từng loại sản phẩm. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp
xây dựng được các kế hoạch một cách phù hợp số lượng sản phẩm được truyền tải
nhiều hơn và thường xuyên hơn cũng như giải quyết hiệu quả các nhu cầu tiêu dùng
của rộng rãi dân chúng trong xã hội. Tiêu thụ sản phẩm cũng góp phần tăng trưởng
kinh tế, chiếm lĩnh thị trường cho doanh nghiệp và nhiều mục đích khác.
Tiêu thụ sản phẩm tốt sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, tiếp tục mở rộng quy mô sản
xuất của các doanh nghiệp. Nó góp phần thu hút lao động, tạo thêm việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động, giảm được tệ nạn xã hội, tiếp tục mở rộng quy mô phát
triển sản xuất của các doanh nghiệp cũng như quy mô sản xuất của toàn xã hội.
3.Khái niệm, đặc điểm, chức năng, cơ cấu của kênh tiêu thụ.
3.1.Khái niệm.
Theo Philipe Cotler, kênh tiêu thụ đó là các cơ cấu có quan hệ với nhau, cùng
dựa vào nhau trong quá trình đưa sản phẩm hoặc dịch vụ từ người cung cấp đến
người tiêu dùng hoặc đến những hộ kinh doanh thương mại.
Hiệp hội thị trường tiêu dùng Mỹ cho rằng kênh tiêu thụ là cơ cấu tổ chức của
các nhà đại lý và các nhà buôn bán trong và ngoài doanh nghiệp.
Học giả kinh doanh tiêu thụ Streen và Er.Ansirie lại cho rằng kênh tiêu thụ là
một hệ thống gồm các tổ chức có liên quan với nhau, cùng dựa vào nhau làm cho sản
phẩm hoặc dịch vụ được sử dụng hoặc tiêu thụ thuận lợi.
Tuy cách biểu đạt của các định nghĩa trên có khác nhau nhưng đều chung một
bản chất. Tức kênh tiêu thụ là con đường lưu thông của hàng hoá từ tay người sản
xuất đến tay người tiêu dùng, đây cũng là con đường hoàn chỉnh, thông suốt từ đầu
đến cuối. Con đường này tuỳ theo doanh nghiệp cụ thể, hàng hoá cụ thể có thể là con
đuờng trực tiếp hoặc con đường gián tiếp, có thể dài, có thể ngắn, có thể rộng, có thể
hẹp.
3.2.Đặc điểm.
Kênh tiêu thụ có ba đặc điểm quan trọng sau:
_ Các kênh tiêu thụ đều có khởi điểm bắt đầu từ nhà sản xuất và kết thúc ở
tiêu dùng.
* Nhà bán buôn là những công ty chuyên làm nghiệp vụ bán buôn. Bán buôn là
tiêu thụ hàng hoá hoặc dịch vụ tới những người chuyên làm nghiệp vụ bán lẻ hoặc
mua sản phẩm để thực hiện thương nghiệp.
* Nhà bán lẻ là những doanh nghiệp mà lượng tiêu thụ của họ chủ yếu là do bán
lẻ. Bán lẻ là tiêu thụ hàng hoặc dịch vụ tới những cá nhân người tiêu dùng hoặc
những hộ hoạt động không thực hiện mục đích thương mại.
* Người tiêu dùng là điểm cuối cùng của toàn bộ kênh tiêu thụ. Các sản phẩm
của nhà sản xuất chỉ khi nào đưa đến tay người tiêu dùng hoặc đến hộ sử dụng
thì mới thực hiện được đầy đủ giá trị
4.Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong các doanh nghiệp.
Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp bao gồm những
vấn đề cơ bản sau đây:
4.1. Nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như
thế nào? Và cho ai? Tức thị trường đang cần những loại sản phẩm gì? Đặc điểm kinh
tế kỹ thuật của nó ra sao? Dung lượng thị trường về sản phẩm đó như thế nào? Ai là
người tiêu thụ những sản phẩm đó.
_ Nghiên cứu thị trường trước hết phải nghiên cứu quy mô, cơ cấu và sự vận
động của thị trường để nắm bắt được thị trường hiện tại, thị trường tiềm năng. Sau đó
là nghiên cứu tổng quan kết cấu địa lý, mặt hàng, phân bố dân cư và sức mua, vị trí
và sức hút. Tiếp theo là nghiên cứu động thái và xu thế vận động của thị trường
ngành, nhóm hàng, lĩnh vực kinh doanh (tăng trưởng, bão hoà, đình trệ hay suy
thoái).
_ Trong nội dung nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cũng phải rất chú ý đến
công tác nghiên cứu khách hàng. Để nghiên cứu khách hàng, doanh nghiệp cần xác
định các thông số khái quát và phân loại khách hàng tiềm năng, nghiên cứu tập tính
và thói quen, cấu trúc logic lựa chọn khách hàng và ảnh hưởng của trao đổi thông tin
mua bán đến tiến trình mua hàng, nghiên cứu động cơ mua sắm và hành vi ứng xử
tâm lý người mua, tiếp cận với người mua, hiểu cụ thể hơn nhu cầu của khách hàng
về sản phẩm của doanh nghiệp.
_ Quan hệ công chúng và tuyên truyền: Đó là các chương trình khác nhau
được thiết kế nhằm đề cao và bảo vệ hình ảnh của một công ty.
_ Chào bán trực tiếp: Giao tiếp với khách hàng triển vọng với mục đích bán
hàng.
4.4. Chính sách giá, xác định giá bán sản phẩm.
Trong thực tế cạnh tranh bằng việc sử dụng chiến lược giá cả sẽ gặp khó khăn
khi gặp đối thủ có tiềm lực lớn. Tuy nhiên nó sẽ phát huy tác dụng trong trường hợp
mới thâm nhập vào thị trường mới.
Chính sách giá trong tiêu thụ sản phẩm bao gồm:
_ Chính sách giá cao: Thông thường chính sách giá này sử dụng khi doanh
nghiệp kiểm soát được thị trường, lúc này doanh nghiệp bán với giá cao để thu được
lợi nhuận độc quyền. Bán ở mức giá tương đối cao so với giá thị trường có thể coi là
một thủ pháp tạm thời trong một số điều kiện nhất định.
_ Chính sách giá thấp: Trong một số trường hợp, chính sách giá thấp có thể
là cách thức tạm thời tương đối hữu hiệu để phù hợp với các điều kiện trong thị
trường thường xuyên biến động. Chính sách giá thấp có xu hướng mở rộng thị
trường, thu hút sức cầu lớn và tạo cho người bán cơ hội để sử dụng hết năng lực sản
xuất kinh doanh. Mặt khác, trong trường hợp sản phẩm đang ở giai đoạn cuối của chu
kỳ sống thì doanh nghiệp có thể bán phá giá để thu hồi vốn chuyển sang kinh doanh
các mặt hàng khác.
4.5. Xây dựng hệ thống kênh phân phối, tiêu thụ.
Doanh nghiệp cần xây dựng và lựa chọn được kênh phân phối phù hợp với đặc
điểm của sản phẩm và đặc điểm khách hàng của doanh nghiệp. Căn cứ vào cấp bậc
của kênh tiêu thụ có thể chia thành 4 loại kênh tiêu thụ như sau: _ Kênh cấp 0: Là
trường hợp sản phẩm được tiêu thụ trực tiếp từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng,
mà không phải qua bất kỳ một kênh tiêu thụ trung gian nào.
_ Kênh cấp I: Là kênh trong đó chỉ có một cấp trung gian tiêu thụ. Ơ thị
Các dịch vụ này phải thực hiện được chức năng quan trọng của nó là đảm bảo
về chất lượng sản phẩm của nhà sản xuất trong một thời gian nào đó. Trong thời gian
này, mọi sự hỏng hóc do chất lượng sẽ được nhà sản xuất sữa chữa bảo hành miễn
phí. Bảo hành có thể dài hay ngắn, nhưng cần thiết phải tạo ra cho khách hàng một
tâm lý an toàn khi mua sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong nội dung này, ngoài việc bảo hành, doanh nghiệp cần thiết phải hướng
đến việc tiếp tục duy trì thông tin, mối liên hệ với khách hàng như thường xuyên
cung cấp các thông tin mới về sản phẩm, các chương trình khuyến mại, ưu đãi từ phía
công ty đến khách hàng…
III.MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM.
1.Tổ chức là một công tác tất yếu, tao nền tảng cơ bản để tiến hành hoạt động tiêu
thụ sản phẩm.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm muốn tiến hành được thì phải có được đầy đủ các
nguồn lực, các bộ phận cần thiết và các mối quan hệ về quyền hạn, chức năng,
nhiệm vụ để gắn bó các hoạt động rời rạc lại với nhau, tạo thành một khối thống nhất
cùng thực hiện những mục tiêu chung của công tác tiêu thụ sản phẩm. Tất cả các cơ
sở tiền đề đó đều phải thông qua công tác tổ chức mới có được.
Muốn tạo cơ sở cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm, vấn đề đầu tiên ta phải giả
quyết đó là ai sẽ tiến hành các hoạt động trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Như vậy ta
phải xác định bộ phận chức năng , các cá nhân trong các bộ phận đó tức ta phải tổ
chức thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm mới được tiến hành. Không thông qua tổ chức
ta sẽ không có con người và bộ phận để thực hiện hoạt động quan trọng này.
Tiêu thụ sản phẩm tự bản thân nó là một lĩnh vực hoạt động có rất nhiều quy
mô. Trong tiêu thụ sản phẩm có thể chỉ là vài công việc, nghiệp vụ rất đơn giản nếu
tổ chưc đó là nhỏ, tuy nhiên khối lượng công việc cũng như cách thức thực hiện công
việc tiêu thụ sản phẩm sẽ phức tạp lên rất nhiều nếu tổ chức có quy mô tương đối lớn.
Như vậy vấn đề đặt ra không phải là chúng ta cứ muốn tiêu thụ sản phẩm là chúng ta
làm luôn được. Chúng ta cần phải tự xác định công việc mà mình cần thực hiện trong
các chi phí vô hình khác. Từ đó cùng với ngân quỹ như vậy cho việc tiến hành hoạt
động tiêu thụ sản phẩm những công ty sẽ đầu tư hiệu quả hơn vào các hoạt động
khác nhằm phát triển thị trường như đầu tư thăm dò các khu vực, địa bàn tỉnh, thành
phố, đầu tư vào các chiến dịch quảng cáo, đầu tư cho phát triển hệ thống kênh phân
phối… Bên cạnh đó lại nâng cao được năng suất tiêu thụ do sự gọn nhẹ vừa phải của
các bộ phận phòng ban, tạo ra sự dễ phối hợp, các quyết định kịp thời cũng như sự
linh hoạt trong hoạt động của quá trình tiêu thụ sản phẩm. Với công ty có trình độ
cũng như năng lực sản xuất lớn, cũng cần thông qua hoạt động tổ chức để xác định
các bộ phận có quy mô, công suất làm việc lớn hơn cùng với trình độ quản lý cao
hơn. Trong các công ty này thì công tác tổ chức càng có ý nghĩa quan trọng trong
việc giữ vững và phát triển hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Nhờ có tổ chức tốt, hoạt
động tiêu thụ sản phẩm sẽ không bị rối loạn và giữ vững hiệu quả trong mọi tình
huống phức tạp.
Thông qua quá trình tổ chức, con người sẽ không ngừng thực hiện các công
việc của mình theo các chức năng nhiệm vụ đã đề ra trong quá trình tổ chức, từ đó
thúc đẩy hoạt động tiêu thụ phát triển theo các hướng, mục tiêu xác định. Khi tổ chức
được thực hiện tốt, sự phân công công việc, trách nhiệm và vai trò giữa các cá nhân,
bộ phận trong tổ chức sẽ được minh bạch, cụ thể, rõ ràng. Điều này sẽ tạo ra cơ sở tốt
để quản lý con người hiệu quả, dẫn dắt họ luôn thực hiện tốt bổn phận của mình. Như
vậy chính việc tổ chức tốt đã giúp cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm được tiến hành
trôi chảy do kiểm soát tốt những con người làm việc trong lĩnh vực hoạt động đó.
Bên cạnh đó, với môi trường được tổ chức tốt, chế độ khen thưởng rõ ràng, minh
bạch, vô tư sẽ kích thích các cá nhân làm việc cạnh tranh lành mạnh, cống hiến sức
sáng tạo phát triển thị trường, phát triển thị trường, phát triển khách hàng, phát triển
doanh thu… Tất cả những điều trên là sự phát triển hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Tổ chức cũng nhằm sắp xếp lại nhân sự để bố trí những con người cá nhân phù
hợp hơn. Tổ chức để không ngừng đổi mới hệ thống hạ tầng cơ sở cũng như cung cấp
những đầu vào thường xuyên để hoạt động tiêu thụ sản phẩm luôn được cải tiến, thúc
đẩy, phát triển. Tổ chức để đổi mới phương thức tiến hành hoạt động tiêu thụ sản
năng quan trọng này đã gắn kết, phối hợp được với nhau hiệu quả nhằm không ngừng
nâng cao cả sản lượng và cả công năng tiêu thụ của công ty.
Tương tự như vậy, hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng được phối hợp chặt chẽ
với các hoạt động của các chức năng quan trọng khác như tài chính, khoa học công
nghệ, quản trị nguồn nhân lực,…thông qua một loạt các biện pháp về tổ chức, phối
hợp sắp xếp phòng ban nhân sự, cơ cấu nguồn lực… Từ đó hoạt động tiêu thụ sản
phẩm mới có các cơ sở để tiến hành chức năng, nhiệm vụ của mình. CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA TỔNG CÔNG
TY DỆT MAY HÀ NỘI
I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TỔNG CÔNG TY.
1.Lịch sử phát triển; chức năng, nhiệm vụ; chiến lược phát triến và cơ cấu tổ chức
của Tổng Công ty.
1.1.Lịch sử phát triển.
Tổng Công ty Dệt May Hà Nội (HANOSIMEX) là một Công ty hàng đầu trực
thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VINATEX). Tổng Công ty có trụ sở chính tại số
1, Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội.
Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty trải qua những giai đoạn chính
sau:
Ngày 21/11/1984, Công ty chính thức đi vào hoạt động với tên gọi là Nhà máy
_ Phấn đấu nâng cao chất lượng, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm.
_ Chú trọng và phát triển mặt hàng xuất khẩu.
_ Thực hiện nghiêm túc pháp luật của Nhà nước, bảo vệ tài sản, bảo vệ sản
xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh, an toàn xã hội.
1.3. Cơ cấu tổ chức.
*Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty chủ yếu theo mối quan hệ trực
tuyến. Mối quan hệ từ Ban lãnh đạo Công ty tới các phòng ban chức năng được thể
hiện qua sơ đồ tổ chức Tổng Công ty Dệt May Hà Nội:
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức Tổng Công ty Dệt May Hà Nội
Đại diện
lãnh đạo
HTQL
CL
Phó
Tổng
giám
đốc-
Điều
hành
Xuất
Nhập
khẩu
Phó
Tổng
giám
đốc
-
điều
hành
tiêu
thụ
nội
địa
Phó
Tổng
giám
đốc-
Điều
Nhà
máy
Dệt
D/n
TT
TN
và
KTCL
SP
TT
TK
TT
Siêu
thị
Vina
-tex
HĐ
Phòng
QTHC
Nhà
máy
sợi
TT
dệt
kim
PN
N/m
May
CP
Dệt
HĐ
Hano
-
sime
Cty
CP
Dệt
May
HTL
N/m
May
3
May
thời
trang
May HP
(Cty CP TM
HP)
Cty CP
coffee
Indochine
Cty
CP
may
ĐM