BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
o0o
NGUYỄN TẤN TÀI
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN 12 – TP.
HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc đến Hội đồng khoa học
chuyên ngành “Quản lý giáo dục” trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Tôi
chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của quý Thầy, Cô và Lãnh đạo khoa Tâm lý – Giáo
dục trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Các Thầy, Cô đã tận tình giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ của tập thể các Thầy, Cô giáo đồng
nghiệp ở ba trường: THPT Võ Trường Toản, THPT Trường Chinh, THPT Thạnh Lộc.
Đặc biệt tôi xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Tiến sĩ Hồ Văn Liên
– Người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, song những
thiếu sót trong luận văn là không thể tránh khỏi, kính mong sự đóng góp ý kiến và chỉ dẫn
của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2010
MỤC LỤC
0TLỜI CẢM ƠN0T 3
0TMỤC LỤC0T 4
0TDANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN0T 7
0TMỞ ĐẦU0T 8
0T1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI0T 8
0T2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU0T 9
0T3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU0T 9
0T4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC0T 9
0T5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU0T 10
0T6. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU0T 10
0T7. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI0T 11
0T8. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU0T 11
0T2.3.2 Chương trình và nội dung HĐGD NGLL theo chương trình của Bộ được học sinh
yêu thích
0T 54
0T2.3.3 Hình thức và phương pháp tổ chức các HĐGD NGLL0T 55
0T2.3.4 Điều kiện, phương tiện tổ chức HĐGD NGLL0T 60
0T2.3.5 Kiểm tra, đánh giá HĐGD NGLL0T 61
0T2.4 Thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận 12 TP.Hồ Chí
Minh
0T 62
0T2.4.1 Thực hiện các chức năng quản lý HĐGD NGLL0T 62
0T2.4.2 Các hình thức áp dụng để tiết HĐGD NGLL đạt kết quả cao0T 68
0T2.4.3 Thực trạng phân cấp trong quản lý HĐGD NGLL0T 69
0T2.4.4 Thực trạng quản lý cán bộ giáo viên với việc tổ chức HĐGD NGLL0T 69
0T2.4.5 Thực trạng quản lý học sinh với các HĐGD NGLL0T 71
0T2.4.6 Thực trạng quản lý các điều kiện, phương tiện tổ chức HĐGD NGLL0T 72
0T2.4.7 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả HĐGD NGLL0T 72
0T2.4.8 Thực trạng quản lý sự phối hợp tổ chức HĐGD NGLL0T 74
0T2.5 Đánh giá thực trạng0T 75
0T2.5.1 Thuận lợi0T 78
0T2.5.2 Khó khăn0T 78
0T2.6 Nguyên nhân của thực trạng0T 79
0T2.6.1 Nguyên nhân khách quan:0T 80
0T2.6.2 Nguyên nhân chủ quan:0T 81
0TCHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC QUẢN LÝ HĐGD NGLL Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN 12 –
TP.HỒ CHÍ MINH
0T 82
0T3.1. Cơ sở lý luận của các biện pháp0T 82
0T3.2. Cơ sở pháp lý của các biện pháp0T 83
0T3.3. Cơ sở thực tiễn của các biện pháp0T 85
CSVC : Cơ sở vật chất
GD – ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
GV : Giáo viên
PHHS : Phụ huynh học sinh
HĐGD NGLL : Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HS : Học sinh
TDTT : Thể dục thể thao
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TLTN : Trợ lý thanh niên
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
XH : Xã hội
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009 – 2020 về mục tiêu có
nêu rõ: “ Trong vòng 20 năm tới, phấn đấu xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại,
khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền
vững đất nước, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới
một xã hội học tập, có khả năng hội nhập quốc tế; nền giáo dục này phải đào tạo được
những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng,
hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt,
có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Để thực hiện được mục tiêu trên, mặt bằng dân
trí phải được nâng cao nhằm cung cấp những nguồn nhân lực có đầy đủ về đạo đức và năng
lực nghề nghiệp. Những giá trị về đạo đức và năng lực nghề nghiệp của các nguồn nhân lực
được hình thành không chỉ ở những giờ học trên lớp mà còn phải được rèn luyện, củng cố
và phát triển thông qua các hoạt động giáo dục, trong đó không thể thiếu hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp.
trường THPT tại quận 12 – TP.HCM.” để nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý HĐGD NGLL ở
các trường THPT tại quận 12 – TPHCM, phân tích nguyên nhân và đề xuất các biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động sư phạm ở trường THPT quận 12-TP.HCM.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận 12 – TP.HCM.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
- HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận 12 TP. Hồ Chí Minh đã được quan
tâm nhưng vẫn còn có một số hạn chế nhất định. Nên việc tổ chức HĐGD NGLL
còn gò bó, mang tính hình thức, nội dung, hình thức tổ chức còn nghèo nàn, đơn
điệu, không lôi cuốn, hấp dẫn học sinh tham gia.
- HĐGD NGLL là hoạt động nối tiếp của hoạt động dạy học trên lớp. Nếu đánh giá
thực trạng đúng, xây dựng được các biện pháp quản lý HĐGD NGLL một cách
khoa học, hợp lý sẽ tạo môi trường tích cực cho việc rèn luyện, phát triển năng
lực và hoàn thiện nhân cách của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện ở các trường THPT.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về HĐGD NGLL và quản lý HĐGD NGLL.
Khảo sát thực trạng HĐGD NGLL và công tác quản lý HĐGD NGLL ở các
trường THPT tại quận 12 - Thành phố Hồ Chí Minh.
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: dùng cho học sinh (404 học
sinh), giáo viên (181 giáo viên) và cán bộ quản lý giáo dục (32 người)
cấp trung học phổ thông.
6.2.2.2 Phương pháp quan sát.
6.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: phỏng vấn trực tiếp 15 người gồm
CBQL, giáo viên và học sinh.
6.2.3 Phương pháp toán thống kê
7. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung khảo sát thực trạng công tác quản lý
HĐGD NGLL theo chương trình phân ban mới ở các trường THPT công lập: Võ
Trường Toản, Thạnh Lộc, Trường Chinh, quận 12 trong những năm gần đây, đặc biệt
năm học 2009 – 2010.
8. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
A. Mở đầu.
B. Nội dung.
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trang công tác quản lý HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận
12 – TP.Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý HĐGD
NGLL ở các trường THPT tại quận 12 – TP.Hồ Chí Minh.
C. Kết luận và kiến nghị.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở một số nước trên thế giới
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử phát triển giáo dục thế giới, hoạt động dạy – học
được nghiên cứu một cách có hệ thống từ thời Nguyên thủy cho đến nay chúng ta nhận thấy
tiến hành ở mọi nơi như ở vườn trường, xưởng trường, dưới nhà bếp, ngoài công xưởng và
được trang bị bằng những công cụ lao động với các phương tiện hiện đại [33, trang 140].
Qua đó ông khẳng định rằng học phải đi đôi với hành để rèn luyện kỹ năng cho học sinh.
Đến thế kỷ XX, A.S Makarenco (1888 – 1939) – Vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo dục
Xô Viết lỗi lạc đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp:
“Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong
các vấn đề giáo dục, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp
học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta…Nghĩa là trong bất kỳ
hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành
trong lớp. Công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ” [19, trang 63].
Vào năm 1952, Trung Quốc bắt đầu học tập Liên Xô một cách đâi quy mô, giáo dục
đi ở phía trước, Trung Quốc học tập mô hình giáo dục Liên Xô – từ chế độ đến phương
pháp, từ nội dung đến hình thức cải tạo giáo dục. Trung Quốc đã áp dụng biện pháp cải cách
giáo dục quan trọng như: đưa giờ lao động vào khóa trình chính khóa, giáo viên và học sinh
tham gia lao động sản xuất, nhà trường mở công xưởng, nông trường; công xưởng, hợp tác
xã nông nghiệp mở nhà trường vừa học vừa làm. Thực hiện chế độ giáo dục vừa học vừa lao
động công nghiệp, vừa học vừa lao động công nghiệp, với biện pháp này nhằm kết hợp biên
pháp giáo dục trên lớp và giáo dục ngoài giờ lên lớp để rèn luyện và đào tạo con người “vừa
hồng vừa chuyên” [28, trang 74].
Trong tác phẩm Tư bản, Mác khẳng định: “Học tập kết hợp với lao động sản xuất là
phương pháp tổng quát của sản xuất xã hội và là phương pháp duy nhất để hình thành con
người toàn diện. Lao động tạo ra nhân cách con người. Nhà trường phải giáo dục, đào tạo
ra những con người lao động chân chính và có nhân cách tốt. Mục tiêu tổng quát của giáo
dục là phải phát triển con người toàn diện; đối với xã hội, phát triển con người toàn diện để
phát triển kinh tế xã hội, đối với từng người – để có năng lực nghề nghiệp, để sống và đóng
góp cho gia đình, cho cộng đồng…”[36, trang 38].
Cho đến những năm 60, 70, đất nước Liên Xô đang trên con đường xây dựng CNXH,
việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng và Nhà nước quan tâm. Các nghiên
cứu về lý luận giáo dục nói chung và HĐGD NGLL nói riêng được đẩy mạnh, hiện nay các
nước trên thế giới rất quan tâm đến các chương trình ngoại khóa, các HĐGD NGLL để qua
4/1979, điều 10 có viết: “Công tác giáo dục ở trường phổ thông tiến hành thống nhất theo
đúng nội dung và trình tự qui định trong chương trình, kế hoạch đào tạo và sách giáo khoa
do Bộ giáo dục ban hành và được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục: học tập văn
hóa, lao động sản xuất, thực nghiệm khoa học và các hoạt động xã hội”.
Cũng tại khoản 3 điều 10 xác định: “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho
học sinh tham gia với mức độ thích hợp, là nhằm củng cố những tri thức đã học được, bồi
dưỡng tình cảm đối với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã
hội, góp phần xây dựng địa phương và rèn luyện học sinh về ý thức và năng lực làm chủ tập
thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng. Ngoài các hoạt động trên đây, cần tổ chứcthêm
những hoạt động ngoại khóa khác như thể dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục thêm
phong phú”.
Và từ đó HĐGD NGLL dần dần được coi trọng và ngày càng chú ý nhiều hơn trong
việc giáo dục học sinh, tên gọi HĐGD NGLL được nêu rất rõ trong điều lệ trường trung học
ban hành vào ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, thay thế cho điều lệ
trường trung học tháng 4/1979, tại điều 24 có nói: “HĐGD NGLL do nhà trường phối hợp
với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức, bao gồm hoạt động ngoại khóa về
khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao nhằm phát triển năng lực toàn diện của học
sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao
lưu văn hóa; các hoạt động giáo dục môi trường; các hoạt động lao động công ích; các
hoạt động xã hội; các hoạt động từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh”.
Tầm quan trọng của HĐGD NGLL ngày càng được đề cao hơn từ khi Bộ Giáo dục
và Đào tạo chính thức đưa môn “Giáo dục ngoài giờ lên lớp” vào chương trình phân ban lớp
10 từ năm học 2006 – 2007, cho đến hôm nay đã áp dụng đầy đủ cho cả 3 khối lớp: 10, 11
và lớp 12. Hàng năm tài liệu hướng dẫn và công tác bồi dưỡng cho cán bộ chỉ đạo HĐGD
NGLL luôn luôn được chú trọng, gần đây trong tài liệu phân phối chương trình THPT và
HĐGD NGLL năm học 2009 – 2010 có hướng dẫn: ”HĐGD NGLL là hoạt động trong kế
hoạch giáo dục của nhà trường. Cần phân công Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng phụ
trách HĐGD NGLL của trường. Toàn thể giáo viên, các tổ chức, đoàn thể và học sinh có
trách nhiệm tham gia HDGD NGLL theo kế hoạch của trường. Giáo viên chủ nhiệm lớp
trực tiếp phụ trách HĐGD NGLL của lớp. Sở Giáo dục và Đào tạo cần phân công một cán
“HĐGD NGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở
trên lớp. HĐGD NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường
gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động
của học sinh” [3, trang 99].
- Theo tài liệu bồi dưỡng giáo viên về HĐGD NGLL lớp 10 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo năm 2006: “HĐGD NGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ
học các bộ môn văn hóa. HĐGD NGLL có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động dạy
học tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận thức với hành
động, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển các kỹ năng, tình cảm,
niềm tin, tạo cơ sở cho sự phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh trong giai
đoạn hiện nay”.
Như vậy, HĐGD NGLL là hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài thời gian học tập
trên lớp. Đây là một trong hai hoạt động giáo dục cơ bản, được thực hiện một cách có tổ
chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ
với hoạt động trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo
mục tiêu đào tạo, đáp ứng yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ.
HĐGD NGLL do nhà trường tổ chức và quản lý với sự tham gia của các lực lượng xã
hội. Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt động dạy – học trong nhà trường. HĐGD
NGLL diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục,
làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi.
1.2.2. Mục tiêu, nội dung và hình thức tổ chức HĐGD NGLL
1.2.2.1. Mục tiêu của HĐGD NGLL
HĐGD NGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà trường THPT. Đó là
những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa có trong thời khóa biểu
qui định. Theo sách giáo viên về hướng dẫn thực hiện HĐGD NGLL ở trường THPT của
Bộ Giáo dục và Đào tạo [6, trang 3], HĐGD NGLL có mục tiêu giúp cho học sinh:
- Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như những giá trị tốt
đẹp của nhân loại ; góp phần củng cố, mở rộng và khắc sâu kiến thức đã học trên lớp ;
có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội ;
bước đầu có ý thức định hướng nghề nghiệp.
- Lý tưởng sống của thanh niên trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
- Tình bạn, tình yêu và gia đình.
- Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng ; bảo vệ di sản văn hóa.
- Thanh niên với vấn đề lập thân, lập nghiệp.
- Những vấn đề có tính toàn cầu như: bảo vệ môi trường ; hạn chế sự bùng nổ dân số ;
chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên ; thực hiện Công ước Liên hiệp quốc về
quyền trẻ em.
Những vấn đề trên được cụ thể hóa thành 10 chủ đề hoạt động trong 12 tháng, đó là:
• Tháng 9: Thanh niên học tập, rèn luyện vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
• Tháng 10: Thanh niên với tình bạn, tình yêu và gia đình.
• Tháng 11: Thanh niên với truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo.
• Tháng 12: Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
• Tháng 1: Thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
• Tháng 2: Thanh niên với lý tưởng cách mạng.
• Tháng 3: Thanh niên với vấn đề lập nghiệp.
• Tháng 4: Thanh niên với hòa bình, hữu nghị và hợp tác.
• Tháng 5: Thanh niên với Bác Hồ
• Tháng 6
RR-7-8: Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng.
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tình
hình thực tế , cụ thể ở mỗi trường, tài liệu tham khảo, có thể chia HĐGD NGLL theo các
nội dung chính sau:
Hoạt động chính trị, xã hội, đạo đức, pháp luật:
Xã hội nào cũng xây dựng cho mình một mẫu người lý tưởng, mẫu người lý tưởng
là mẫu người mang tư tưởng tiên tiến của thời đại và hành động theo lý tưởng ấy. Mục
đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của chúng ta là đào tạo học sinh thành người lao
Hoạt động lao động nói chung nhằm giáo dục ý thức góp phần xây dựng quê
hương, giúp đỡ các gia đình và tham gia vào các quá trình sản xuất ra vật chất cho xã hội.
Hình thức tiến hành như:
- Tham gia trồng cây xanh trong trường, địa phương, dọn vệ sinh môi trường…
- Tham gia lao động tu sửa bàn ghế trong lớp, trường, trang trí lớp học.
- Tham gia lao động tại địa phương: dọn sạch kênh, rạch, giúp ổn định trật tự an
toàn giao thông…
- Tham gia giúp đỡ các gia đình chính sách, gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình
có hoàn cảnh kinh tế khó khăn…
Với những hình thức trên giúp các em hiểu rõ hơn giá trị lao động từ đó có thái độ
đúng với người lao động, tôn trọng thành quả mình làm ra và của người khác làm ra, yêu
quí lao động.
Hoạt động văn hóa – nghệ thuật:
Thực chất của hoạt động văn hóa nghệ thuật là làm phong phú thêm đời sống tinh
thần, bồi dưỡng long khát khao cái đẹp, đưa cái đẹp vào cuộc sống, biết thưởng thức cái
đẹp và sáng tạo ra cái đẹp… Hình thức có thể tổ chức các cuộc thi mang tính văn hóa
giáo dục như:
- Thi học sinh thanh lịch, nữ sinh duyên dáng.
- Thi sang tác văn thơ, nhạc, báo tường.
- Tổ chức hội diễn văn nghệ, triển lãm, trưng bày về truyền thống nhà trường,
tranh ảnh học sinh…
- Tổ chức các trại truyền thống cho học sinh, các buổi dạ hội…
Hoạt động thể dục thể thao, quốc phòng, tham quan du lịch:
Thực hiện theo chỉ thị 112/CT của Hội đồng Bộ trưởng về công tác thể thao trong
những năm trước mắt (9/5/1989) nhấn mạnh: Phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và học
chương trình thể dục thể thao theo qui định và có biện pháp tổ chức hướng dẫn các hình
thức tập luyện và hoạt động thể thao tự nguyện ngoài giờ học.
- Tổ chức các đội thể dục thể thao: bong đá, bóng bàn, cầu lông, điền kinh, bơi lội,
võ thuật
cả năm học, từng học kỳ, từng hoạt động ; trong đó tính đa dạng của mục tiêu
cần được định hướng nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát là giáo dục toàn diện
học sinh.
- Tính kế hoạch: kế hoạch sẽ định hướng và giúp cho việc tổ chức hoạt động có
chất lượng và hiệu quả, tính kế hoạch của HĐGD NGLL cần đảm bảo tính ổn
định tương đối, tính hệ thống và tính hướng đích, không gây sự hỗn loạn và
tùy tiện trong tổ chức các hoạt động của nhà trường. Trên cơ sở kế hoạch, nhà
trường định ra cách tổ chức chỉ đạo, nội dung, phương tiện và qui mô hoạt
động ; sự chuẩn bị kế hoạch giáo dục chu đáo sẽ đem lại chất lượng, hiệu quả
giáo dục mà nhà trường và xã hội mong muốn.
Nguyên tắc về tính tự giác, tự nguyện tham gia hoạt động
- Nếu hoạt động học tập trên lớp là bắt buộc thì HĐGD NGLL là tự nguyện, tự
giác. Nguyên tắc này đảm bảo quyền tự chọn tham gia các hoạt động theo khả
năng, hứng thú, điều kiện sức khỏe của mỗi học sinh, chỉ có như vậy mới tạo
ra được động cơ hoạt động, phát huy được thiên hướng của từng học sinh, trên
cơ sở đó giúp nhà trường và gia đình hướng nghiệp học sinh phù hợp nhất.
- Với nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường phải có nhiều hoạt động phong phú, đa
dạng, phải có nhiều nhóm, nhiều câu lạc bộ khác nhau, thường xuyên tổ chức
các cuộc gặp gỡ, các buổi tham quan, các hoạt động văn nghệ, thể thao… Chỉ
khi đó học sinh mới có thể tự nguyện, tự giác và theo hứng thú của mình, lựa
chọn cho mình loại hình hoạt động phù hợp.
Nguyên tắc tính đến đặc điểm lứa tuổi và tính cá biệt của học sinh
Nội dung và hình thức HĐGD NGLL phải được thay đổi, tùy thuộc vào sự
chuyển từ giai đoạn lứa tuổi này sang lứa tuổi khác ở học sinh. Giáo viên phải xác
định các loại hình hoạt động và các hình thức công việc sao cho chúng phù hợp với
khả năng của lứa tuổi học sinh và hứng thú cá nhân của họ. Điều đó dòi hỏi giáo viên
phải rất hiểu học sinh của mình, nắm rõ các đặc điểm cá biệt của họ để có thể đưa
học vào các hoạt động phù hợp với hứng thú, khả năng và năng khiếu của họ.
Nguyên tắc kết hợp sự lãnh đạo sư phạm của Thầy với tính tích cực, độc lập và
sáng tạo của học sinh
thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến cuộc sống tập
thể của các em…Phương pháp thảo luận nhóm có vai trò vô cùng quan trọng, nó
có tác dung phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình hoạt động, rèn
luyện, đồng thời còn phát huy trí tuệ tập thể của học sinh trong hoạt động. Thông
qua thảo luận nhóm giúp học sinh hình thành kỹ năng hợp tác, giáo dục tinh thần,
ý thức tập thể cho học sinh, giáo dục tinh thần đoàn kết giữa các học sinh với
nhau.
Đóng vai: thường được thể hiện trong việc trình bày các tiểu phẩm, các đoạn kịch
ngắn giúp học sinh thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong tình
huống giả định. Phương pháp đóng vai giúp các học sinh phát huy tính chủ động,
độc lập, sáng tạo, phát huy tính thông minh, hình thành và rèn luyện kỹ năng giao
tiếp, phương pháp đóng vai tạo cơ hội để học sinh có thể rèn luyện và thử nghiệm.
Giải quyết vấn đề: thường được vận dụng khi học sinh phải phân tích, xem xét và
đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình
hoạt động tập thể. Phương pháp giải quyết vấn đề giúp học sinh phát triển năng lực