BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HẰNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG THPT
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HẰNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG THPT
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GVC. TS PHAN QUỐC LÂM
NGHỆ AN - NĂM 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Được sự giúp đỡ tận tình của quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Vinh và
Trường Đại học Đồng Tháp, đến nay đề tài “ Một số giải pháp quản lý hoạt động
GDNGLL ở các trường THPT thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu” đã hoàn
thành.
Tôi xin chân thành cảm ơn và xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quý Thầy, Cô
giáo đã tham gia giảng dạy, hướng dẫn giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Phan Quốc Lâm
CÁC TRƯỜNG THPT
1.1 Lịch sử nghiên cứu 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.3 Một số vấn đề vê hoạt động GDNGLL ở trường THPT 17
1.4 Một só vấn đề quả lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT 31
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ở trường THPT 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44
-ii-
2
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDNGLL
Ở CÁC TRƯỜNG THPT
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
2.1 Khái quát về đặc điểm tình hình kinh tế - văn hóa, giáo dục tỉnh Bạc
Liêu 45
2.1.1 Tự nhiên 45
2.1.2 Kinh tế 45
2.1.3 Văn hóa 46
2.1.4 Giáo dục 47
2.2 Khái quát tình hình phát triển giáo dục THPT tỉnh Bạc Liêu 48
2.2.1 Quy mô phát triển giáo dục THPT 48
2.2.2 Đội ngũ CBQL và GV THPT 48
2.2.3 Chất lượng giáo dục THPT tỉnh Bạc Liêu 51
2.2.4 Khái quát về các trường 52
2.3 Thực trạng chất lượng GDNGLL ở các trường THPT thành phố Bạc Liêu,
tỉnh Bạc Liêu 54
2.3.1 Thực trạng chất lượng GD các trường THPT thành phố Bạc Liêu 54
2.3.2 Thực trạng hoạt động GDNGLL ở các trường THPT thành phố Bạc Liêu,
tỉnh Bạc Liêu 56
2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT
thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu 61
3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDNGLL 92
* Mối quan hệ giữa các giải pháp 95
3.3 Khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
******************
4
DANH MỤC
CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. BGH : Ban Giám hiệu
2. CB : Cán bộ
3. CBQL : Cán bộ quản lý
4. CMHS : Cha mẹ học sinh
5. CSVC : Cơ sở vật chất
6. CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
7. GV : Giáo viên
8. GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
9. GVBM : Giáo viên bộ môn
10.GDNGLL : Giáo dục ngoài giờ lên lớp
11. HT : Hiệu trưởng
12. PHT : Phó Hiệu trưởng
13.THPT : Trung học phổ thông
14.THCS : Trung học cơ sở
15. UBND : Ủy ban Nhân dân
16. XHCN : Xã hội chủ nghĩa
17. XHHGD : Xã hội hóa giáo dục
-iii-
5
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
-iv-
6
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.Về mặt lý luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng về thực chất chính là chiến
lược phát triển giáo dục, phát triển con người. Do vậy, Đảng ta đã xác định
phát triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực để
CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ: “Muốn
tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát
huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”
[15]
Nghị Quyết Trung ương Đảng Khóa XI với quan điểm chỉ đạo “Phát
triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý
luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội”. Mục tiêu giáo dục phổ thông “Tập trung phát triển trí tuệ,
thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát triển và bồi dưỡng
năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS. Nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại
ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực
tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”[16].
Luật giáo dục năm 2005 điều 2 đã nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [24]
Mục tiêu Chiến lược phát triển giáo dục nước ta giai đoạn 2011-2020 chỉ
phù hợp với tính hiếu động thích khám phá cái mới của tuổi trẻ. Chính vì vậy,
hoạt động GDNGLL có hiệu quả cao, hỗ trợ tích cực trong việc giáo dục toàn
diện đối với HS nói chung, HS THPT nói riêng. Kể từ năm học 2006-2007
thực hiện chương trình đổi mới dạy học Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa hoạt
động GDNGLL vào chương trình học tập chính khoá cho HS THPT.
1.2. Về mặt thực tiễn
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới, sự nghiệp giáo dục
và đào tạo đã đóng góp to lớn vào những thành quả chung của toàn xã hội.
Tuy nhiên bên cạnh đó ngành giáo dục và đào tạo vẫn còn tồn tại không ít
những yếu kém. Đó là những mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động không
nhỏ vào giáo dục nói chung và vào các trường THPT nói riêng. Đối tượng
tiếp thu nhanh và nhạy bén với cái "mới" là thanh thiếu niên, HS ở độ tuổi tập
làm người lớn, thích tự khẳng định mình nhưng lại thiếu sự chín chắn.
Vấn đề đặt ra cho việc giáo dục thế hệ trẻ là phải tạo ra mọi điều kiện để
phát triển cân đối hài hoà các tố chất, tiềm năng ở mỗi người và cộng đồng
như: Trí tuệ, phẩm chất đạo đức, các yếu tố tâm lý, cuộc sống tâm hồn, thể
lực và các năng lực hoạt động của mỗi người.
Chất lượng giáo dục phải được nhận diện từ trạng thái của cả nền giáo
dục trong tương quan với phát triển kinh tế xã hội và trạng thái của nhân cách
ít nhất qua 3 mặt: Kiến thức, kỹ năng, thái độ công dân trong tương quan với
sức lao động mà nền kinh tế xã hội đang yêu cầu. Trong sự nghiệp đổi mới
của nước ta đang tiến hành thì giáo dục đạo đức được coi là một bộ phận có ý
nghĩa quan trọng phát triển nguồn lực con người. Mục tiêu là trang bị cho học
3
sinh những tri thức cần thiết về đạo đức, tư tưởng, chính trị lối sống, về văn
hoá, pháp luật, hiểu những giá trị có tính chuẩn mực, biết các phương pháp
rèn luyện phẩm chất.
Ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu hiện
nay việc tổ chức, thực hiện chương trình hoạt động GDNGLL còn có những
bất cập nhất định trước yêu cầu đổi mới giáo dục. Các trường cũng đã quan
- Xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động GDNGLL ở
trường THPT.
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT
trên địa bàn thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường
THPT trên địa bàn thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, trong giai đoạn hiện
nay.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sủ dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá các tài liệu liên
quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp điều tra các hoạt động thực tiễn thông qua đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh; phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo
dục; phương pháp khảo sát, thử nghiệm qua các phiếu thăm dò; phương pháp
phỏng vấn trực tiếp một số đối tượng liên quan chủ thể quản lý hoạt động
GDNGLL.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lý các số liệu thu được về mặt định lượng
5
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
7.1. Về mặt lý luận
Đề tài góp phần khái quát hóa lý luận về quản lý hoạt động GDNGLL ở
trường THPT, làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực
hiện, kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động GDNGLL.
7.2. Về mặt thực tiễn
Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT thành phố Bạc Liêu, tỉnh
Bạc Liêu giai đoạn 2014-2020.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Hoạt động GDNGLL trong nền giáo dục nước ta ở năm 1945 chưa được
định hình cụ thể nhưng nội hàm cơ bản đã được đề cập đến trong thư gửi cho
học sinh nhân ngày khai trường, tháng 9 năm 1945 của chủ tịch Hồ Chí Minh:
“…các em cũng nên ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc
để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc
7
nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước. Với lứa tuổi măng non, giữa cái
chơi và cái học, có sự hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau. Trong lúc học cũng cần làm
cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, ở
trường học, ở xã hội, chúng đều vui, đều học”.[35, Tr19]
Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc giáo dục toàn diện học
sinh. Điều 27 luật giáo dục năm 2005 đã khẳng định: " Mục tiêu của giáo dục
phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư
cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi
vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ".[24]
Điều 26 của Điều lệ trường Trung học Cơ sở, trường THPT và trường
phổ thông có nhiều cấp học, (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-
BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) có nêu:
“Hoạt động GDNGLL bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn
học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã
hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục
kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt
động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường;
hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý lứa tuổi học sinh”. [5]
Hoạt động GDNGLL có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển toàn
diện học sinh. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu như:
dục toàn diện cho học sinh bậc THPT ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
9
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo dục và GDNGLL
1.2.1.1. Giáo dục
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày
“Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và
lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người”. Định nghĩa
này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến
yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối
cùng của việc đó.
Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và
nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao
giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến
thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại
xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt
qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội.
Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Ngoài ra,
ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy,
nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy. Như vậy, theo quan
điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông
nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ.
Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá
nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể
gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho
thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn,
hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người
mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm
10
phát triển loài người, phát triển xã hội. Giáo dục là một hoạt động có ý thức
thành vốn liếng tinh thần của chủ thể. Muốn tồn tại được trong thế giới xung
quanh, con người phải tiến hành các hoạt động đối với thế giới, sản xuất ra
các đối tượng, lĩnh hội các phương thức sử dụng các đối tượng nhằm thỏa
mãn nhu cầu này hay nhu cầu khác. Vì thế, A.N.Lêonchiep đã đúc kết: “hoạt
động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới”[2].
Như vậy có thể định nghĩa: Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại
giữa con người và thế giới để tạo ra sản phẩm
1.2.2.2. Hoạt động GDNGLL
* Theo tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý công chức nhà nước ngành giáo
dục và đào tạo, hoạt động GDNGLL là một hoạt động giáo dục được thực
hiện một cách có mục đích, có kết quả, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp
phần thực thi qúa trình đào tạo học sinh, đáp ứng nhu cầu đa dạng của đời
sống xã hội [32,Tr5].
* Theo giáo sư Đặng vũ Hoạt, hoạt động GDNGLL là việc tổ chức giáo
dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao
động công ích, hoạt động xã hội hoạt động nhân đạo, văn hóa nghệ thuật,
thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, để giúp các em hình thành và
phát triển nhân cách [18,Tr25].
* Một số tác giả (Bùi Sĩ Tụng, Lê Văn Cầu, Lê Thanh Sử, Đỗ Tường Vi)
đưa ra khái niệm: Hoạt động GDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo
dục ở nhà trường THPT đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học
các môn học ở trên lớp. Hoạt động GDNGLL là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ
hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết và thực tiễn, tạo nên
thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm,
12
niểm tin đúng đắn ở học sinh [34].
* Còn theo T.A.Ilina thì cho rằng công tác giáo dục học sinh ngoài giờ
học thường được gọi là giáo dục ngoại khóa. Công tác này góp phần bổ sung,
củng cố kiến thức tiếp thu được từ công tác giáo dục chính khóa. Đây cũng là
phương tiện để phát hiện đầy đủ năng lực của HS, làm thức tỉnh thiên hướng
từng lĩnh vực hoạt động cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có
những cách hiểu khác nhau về quản lý.
Theo Trần Kiểm thì “quản lý là những tác động của chủ thể quản lý
trong việc huy động, phát huy kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các
nguồn lực trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm
đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.[22].
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Quản lý chức năng và hoạt động của
hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội) bảo
đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo
đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó.
Theo từ điển Tiếng Việt: Quản lý (hiểu theo nghĩa là một động từ) có
nghĩa là:
Quản: Trông coi, điều khiển.
Quản lý: Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Tổ chức và
điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định .
14
Tóm lại, mặc dù có những kiến giải khác nhau, nhưng xét trên tổng thể,
phần lớn các nhà nghiên cứu đã thống nhất: quản lý là sự tác động có định
hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho
tổ chức hoạt động của hiệu quả cao.
1.2.3.2. Quản lý hoạt động GDNGLL
Quản lý hoạt động GDNGLL là một quá trình bộ phận của quản lý
trường học bao gồm hàng loạt những hoạt động được tiến hành dưới tác động
của Ban giám hiệu và tập thể sư phạm. Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối
tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã
hội do nhà trường quản lý diễn ra trong suốt năm học.
Quản lý hoạt động GDNGLL là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho hoạt
động GDNGLL thực hiện được mục tiêu đềt ra. Nội dung quản lý hoạt động
này theo các cách tiếp cận khác nhau:
quá trình giáo dục. Vì thế, khi đưa ra bất kì giải pháp quản lý giáo dục nào
cũng cần phải quan tâm đúng mức đến hiệu quả của nó đối với công tác kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá quá trình giáo dục. Đây chính
là điểm khác biệt giữa giải pháp quản lý giáo dục với giải pháp nói chung.
1.2.4.2. Giải pháp quản lý hoạt động GDNGLL
Giải pháp quản lý hoạt động GDNGLL là cách làm (hệ thống tác động)
của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cán bộ, giáo viên, học sinh, hoạt
động GDNGLL) để gỉải quyết các vấn đề khó khăn, tồn tại trong việc thực
hiện mục tiêu hoạt động GDNGLL.
Mỗi giải pháp thực hiện hoạt động GDNGLL phải đảm bảo cấu trúc
thành phần sau:
16
- Thực hiện một mục tiêu hoặc nhiều mục tiêu giáo dục.
- Xác định được chủ thể tham gia và các lực lượng phối hợp. Thường
hoạt động GDNGLL luôn có hai chủ thể là giáo viên và học sinh. Xác định
mối quan hệ tương hỗ giữa các chủ thể, các lực lượng phối hợp, các tổ chức
xã hội, đoàn thể… góp phần nâng cao hiệu quả của các giải pháp thực hiện
chương trình hoạt động GDNGLL.
- Tính đến điều kiện chủ quan, khách quan chi phối hiệu quả HĐGD.
- Thông thường lựa chọn một giải pháp hoạt động GDNGLL tổ chức
phải xem xét tính khả thi của giải pháp, điều đó có nghĩa là phải phân tích mối
quan hệ giữa mục tiêu, nội dung hoạt động GDNGLL với giải pháp thực hiện,
phải tính toán đến không gian, thời gian, cơ sở vật chất và điều kiện cần thiết,
đảm bảo cho các giải pháp thực hiện có hiệu quả. Điều quan trọng nhất để
đảm bảo tính hiện thực của giải pháp là xác định quy trình các bước thực
hiện giải pháp.
- Cuối cùng là đánh giá hiệu quả của việc sử dụng giải pháp. Để thực
hiện chương trình hoạt động GDNGLL có rất nhiều các giải pháp nhưng vấn
đề cơ bản với nhà sư phạm là phải biết lựa chọn các giải pháp phù hợp để
thực hiện mục tiêu đề ra. Không có giải pháp nào là vạn năng, mỗi giải pháp