BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH NGỌC
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC
CẤP SINH HOẠT TẠI TRẠM BƠM BẾN THAN
NHÀ MÁY NƯỚC TÂN HIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
các nước trên thế giới. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP.Hồ
Chí Minh, tỉ lệ người dân được cấp nước sạch mới đạt từ 60-70%, còn ở nông
thôn tỉ lệ người dân được dùng nước hợp vệ sinh mới chỉ đạt 30-40% [16]. Do
vậy đi cùng với sự bùng nổ dân số thì nhu cầu về nước ngày càng tăng lên nên
nhà nước ta đã có chủ trương lấy nước sông Sài Gòn và sông Đồng Nai cung
cấp cho sinh hoạt ở thành phố Hồ Chí Minh. Hiện có khoảng 1,5 triệu người
dân sử dụng nước sạch đã qua xử lí từ các nhà máy nước lấy nguồn nước thô
từ
sông Sài Gòn. Bên cạnh đó với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh
chóng đã đẩy nhanh mức độ phát triển các khu công nghiệp – các khu chế
xuất thì sông Sài Gòn hiện đang hứng chịu nhiều nguồn gây ô nhiễm từ hoạt
động của các doanh nghiệp và việc xả thải từ sinh hoạt.
Do vậy việc đánh giá chất lượng nước sông Sài Gòn tại trạm bơm nhà
máy nước Tân Hiệp nhằm tìm nguồn cấp nước an toàn và bền vững là điều
cần thiết.
Ở Việt Nam việc đánh giá chất lượng nước được tiến hành theo từ
ng chỉ
số lý, hóa, sinh riêng biệt. Trong khi đó ở nước ngoài, ở các nước Châu Âu và
Bắc Mỹ việc xếp loại chất lượng nước được tiến hành theo một thang bậc
nhất định, rồi từ đó người ta hướng dẫn loại nước nào thì sử dụng cho việc gì.
Tuy nhiên, các thang bậc đánh giá chất lượng nước trên thế giới thì
không thống nhất, có nước sử dụng thang đánh giá là 4 – 5 bậc, có nướ
c sử
dụng thang đánh giá là 6 – 7 bậc. Chúng tôi sẽ tiến hành đánh giá chất lượng
nguồn nước sông Sài Gòn cấp cho nhà máy nước Tân Hiệp tại trạm bơm theo
thang 6 bậc của Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô cũ đã được nhiều người
công nhận để xác định các chỉ số thủy lý, hóa của nước, đồng thời xác định
cấu trúc các vi sinh vật thông qua các chỉ số cụ thể, từ đó sử dụng tổ
ng hợp
các chỉ số lý-hoá-sinh đó để đánh giá và xếp loại chất lượng nguồn nước cấp
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên [16]
1.1.1. Vị trí địa lý :
Huyện Củ Chi có tọa độ địa lý từ 10
o
53’ đến 10
o
10’vĩ độ Bắc và từ
106
o
22’ đến 106
o
40’ kinh độ Đông, nằm ở phía Tây Bắc TP.Hồ Chí Minh,
với 434,70 km
2
diện tích tự nhiên, bằng 20,74% diện tích toàn Thành Phố.
Phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Phía Đông giáp tỉnh Bình
Dương. Phía Nam giáp huyện Hóc Môn, TP.Hồ Chí Minh. Phía Tây giáp tỉnh
Long An.
Về hành chánh, hiện nay huyện bao gồm thị trấn Củ Chi và 20 xã là:
Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Trung Lập Thượng, Trung Lập Hạ,
Nhuận Đức, Phạm Văn Cội, Phước Thạnh, Thái Mỹ, Phước Hiệp, Phước
Vĩnh An, Phú Hòa Đông, Trung An, Tân An Hội, Tân Thạnh Tây, Tân Thạnh
Đông, Tân Thông Hội, Tân Phú Trung, Hòa Phú, Bình M
ỹ.
Các hệ thống kênh rạch tự nhiên khác, đa số chịu ảnh hưởng trực tiếp
ch
ế độ thủy văn của sông Sài Gòn như Rạch Tra, Rạch Sơn, Bến Mương …
Riêng chỉ có kênh Thầy Cai chịu ảnh hưởng chế độ thủy văn của sông Vàm
Cỏ Đông.
1.1.5. Tình hình xâm nhập mặn:
Theo Viện Kỹ thuật tài nguyên nước và môi trường, vào mùa khô trong
kỳ hạn hán nước nguồn sông Sài Gòn về ít, xâm nhập mặn tăng mạnh đột
biến. Khu vực Củ Chi tại kênh An Hạ, kênh Xáng, kênh A, B, C bị nhiễm
m
ặn 1-2‰, vùng kênh C ngoài cống độ mặn 2-3‰, trong cống độ mặn 0,5‰.
Dự báo trong những năm tới, triều cường đỉnh, ranh mặn 4‰ có thể tiến sâu
hơn so với hiện nay 5-10 km, mặn xâm nhập sâu và lâu, ảnh hưởng đến các
hoạt động kinh tế và nông nghiệp.
1.2. Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên [16]
1.2.1 Tài nguyên đất :
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Củ Chi là 434,70 km
2
, gồm 3
nhóm đất chính sau:
Nhóm đất phù sa: Thành phần cấp hạt sét là chủ yếu (45-55 %). Chứa
các chất dinh dưỡng về mùn, đạm, lân và kali rất giàu.
Nhóm đất xám: Tầng đất thường rất dày, thành phần cơ giới nhẹ, cấp
hạt cát trung bình và cát mịn chiếm tỉ lệ rất cao (40 - 55%), cấp hạt sét chiếm
21 – 27%.
Nhóm đất đỏ vàng: Đặc điểm chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp thụ
không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất
hòa tan dễ bị rửa trôi.
1.2.2. Tài nguyên nước :
Nguồn nước của huyện chủ yếu là nước ở các sông, kênh, rạch, hồ, ao.
2
.
Dân cư của xã sống tập trung đông đúc ở hầu hết tuyến đường của xã, và
dọc theo bờ sông Sài Gòn.
1.3.2. Kinh tế
1.3.2.1. Nông nghiệp
Trồng trọt và chăn nuôi là những ngành sản xuất chính của nhiều hộ gia
đình trong xã với năng suất ổn định và tăng dần qua các năm.
1.3.2.2. Công nghiệp
Cơ cấu kinh tế của huyện hiện nay là: Công nghiệp – Tiểu thủ công
nghiệp, Nông nghiệp, Th
ương mại – Dịch vụ. Hiện nay trên địa bàn huyện có
2 Khu công nghiệp và 3 Cụm công nghiệp đang hoạt động là:
Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi có diện tích 380 ha, nằm trên địa bàn
thị trấn Củ Chi, xã Tân An Hội và xã Trung Lập Hạ. Hiện đã hoàn thành
giai đoạn 1 với diện tích cho thuê là 127 ha, thu hút 23 doanh nghiệp vào
đầu tư.
Khu công nghiệp Tân Phú Trung có diện tích 543 ha, nằm trên địa bàn
xã Tân Phú Trung và xã Tân Thông Hội. Hiện có 47 doanh nghiệp đã đầu tư
sản xuất kinh doanh tại đây.
Cụm công nghiệp Tân Qui - Khu A, có diện tích 65 ha, thuộc xã Trung
An. Hiện có 5 doanh nghiệp đang hoạt động nằm xen kẽ dân cư với diện
tích 14,27 ha.
Cụm công nghiệp Tân Qui – Khu B có diện tích 97 ha, thuộc xã Tân
Thạnh Đông. Hiện có 16 doanh nghiệp đầu tư với diện tích 61 ha, trong đó
có 12 doanh nghiệp đang hoạt động.
Cụm công nghiệp cơ khí Samco có diện tích 99 ha, thuộc xã Tân Thạnh
Đông và xã Hoà Phú.
1.3.2.3. Dịch vụ, thương mại
Thương mại có vị trí quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội, là cầu
đường kính D1500mm dài 9.093m đưa nước thô từ Hòa Phú về Tân Hiệp;
Nhà máy xử lý nước công suất 300.000m
3
/ ngày đặt tại xã Tân Hiệp, huyện
Hóc Môn; Tuyến ống nước sạch đường kính D1500mm dài 11.283 đưa nước
sạch từ nhà máy Tân Hiệp về đến điểm đầu của mạng lưới cấp nước thành
phố tại ngã 3 Tây Thạnh, quận Tân Bình.
Từ tháng 7/2004, nhà máy nước Tân Hiệp chính thức phát nước. Ban đầu
với sản lượng 150.000m
3/
ngày đã giải tỏa một phần cơn khát nước của người
dân khu vực quận 5, 6, 8, Bình Tân, và huyện Bình Chánh [15].
1.5. Hiện trạng hoạt động của sông Sài gòn [16]
Việc chất lượng nguồn nước sông Sài Gòn nhất là đoạn trạm bơm nước
của Nhà máy nước Tân Hiệp ngày càng bị ô nhiễm là thực tế đáng lo ngại.
Chi cục Bảo vệ môi trường TPHCM đã xác định chính xác nguồn nước thải ô
nhiễm xu
ất phát từ nước thải sinh hoạt và công nghiệp từ khu dân cư sống dọc
lưu vực và cụm công nghiệp Tân Quy (thải ra rạch Bà Bếp). Nguồn nước thải
này chứa đựng hàm lượng lớn tải lượng ô nhiễm với các chất ô nhiễm chủ yếu
là BOD
5
, COD, Mn, NH
3
, Coliform do cụm công nghiệp Tân Quy chưa có hệ
thống xử lý nước thải tập trung. Không dừng lại đó, sông Sài Gòn cũng đang
phải tiếp nhận lượng lớn nước thải ô nhiễm sinh hoạt và công nghiệp chưa
qua xử lý của khu công nghiệp Tân Phú Trung, bãi rác Phước Hiệp, khu dân
cư và cơ sở chăn nuôi huyện Củ Chi và Hóc Môn (thông qua rạch Tra và rạch
Bà Hồng); khu dân cư và công nghiệp của thị xã Thủ Dầu Một và huyện Bế
nước chính là yếu tố quyết định độ mặn của nước. Nồng độ các ion hòa tan tỷ
lệ thuận với độ dẫn điện (Ec) [5] .
Thành phần hóa học trung bình của nước sông hồ được trình bày ở bảng
[1.1].
Bảng 1.1: Thành phần hóa học trung bình của nước sông hồ [3]
(nguồn Morel F. M. M , 1983 )
Thành phần % trọng lượng Thành phần % trọng lượng
CO
3
2-
SO
4
2-
Cl
-
SiO
2
NO
3
-
35,2
12,4
5,7
11,7
0,9
tự làm sạch của dòng sông. Độ hòa tan của oxy trong nước phụ thuộc nhiều
vào nhiệt độ và áp suất của môi trường [3].
Trong nước ngọt oxy hòa tan DO (ở điều kiện 0
0
C và 1at) bằng 14,6 mg/l
và DO (ở 35
0
C) bằng 7 mg/l, người ta thường lấy DO (ở 25
0
C, 1at) bằng 8
mg/l [3].
Trong điều kiện nguồn nước không bị ô nhiễm các chất hữu cơ không
bền, giá trị oxy hòa tan (DO) thường gần bằng giá trị oxy hòa tan ở mức bảo
hòa. Theo Đặng Kim Chi (2006) [3] nếu nguồn nước bị ô nhiễm các chất hữu
cơ có khả năng oxy hóa bằng sinh học (chỉ số BOD cao), khi đó do hoạt động
tiêu thụ oxy của các vi khuẩn hàm lượng oxy trong nước sẽ giảm.
Khi lượng
oxy trong nước thấp (< 2ppm), các vi khuẩn sẽ lấy oxy của các hợp chất chứa oxy
để oxy hóa SO
4
2-
H
2
S S , nước sẽ không có oxy và vùng đó sẽ trở thành
vùng yếm khí.
Trong nước, oxy tham gia chủ yếu vào các quá trình sau:
- Oxy hóa các chất hữu cơ bằng các vi sinh vật:
vi sinh vật
( CH
2
3( r )
+ 8H
+
2SO
3
2-
+ O
2
SO
4
2-
Mức tiêu thụ oxy trong nước bởi các chất ô nhiễm được biểu thị qua chỉ
số BOD (nhu cầu oxy hóa sinh học ) hay COD ( nhu cầu oxy hóa học ).
Khí Cacbonic (CO
2
) trong nước [3], [6]
Khí CO
2
đóng vai trò rất quan trọng trong nước, CO
2
phản ứng với nước
tạo ra các ion bicacbonat (HCO
3
-
) và cacbonat (CO
3
2-
) và tham gia vào quá
H
+
+ HCO
3
-
pH ≥ 8
HCO
3
-
H
+
+ CO
3
2-Như vậy, khi pH = 8,3 trong nước chủ yếu là CO
3
2-
, khi pH = 5 trong
nước chủ yếu là H
2
CO
3
(CO
2
).
Ở lớp trầm tích, CO
2
-9
m
- Chất rắn không qua được giấy lọc: là chất rắn có đường kính lớn hơn
10
6
m.
Ngoài ra, dựa theo độ bay hơi của nhiệt độ sấy 103 – 105
0
C có thể phân
chất rắn thành chất rắn bay hơi và chất rắn không bay hơi. Các chất hữu cơ [6]
Các chất hữu cơ là các chất có nguyên tử cacbon (C) tạo liên kết C – H
trong phân tử.
Trong nguồn nước tự nhiên không ô nhiễm, hàm lượng chất hữu cơ rất
thấp. Tuy nhiên, nếu nước bị ô nhiễm do chất thải sinh hoạt, chất thải công
nghiệp, chất thải nông nghiệp thì nồng độ chất hữu cơ trong nước sẽ tăng
cao.
Dựa vào khả năng bị phân hủy do vi sinh vật trong nước, có thể phân
chất hữu cơ thành hai nhóm:
- Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học: đường (cacbohydrat), chất
béo, protein, dầu mỡ thực, động vật Trong môi trường nước các chất này dễ
bị vi sinh vật phân hủy tạo ra khí cacbonic và nước.
- Các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học: các hợp chất clo hữu cơ
như: DDT, Lindane, Aldrine, polyclorobiphenyl – PCB, dioxin , các hợp
chất đa vòng ngưng tụ như: pren, naphtalen, anthraxen Hầu hết các chất
này có độc tính cao, khó bị vi sinh vật phân hủy, bền vững trong môi trường
nên có khả năng gây tác hại lâu dài cho đời sống sinh vật và sức khỏe con
người.
1 pH 6 - 8,5 6 - 8,5 5,5 - 9 5,5 - 9
2 DO mg/l ≥ 6 ≥ 5 ≥ 4 ≥ 2
3 COD mg/l 10 15 30 50
4 BOD
5
( 20
0
C ) mg/l 4 6 15 25
5 Chất rắn lơ lững(TSS) mg/l 20 30 50 100
6 N- NH
4
+
mg/l 0,1 0,2 0,5 1
7 Chì mg/l 0,02 0,02 0,05 0,05
8 Asen mg/l 0,01 0,02 0,05 0,1
9 Cadimi mg/l 0,005 0,005 0,01 0,01
10 Coliform MPN/100ml 2500 5000 7500 10000
Chú thích:
A
1,
A
2
: áp dụng cho nước cấp sinh hoạt phải thông qua xử lý theo qui
định.
B
1
, B
2
: áp dụng cho các mục đích khác. Cho nông nghiệp và thủy sản có
Polysaprobe 2
( 6 )
Chất lơ lững
( mg/l )
1 - 3
4 – 10 11 – 19 20 - 50 51 -
100
> 100
Độ trong ( cm ) > 30 30 – 20 19 – 3 2 - 1 <1- 0,5 < 0,5
Mùi ( điểm ) 0 1 2 3 4 5
pH 6,5 – 8 6,5- 8,5 6 – 9 5 - 6
9 - 10
5 - 6
9 - 10
2 - 4
11 - 13
DO, Dissolved
Oxygen (mg/l)
9 8 7 – 6 5 - 4 3 -2 0
BOD
5
,
Biological
Oxygen demand
(mg/l)
0,5 – 1
1,1 -
cho phép (lần)
0
0,1 – 9
1 - 5,9
6 - 10,9
11 - 20
20
Coli tite 100 - 10 < 10 - 1 <1-0,05 < 0,05
- 0,005
< 0,005
- 0,001
< 0,001
Coli index 10 - 100 100-
1000
1000 -
5.10
5
> 5.10
5
- 5.10
6
> 5.10
trong
gia
đình
công
nghiệp
thực
phẩm
Tắm
rửa thể
dục
nghệ
thuật
thể
thao
Sử
dụng
trong
sinh
hoạt
Thủy
sản
nói
chung
và
nghề
nuôi
Sử
dụng
trong
công
được
Hoàn
toàn
dùng
được
Hoàn
toàn
dùng
được
Sạch
Oligoarprobe
( 2 )
Dùng
được
Dùng
được
Sơ nhiễm
α
Mesosaprobe
( 3 )
Dùng
được
Phải
xử lý
Còn
dùng
được
Còn
dùng
Không
dùng
được
Không
dùng
được
Không
dùng
được
Bẩn
Polysaprobe
1
( 5 )
Tuyệt
đối
không
dung
Tuyệt
đối
không
dung
Tuyệt
đối
không
dung
Tuyệt
đối
không
dung
Tuyệt
nữa
Không
dùng
được
nữa
Theo hiến chương Châu Âu thì: “Sự ô nhiễm nước là một biến đổi chủ
yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và nguy
hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi - giải
trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại” [7].
Có nhiều tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước, có thể có nguồn gốc tự
nhiên như: núi lửa, lũ lụt, xói mòn, xâm nhập mặn, phong hóa hay nguồn
gốc nhân tạo do các hoạt động của con người trong sinh hoạt, sản xuất công
nghiệp, nông nghiệp, xây dựng công trình thủy lợi, giao thông vận tải, dịch vụ
du lịch đã sản sinh ra các chất gây ô nhiễm nguồn nước [3], [6], [7].
1.6.2.1. Các chất gây ô nhiễm nước
Các chất hữu cơ
Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học
Theo Lê Quốc Hùng (2006) [6] trong nước thải từ khu dân cư, khu công
nghiệp chế
biến thực phẩm có chứa các chất gây ô nhiễm cacbohydrat,
protein, chất béo Các hợp chất này có phân tử lớn không thể thấm qua màng
vi sinh nên quá trình phân huỷ hợp chất hữu cơ do vi sinh gồm: thủy phân
cacbohydrat thành đường hòa tan, phân tử protein thành các acid amin, chất
béo thành acid béo mạch ngắn, và phân hủy sinh học hiếu khí chuyển các chất
hữu cơ này thành khí cacbonic và nước. Nếu phân hủy kỵ khí thì sản phẩm
cuối cùng là các acid hữu cơ, rượu và các khí cacbonic, mêtan, hydro sulphua.
Sơ đồ phân hủy sinh học các ch
ất hữu cơ:
Phân hủy hiếu khí:
+ O
sâu, thuốc diệt cỏ [6].
Các chất vô cơ
Các loại phân bón, hóa chất vô cơ [3], [6]
Đây là các hóa chất có thành phần chủ yếu là cacbon, hydro, oxy, các
nguyên tố N, P, K dưới dạng các hợp chất vô cơ, hữu cơ và các nguyên tố vi
lượng khác. Chúng được bổ sung vào đất dưới dạng phân bón phức tạp, do
một phần đưa vào bị rửa trôi theo nước, bốc hơi vào khí quyển hoặc chuyển
hóa thành các dạng khác và tồ
n lưu trong môi trường.
Việc dư thừa các chất dinh dưỡng vô cơ sẽ gây nên hiện tượng “phú
dưỡng” trong nước bề mặt là nguyên nhân của sự phát triển nhanh ở một số
loài thực vật bậc thấp như tảo, rong, rêu và các thực vật thân mềm trong nước,
trên lớp bề mặt của nguồn nước, ảnh hưởng tới sự cân bằng sinh học của
nước. Các thực vật phát triể
n do hiện tượng phú dưỡng sau khi chết đi sẽ phân
hủy trong nước tạo ra một lượng lớn các hợp chất hữu cơ. Những chất hữu cơ
này trong quá trình oxy hóa sẽ tiêu thụ một lượng lớn oxy hòa tan trong nước,
gây nên hiện tượng thiếu oxy làm xuất hiện các quá trình khử khiến cho nồng
độ các chất có tính khử như H
2
S, NH
3
tăng lên. Kết quả là các loại photphat
sắt (Fe
3+
) khó hòa tan sẽ chuyển thành photphat sắt (Fe
2+
) dễ hòa tan. Các ion
kim loại và HPO
4
chuyển oxy, gây bệnh thiếu oxy trong máu và sinh ra bệnh máu trắng.
4 HbFe
2
2+
O
2
+ 4NO
2
-
+ 2H
2
O 4 HbFe
2
3+
OH + 4 NO
3
-
+ O
2
Hêmôglôbin Mêthêmôglôbin
Ngoài ra nitrit có thể nitrô hóa các amin và amit ở môi trường acid yếu
thành các nitrôsamin là nguyên nhân gây ung thư, sinh quái thai pH< 4
R
2
NH + HNO
2
2
+ 4H
+
4 Fe
3+
+ 2 H
2
O
Phản ứng sau xảy ra chậm khi pH < 3,5 nhưng khi có mặt vi khuẩn sắt
triobacillius ferroxidants và pH = 3,5 - 4,5 thì phản ứng xảy ra nhanh hơn với
xúc tác là nhiều loại vi khuẩn có khả năng hòa tan pyrit:
Vi khuẩn
14 Fe
3+
+ FeS
2
+ 8 H
2
O 15 Fe
2+
+ 2 SO
4
2-
+ 16 H
+
Hợp chất Fe( H
2
O)
6
có khả năng trao đổi cation với các chất trong môi trườ
ng nước [3].
Các nguyên tố vết trong nước
Đó là những nguyên tố có rất ít trong nước, nhỏ hơn vài ppm, chúng
thường là các kim loại (Pb, Cd, Hg, As, Se ) hoặc các á kim (Se, Sb ). Ở
nồng độ thấp, một số là chất dinh dưỡng cho cơ thể sống của động thực vật,
còn khi ở nồng độ cao chúng là những chất gây nhiễm độc rất mạnh. Tuy
nhiên, một số kim loai nặng như: Hg, Cd, As rất độc đối với sinh vật kể cả ở
nồng độ thấp[3], [6].
Phóng xạ
Gồm các hạt alpha, beta, các tia gamma và bức xạ nơtron, chúng có khả
năng xuyên và cơ thể sống qua đường hô hấp, tiêu hóa gây tác hại cho cơ thể.
Đặc biệt bức xạ hạt nhân có khả năng gây tác động mãn tính đến nhiễm sắc
thể gây ung thư, hại phôi thai và ảnh h
ưởng đến di truyền [6].
Các sinh vật gây bệnh
Nguồn nước bị ô nhiểm do nhận nước thải sinh hoạt, nước bị nhiễm phân
và đặc biệt là nước thải bệnh viện. Các loại vi khuẩn, ký sinh trùng, sinh vật
gây bệnh sẽ theo nguồn nước bị ô nhiễm lan truyền bệnh cho người và động
vật [3].
Trong nước bị nhiễm phân có 3 nhóm vi sinh chỉ thị:
- Nhóm Coliform đặc trưng là
Escherichia coli (E. coli).
- Nhóm Streptococci đặc trưng là Streptococcus faecalis.
- Nhóm Clostridia khử sulphit đặc trưng là Clostridium perfringents.
Sự có mặt của các vi sinh vật này chỉ ra rằng nước bị nhiễm phân, có thể
có vi trùng gây bệnh và ngược lại, nếu không có vi sinh vật chỉ thị phân có
nghĩa là có thể không có vi trùng gây bệnh do phân.
Trong 3 nhóm vi sinh chỉ thị ô nhiễm phân thì nhóm Coliform là nhóm
Độ pH
Độ pH là một trong những yếu tố quan trọng trong nước. Sự thay đổi giá
trị pH có thể dẫn tới những thay đổi v
ề thành phần các chất trong nước do quá
trình hòa tan hoặc kết tủa, hoặc thúc đẩy hay ngăn chặn những phản ứng hóa
học hay sinh học xảy ra trong nước [3].
Độ dẫn điện (Ec):
Độ dẫn điện (Ec) của nước phụ thuộc vào tổng ion trong nước. Ở nước
ngọt Ec có trị số hàng chục µs/cm, ở nước sulphat Ec có trị số hàng trăm
µs/cm và ở nước lợ mặn Ec có trị
số hàng ngàn đến hàng chục ngàn µs/cm
[12].
Hàm lượng chất rắn [3]
Chất rắn có trong nước là do các chất vô cơ hòa tan hoặc không hòa tan
và các chất hữu cơ.
Chất rắn ảnh hưởng tới chất lượng nước khi sử dụng cho sinh hoạt và
cho sản xuất.
Một số chỉ tiêu biểu thị hàm lượng chất rắn:
Tổng lượng chất rắn (TS): là trọng lượng khô tính bằng mg của phần
còn lại sau khi bay hơi 1 lít mẫu nước trên nồi cách thủy rồi sấ
y khô ở 130
0
C
cho tới khi trọng lượng không đổi, đơn vị tính bằng mg/l.
Chất rắn lơ lững (SS): là trọng lượng khô của phần chất rắn còn lại trên
giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc 1 lít mẫu nước qua phễu lọc Gooch rồi sấy khô ở
130
0
C - 150
0