Đánh giá chất lượng nguồn nước mặt ở Sông Thị Tính – Tỉnh Bình Dương - Pdf 28

CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong khi nền kinh tế của Việt Nam đã và đang có nhiều chuyển biến tích cực,
tăng trưởng ngày càng cao, thì sự phát triển của các nghành nghề như công nghiệp,
nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và dịch vụ cũng tăng theo. Trong đó đặc biệt là
nghành công nghiệp đã góp phần không nhỏ trong sự phát triển chung của toàn xã hội,
song cũng chính từ sự phát triển này đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về ô nhiễm môi
trường làm cho môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Hiện trạng ô nhiễm môi trường hiện nay chủ yếu là do hoạt động sản xuất của
các nhà máy trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành tiểu thủ công nghiệp
và nông nghiệp phát triển mạnh gây ra. Nhưng đa số các nhà máy, xí nghiệp các khu
công nghiệp đều chưa có hệ thống xử lý nước thải cục bộ, các loại nước thải thường
được xả trực tiếp vào các con sông và kênh rạch Vì thế, hằng ngày khối lượng nước
thải không nhỏ được thải ra nguồn tiếp nhận mà chưa qua hệ thống xử lý, qua thời gian
nguy cơ ô nhiễm ngày càng tăng dần, và cho đến hôm nay, có thể nói rằng tình trạng ô
nhiễm trên những dòng sông ở Việt Nam điển hình là sông Thị Tính thuộc tỉnh Bình
Dương.
Sông Thị Tính là một nhánh sông nhỏ của sông Sài Gòn. Vùng thượng nguồn này
được bao bọc bởi những vườn cao su bạt ngàn, kéo dài từ Bình Phước xuống tận Bến
Cát, tỉnh Bình Dương. Dòng sông không chỉ tiếp nhận nước thải sau khi xử lý của
KCN Mỹ Phước I, II, III, khu dân cư, cụm công nghiệp, thải sinh hoạt từ các hộ dân
sống ven sông làm ảnh hưởng đến hệ thực vật, chất lượng nguồn nước và sức khỏe của
nguời dân.
Để đánh giá mức độ ô nhiễm trên hai lưu vực này là một bài toán hết sức nan
giải. Nhằm góp phần cải thiện các nguy cơ ô nhiễm nguồn nước cũng như từng bước
khắc phục tình trạng ô nhiễm trên Sông Thị Tính. Chúng ta cần phải kiểm tra khảo sát,
đánh giá chất lượng nước và sự ảnh hưởng của quần thể thực vật ở hai vùng thủy vực
1
để từ đó đề xuất những giải pháp và hướng quản lý môi trường đạt hiệu quả hơn.
Chính vì những lý do này mà việc thực hiện đề tài: “ Đánh giá chất lượng nguồn

Ngoài
nước
Nhóm 1. Thượng nguồn
nằm trong lãnh thổ
45.705 43.725 1.980 38,75 37,17 1,68
Nhóm 2. Trung và hạ lưu
nằm trong lãnh thổ
1.060.40 199.230 861.17 761,90 189,62 524,28
Nhóm 3. Các sông nằm
trong lãnh thổ
55.602 55.602 66,50 66,50
Tổng cộng 298.557 822,15 293,29 535,96
Cả nước 330.000 853,80 317,90 535,96
Sơ lược các nguồn tài nguyên nước các vùng
8 vùng kinh tế ở nước ta phần lớn đều nằm trong các lưu vực sông chính. Tuy
nhiên, trữ lượng và chất lượng tài nguyên nước, tính đa dạng sinh học và khả năng có
3
nước và tính dễ bị tổn thương của mỗi vùng có khác nhau. Các vùng đồng bằng sông
Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ có hệ thống sông ngòi dày đặc và
nguồn tài nguyên nước mặt dồi dào. Ở các vùng này, gia tăng dân số, đô thị hoá và
công nghiệp hoá một cách nhanh chóng, thâm canh nông nghiệp và vận tải đường thuỷ
làm cho chất lượng nước xấu đi và giảm mực nước dưới đất. Trong khi các vùng ven
biển với mật độ dân số ngày càng tăng, càng dễ bị tổn thương trước do sự biến đổi khí
hậu toàn cầu và nạn phá rừng diễn ra ở các vùng thượng lưu, thì ở các vùng núi cao
(Tây Bắc và Tây Nguyên) hạn hán và lũ quét lại xảy ra ngày càng nghiêm trọng. Tính
đa dạng sinh học trên đất liền và thuỷ sản nước ngọt giảm ở hầu hết các vùng. Các
nguồn tài nguyên biển và ven biển từng mang lại các lợi ích cho các vùng ven biển và
nền kinh tế nước nhà, nhưng khai thác quá mức là một nguy cơ rõ nhất.
2.1.2 Tài nguyên nước dưới đất [4]
Tổng hợp trữ lượng nước dưới đất đã được đánh giá và xét duyệt trên toàn lãnh

triển trên nền lục địa kế thừa vùng trũng sông Hồng bao gồm các cửa sông
chính của hệ thống sông Hồng. Đặc trưng hình thái đường bờ là lồi ra biển,
trước các cửa sông đều có các cồn cát.
- Vùng bờ từ Nga Sơn (Thanh Hóa) đến Đèo Ngang (Quảng Bình): vùng này
có cấu tạo đất đá theo nền của đới tạo núi Việt – Lào.
- Vùng bờ từ Đèo Ngang (Quảng Bình) đến đèo Hải Vân (Đà Nẵng): thuộc
vùng Bắc Trường Sơn bao gồm phức nếp lõm sông Cả và lồi Trường sơn.
Đặc điểm bờ biển là đồng bằng hẹp tích tụ mài mòn ven biển có nhiều cồn,
đụn cát nằm dọc phía ngoài, phía trong là đầm phá.
- Vùng bờ từ bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) đến Sa Huỳnh (Quảng Ngãi): vùng
phát triển trên nền uốn nếp Việt – Lào, dải đồng bằng ven biển và vùng bờ
biển hiện đại đều tương đối rộng. Trong vùng này có Cù Lao Chàm.
- Vùng ven bờ từ Cà Ná đến Vũng Tàu: vùng này thuộc đới cấu trúc Đà Lạt.
Địa hình bờ biển tương đối bằng phẳng, vùng đáy sát bờ có nhiều bùn cát và
đá ngầm.
5
- Vùng bờ từ Vũng Tàu đến Rạch Giá: thuộc châu thổ sông Cửu Long có nhiều
cửa sông lớn, bờ biển thoai thoải, hệ thống kênh rạch dày đặc. Các cửa sông
thường rất rộng với các bãi triều ngầm và cồn cát.
Việt Nam có 28/64 tỉnh thành phố có biển. Nhìn chung, dân số thành thị của các
tỉnh ven biển đều tăng trong 3 năm gần đây (2,5% năm 2002 và 3,2% năm 2003). Năm
2003, các tỉnh ven biển có 308 quận, huyện với dân số khoảng 41,7 triệu người trong
đó có 126 quận, huyện với trên 17,7 triệu người sinh sống.
Hơn hai thập niên qua, một số lượng lớn tầu, thuyền mới đóng đã tham gia khai
thác. Số tàu thuyền này chủ yếu hoạt động ở vùng biển có đậu sâu trên dưới 50 m, gây
áp lực lớn cho việc khai thác hải sản ở vùng nước ven bờ. So sánh với kết quả nghiên
cứu những năm 90, trữ lượng cá biển đến nay (2004) đã giảm sút khá rõ rệt (3,1/4,1
triệu tấn).
2.1.4 Đặc điểm khí hậu thủy văn
Hệ thống dòng chảy với một mạng lưới tiêu nước ra biển khá dày. Tổng số các

m
3
/năm cho vùng thiếu nước đến 10.720 m
3
/năm cho các vùng có trữ lượng lớn.
Sử dụng nước có tiêu hao
- Sử dụng nước cho nông nghiệp: kết quả tính đến năm 1998 đã có 75 hệ thống
thủy lợi vừa và lớn với nhiều hệ thống thủy lợi nhỏ gồm 3.500 hồ chứa vừa và lớn
(dung tích trên 1 triệu m3 chiều cao đập trên 10 m); 1017 đập dâng và hàng ngàn hồ
chứa nhỏ, hơn 5.000 công tưới/tiêu lớn; trên 10.000 trạm bơm điện lớn và vừa với tổng
công suất 24,8 triệu m3/h và hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ. Các hệ thống
thủy lợi có tổng năng lực tưới trực tiếp 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13
triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha đất
canh tác nông nghiệp. Khoảng trên 8000 km bờ bao ngăn lũ vụ hè thu ở đồng bằng
sông Cửu Long với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh. Tổng tài sản cố
định phần nhà nước đầu tư khoảng trên 60.000 tỷ đồng (giá năm 1998) chưa kể tài sản
cố định cho đê điều, công trình thủy điện… Lượng nước cung cấp hàng năm cho nông
nghiệp rất lớn và tăng lên hàng năm: 1985 sử dụng 40,65 tỷ m
3
chiếm 89,8% tổng
lượng nước tiêu thụ, 1990 là 51 tỷ m
3
chiếm 91% tổng lượng nước tiêu thụ, năm 2000
là 76,6 tỷ m
3
, chiếm 84% tổng nhu cầu về nước. Từ năm 1998, diện tích được tưới
tăng trung bình mỗi năm khoảng 3,4%, nhưng các hệ thống tưới chỉ có thể đáp ứng
cho 7,4 triệu ha (hay 80% tổng diện tích đất trồng trọt). Chính phủ mong muốn đến
7
năm 2010 thì nhu cầu tưới sẽ tăng đến 88,8 tỷ m

Các dòng sông trên thế giới vốn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho con người
và cũng là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật. Thế nhưng, trên toàn thế giới,
tình trạng ô nhiễm sông ngòi là khá nghiêm trọng, ảnh hưởng đáng kể đến chức năng
vốn có của chúng.
Hiện nay ô nhiễm môi trường nước là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của
rất nhiều nhà khoa học, các tổ chức môi trường trên thế giới cũng như từng quốc gia.
Trong đó, ô nhiễm nước mặt trong các thủy vực như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa
(hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng là vấn đề thu hút quan tâm nhiều nhất. Trong các
dạng nước mặt, thì nước sông là nguồn nước được sử dụng rộng rãi trong đời sống và
sản xuất.
Những dòng sông bị ô nhiễm nặng nề nhất là những dòng sông chảy qua các khu
vực dân cư đông đúc vốn thường tập trung ở khu vực cửa sông. Những khu vực đầu
nguồn như thượng nguồn sông Amazon chính là nơi có mức độ ô nhiễm nước thấp
nhất.
Hiện tại, sông Trường Giang ở Trung Quốc, do hậu quả của hàng chục năm công
nghiệp hóa, xây dựng đập thủy điện, trở thành một trong những dòng sông ô nhiễm
nhất trên thế giới. Trong khi đó, tình trạng khai thác cá quá mức lại đang diễn ra ở
sông Mekong. Nguồn nước của rất nhiều con sông như sông Ấn, sông Hằng ở châu Á,
sông Nile ở châu Phi hiện giờ không thể chảy ra tới biển được nữa. Các con đập lớn đã
hủy hoại môi trường sống và cắt dòng sông ra khỏi lưu vực chảy quen thuộc. Tình
trạng khí hậu thay đổi cũng có thể ảnh hưởng tới quy luật đã có hàng ngàn năm nay
của các dòng sông.
2.3 TỔNG QUAN VỀ TRÌNH TRẠNG Ô NHIỄM NƯỚC Ở VIỆT NAM
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc
thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm
nước mặt là vấn đề rất đáng lo ngại.
Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy
của các sông trên thế giới , trong đó có 2.360 sông có chiều dài lớn hơn 10 km, 8 trong
số các con sông này có lưu vực sông lớn với diện tích lớn hơn 10.000 km
2

nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các
khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn.
Qua báo chí và truyền thanh ở Việt Nam từ hơn hai năm qua, tin tức ô nhiễm
nguồn nước ở hầu hết sông ngòi Việt Nam, đặc biệt ở những nơi có các KCN phát
triển trọng điểm. Nhiều dòng sông trước kia là nơi giặt giũ tắm rữa và nước sông được
sử dụng như nước sinh hoạt gia đình. Ngày nay tình trạng hoàn toàn khác hẳn. Người
dân ở nhiều nơi không thể dùng những nguồn nước sông này nữa. Những nơi được đề
cập đến có thể được chia ra từng khu vực khác nhau từ Bắc chí Nam tùy theo sự phát
triển của từng nơi một. Ðó là:
 Lưu vực sông Cầu và các phụ lưu qua các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Vĩnh
Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương.
 Lưu vực sông Nhuệ, sông Ðáy chảy qua các tỉnh Hòa Bình, TP. Hà Nội, Hà
Tây, Hà Nam, Nam Ðịnh, và Ninh Bình.
10
 Lưu vực sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn gồm các tỉnh Lâm Ðồng, Ðắc Lắc, Ðắc
Nông, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Ðồng Nai (Biên Hòa), TP. HCM, Bà Rịa -
Vũng Tàu, Ninh Thuận, và Bình Thuận.
 Lưu vực Tiền Giang và Hậu Giang gồm các tỉnh thuộc Ðồng Bằng Sông Cửu
Long.
Nguyên nhân gây ô nhiễm chủ yếu ở các lưu vực sông là nhiều cơ sở sản xuất có
ngành nghề gây ô nhiễm môi trường như dệt nhuộm, giấy, bột giấy, cao su, thuộc da,
hóa chất, lương thực, thực phẩm,…các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, làng
nghề, khai thác, chế biến và nuôi trồng thủy sản cũng như nước thải sinh hoạt thành
phố. Nước thải trong sản xuất, sinh hoạt không qua xử lý đổ ra hệ thống sông ngòi,
gây ô nhiễm nghiêm trọng. Đa phần nguồn nước có nồng độ BOD, COD và Coliform
không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước (TCVN 5942 - 1995: Tiêu chuẩn chất
lượng nước - nước mặt), và thậm chí vượt quá giới hạn cho phép theo quy định hiện
hành trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiêu chuẩn môi trường (QCVN 08:
2008/BTNMT) rất nhiều lần.
2.4 CÁC TÁC NHÂN GÂY Ô NHIỄM NƯỚC MẶT [3]

thực phẩm thường rất cao, có lúc lên đến 100 mg/l. Tiêu chuẩn Môi trường Việt Nam
về nước mặt (TCVN 5942 - 1995) quy định nồng độ tối đa của amoni (hoặc amoniac)
trong nguồn nước dùng vào mục đích sinh hoạt là 0,05 mg/l (tính theo N) hoặc 1,0
mg/l cho các mục đích sử dụng khác.
Nitrat (NO
3
-
): Là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất chứa nitơ có
trong chất thải của người và động vật. Trong nước tự nhiên nồng độ nitrat thường nhỏ
hơn 5 mg/l. Do các chất thải công nghiệp, nước chảy tràn chứa phân bón từ các khu
nông nghiệp, nồng độ của nitrat trong các nguồn nước có thể tăng cao, gây ảnh hưởng
đến chất lượng nước sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản. TCVN 5942 - 1995 quy định
nồng độ tối đa của nitrat trong nguồn nước mặt dùng vào mục đích sinh hoạt là 10
mg/l (tính theo N) hoặc 15 mg/l cho các mục đích sử dụng khác.
Photphat (PO
4
3-
): Cũng như nitrat, photphat là chất dinh dưỡng cần cho sự phát
triển của thực vật thủy sinh. Nồng độ photphat trong các nguồn nước không ô nhiễm
thường nhỏ hơn 0,01 mg/l. Nước sông bị ô nhiễm do nước thải đô thị, nước thải công
nghiệp hoặc nước chảy tràn từ đồng ruộng chứa nhiều loại phân bón, có thể có nồng
độ photphat đến 0,5 mg/l.
Hiện tượng phú dưỡng thường xảy ra với các hồ, hoặc các vùng nước ít lưu
thông trao đổi. Khi mới hình thành, các hồ đều ở tình trạng nghèo chất dinh dưỡng
(oligotrophic), nước hồ thường khá trong. Sau một thời gian, do sự xâm nhập của các
chất dinh dưỡng từ nước chảy tràn, sự phát triển và phân hủy của sinh vật thủy sinh,
hồ bắt đầu tích tụ một lượng lớn các chất hữu cơ. Lúc đó bắt đầu xảy ra hiện tượng
phú dưỡng với sự phát triển bùng nổ của tảo, nước hồ trở nên có màu xanh, một lượng
lớn bùn lắng được tạo thành do xác của tảo chết. Dần dần, hồ sẽ trở thành vùng đầm
lầy và cuối cùng là vùng đất khô, cuộc sống của động vật thủy sinh trong hồ bị ngừng

loại nặng rất độc đối với con người.
Asen (As): Asen trong các nguồn nước có thể do các nguồn gây ô nhiễm tự
nhiên (các loại khoáng chứa asen) hoặc nguồn nhân tạo (luyện kim, khai khoáng ).
Asen thường có mặt trong nước dưới dạng asenit (AsO
3
3-
), asenat (AsO
4
3-
) hoặc asen
hữu cơ (các hợp chất loại methyl asen có trong môi trường do các phản ứng chuyển
13
hóa sinh học asen vô cơ). Asen và các hợp chất của nó là các chất độc mạnh (cho
người, các động vật khác và vi sinh vật), nó có khả năng tích lũy trong cơ thể và gây
ung thư. Độc tính của các dạng hợp chất asen: As(III) > As(V) > Asen hữu cơ.
Bảng 3. Nồng độ tối đa cho phép của một số kim loại nặng trong các loại nước theo
tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
STT Kim loại nặng Đơn vị
Nồng độ tối đa cho phép
TCVN
5924 - 1995
( nước mặt)
TCVN
5943 - 1995
(nước biển
ven bờ)
TCVN
5944 - 1995
(nước ngầm)
1 Asen mg/l 0,05 0,05 0,05

 Nhóm hoá chất bảo vệ thực vật hữu cơ
Hiện nay có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn các loại hóa chất bảo vệ thực vật
đang được sản xuất và sử dụng để diệt sâu, côn trùng, nấm mốc, diệt cỏ. Trong số đó
phần lớn là các hợp chất hữu cơ, chúng được chia thành các nhóm: Photpho hữu cơ,
Clo hữu cơ, Cacbamat, Phenoxyaxetic, Pyrethroid. TCVN 5942 - 1995 quy định nồmg
độ tối đa cho phép của tổng các hóa chất BVTV trong nước bề mặt là 0,15 mg/l, riêng
với DDT là 0,01 mg/l.
 Nhóm hợp chất dioxin
Nhóm dioxin là hai nhóm hợp chất tạp chất sinh ra trong quá trình sản xuất các
hợp chất clo hoá. Dioxin cũng được tạo thành khi đốt cháy các hợp chất clo hoá ở
nhiệt độ thấp (dưới 1000
o
C). Hai nhóm hóa chất này là polychlorinated dibenzop –
dioxins (PCDDs) và polychlorinated dibenzofurans (PCDFs).
 Nhóm hợp chất polychlorinated biphenyl (PCBs)
PCBs là nhóm hợp chất có từ 1 đến 10 nguyên tử clo gắn vào các vị trí khác nhau
của phân tử phenyl. Có thể có đến 209 hợp chất thuộc loại này. Công nghiệp thường
sản xuất được các hỗn hợp chứa nhiều loại PCBs khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện,
trong đó thông thường có một ít tạp chất dioxin. PCBs bền hoá học và cách điện tốt,
nên được dùng làm dầu biến thế và tụ điện, ngoài ra chúng còn được dùng làm dầu bôi
15
trơn, dầu thuỷ lực, tác nhân truyền nhiệt… PCBs theo nước thải gây ô nhiễm cho
nước.
2.4.3 Dầu mỡ
Dầu mỡ là chất khó tan trong nước, nhưng tan được trong các dung môi hữu cơ.
Dầu mỡ có thành phần hóa học rất phức tạp. Dầu thô có chứa hàng ngàn các phân tử
khác nhau, nhưng phần lớn là các Hidro cacbon có số cacbon từ 2 đến 26. Trong dầu
thô còn có các hợp chất lưu huỳnh, nitơ, kim loại. Các loại dầu nhiên liệu sau tinh chế
(dầu DO2, FO) và một số sản phẩm dầu mỡ khác còn chứa các chất độc như PAHs,
PCBs.

Các nguồn gốc chủ yếu gây ô nhiễm nước các kênh rạch, sông, hồ bao gồm cả tự
nhiên hoặc nhân tạo là:
 Nước thải sinh hoạt từ khu dân cư, bệnh viện, cơ quan, trường học.
 Nước thải công nghiệp từ cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
 Nước chảy tràn do mưa, lũ, lụt từ vùng nông nghiệp, công nghiệp, khu dân cư
đưa vào nguồn nước.
 Nước mưa cuốn theo các tác nhân ô nhiễm không khí đưa vào nguồn nước.
 Chất thải rắn chứa hoá chất, dầu mỡ, vi trùng từ sinh hoạt và công nghiệp.
Ô nhiễm nước do nguồn gốc tự nhiên
Là do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của
sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân
hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm,
gây ô nhiễm hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn. Lụt lội có thể làm nước mất
sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều
chất thải độc hại từ nơi đổ rác và cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất
giữ.
Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do
các tác nhân độc hại ở các khu phế thải. Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ
17
nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất. Nước chảy tràn là lượng nước
mưa chảy vào hệ thống cống rãnh từ hệ thống tiêu nước mưa, mái nhà, hè phố
Ô nhiễm nguồn nước do nguồn gốc nhân tạo
 Do nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt là nước xả bỏ sau khi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt
của con người như: tắm, giặt giũ, tẩy rửa, vệ sinh cá nhân…Nước thải sinh hoạt
thường được thải ra từ các căn hộ, cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, chợ, các
cộng trình công cộng khác và ngay trong các cơ sở sản xuất.
Nước thải sinh hoạt thường bị ô nhiễm bởi: các cặn hữu cơ, các chất hữu cơ hòa
tan (thông qua các chỉ tiêu BOD
5

Nguyên nhân là do thức ăn, nước trong hồ, ao nuôi lâu ngày bị phân hủy không
được xử lý tốt mà xả ra sông suối, biển gây ô nhiễm nguồn nước. Các chất thải nuôi
trồng thủy sản là nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư sử dụng
như hóa chất và thuốc kháng sinh, vôi và các loại khoáng chất.
19
CHƯƠNG 3
TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI
Ở LƯU VỰC SÔNG THỊ TÍNH TỈNH BÌNH DƯƠNG
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI Ở KHU VỰC SÔNG
THỊ TÍNH
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
 Đặc điểm khí hậu ở Bình Dương [2]
Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ
nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao, khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm
phân chia thành hai mùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa.
Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 11, mùa nắng kéo dài
từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Vào những tháng đầu mùa mưa, thường
xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau đó dứt hẳn. Những tháng 7, 8, 9, thường là
những tháng mưa dầm. Có những trận mưa dầm kéo dài 1 - 2 ngày đêm liên tục. Đặc
biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hưởng những cơn bão gần.
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26
o
C - 27
o
C. Nhiệt độ cao nhất
có lúc lên tới 39,3
o
C và thấp nhất từ 16
o
C - 17

15’ ÷ 11
o
30’ vĩ độ Bắc. Toàn bộ lưu vực sông Thị Tính có diện tích khoảng 840
km
2
, chiều dài sông chính khoảng 80 km, thuộc địa phận các huyện: Bến Cát, Dầu
Tiếng, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương và một phần nhỏ nằm trên địa phận
tỉnh Bình Phước. Chỉ tính riêng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, dòng chính sông Thị
Tính chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, qua Thị trấn Mỹ Phước (huyện Bến Cát)
rồi về Sông Sài Gòn ở Phú An (huyện Bến Cát), cách thành phố Thủ Dầu Một khoảng
6 km về phía thượng lưu.
Địa hình lưu vực biến đổi theo kiểu “lượn sóng”, xen giữa các đồi thấp là thung
lũng nhỏ hẹp, vùng ven sông thường ngập nước trong mùa mưa với hướng dốc dần từ
Đông Bắc xuống Tây Nam.
Sông Thị Tính không chỉ tiếp nhận nước thải sau khi xử lý của KCN Mỹ Phước
III mà còn tiếp nhận nước thải sản xuất từ các nhà máy, nước thải sinh hoạt từ các hộ
dân sống ven sông.
3.1.2 Điều kiện xã hội [2]
 Dân số
Tổng dân số trên toàn bộ lưu vực sông Thị Tính hiện nay khoảng 164,246 người.
Quá trình sinh hoạt hằng ngày tạo ra một lượng lớn nước thải với thành phần chủ yếu
là các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy, chất dinh dưỡng, chất rắn lơ lửng, chất tẩy rửa,
dầu mỡ, vi trùng… Nước thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý, một phần tự thấm
xuống đất, một phần theo hệ thống kênh mương chảy ra sông suối. Đây là vùng nông
21
thôn đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, đô thị hóa, mật độ dân số chưa cao
(khoảng 2 người/ha). Lượng nước thải được ước tính khoảng 85% lượng nước cấp
hiện nay cho sinh hoạt (60 lít/người/ngày – 80 lít/người), nên vấn đề ô nhiễm môi
trường do nước thải sinh hoạt chưa đến mức báo động.
 Cơ sở hạ tầng

Rác thải ở Sông Thị Tính rất ít như các loại túi nilôn, luới bắt cá…chủ yếu là
những đám lục bình trôi dạt trên sông và nước thải từ các khu công nghiệp, nhà máy
giấy dọc theo lưu vực sông.
3.2.3 Kích thước của sông, kênh trong khu vực nghiên cứu
Sông Thị Tính có diện tích lưu vực khoảng 840 km
2
, trong đó phần lớn diện tích
lưu vực nằm trên địa phận của Huyện Bến Cát và Huyện Dầu Tiếng, chiều dài dòng
sông chính khoảng 80 km. Dòng chính Sông Thị Tính chảy theo hướng Tây Bắc –
Đông Nam, qua Thị Trấn Mỹ Phước (huyện Bến Cát ) rồi về Sông Sài Gòn ở xã Phú
An (Huyện Bến Cát), cách Thành phố Thủ Dầu Một khoảng 6 km về phía thượng lưu.
3.2.4 Nước sông
Sông Thị Tính: Nước có màu đục trung bình, tùy vào lúc thủy triều lên hay
xuống mà độ đục của nước tăng lên hay giảm xuống, nhìn theo cảm quan thì không
cảm nhận được mùi hôi.
3.2.5 Nguồn thực vật bên hai bờ sông
Sông Thị Tính thảm thực vật rất phong phú và đa dạng có các loại cây dương xỉ,
cỏ hôi, cỏ lông heo, cỏ ống, cây môn nước, cây trinh nữ, cây mưu, bình bát, mắt mèo
các loại dây leo và rất nhiều cây cỏ dại mọc ven bờ.
3.2.6 Nhà máy, khu dân cư, KCN
Khu vực Sông Thị Tính hiện có 3 khu công nghiệp (KCN): Mỹ Phước I, Mỹ
Phước II, Mỹ Phước III, 1 cụm công nghiệp (CCN) Tân Định và 19 nhà máy nằm
ngoài các KCN, CCN đang hoạt động thuộc các ngành nghề khác nhau bao gồm: 6
khu chế biến mủ cao su, 8 khu chăn nuôi gia súc tập trung và chế biến rượu các loại, 5
nhà máy sản xuất giấy Công ty TNHH Giấy Vạn Phát, Vĩnh Cơ, Hiệp Lợi, Thuận An,
23
Đồng Tiến đã có nguồn nước thải chảy ra sông Thị Tính phân bố tập trung ở khu vực
hạ lưu thuộc huyện Bến Cát.
Ngoài ra, trong lưu vực hạ lưu còn có nhiều khu dân cư hiện hữu và đang hình
thành như Khu dân cư Mỹ Phước I, Khu dân cư Mỹ Phước II, Khu dân cư Mỹ Phước

phần các cụm dân dư hiện nay trên lưu vực sông Thị Tính chưa có hệ thống thu gom
nước thải, nước thải từ sản xuất nông nghiệp và nước mưa chảy tràn.
Theo nghiên cứu, nguồn gây ô nhiễm là từ khu vực tây bắc Tỉnh Bình Dương, nơi
có nhiều doanh nghiệp luyện sắt, thép, giấy, cao su xả thải ra Sông Thị Tính đổ vào hạ
lưu là sông Sài Gòn.
Các sản phẩm công nghiệp chính: đá các loại, thức ăn gia súc, đường các loại,
nước khoáng, hạt điều nhân, quần áo may sẵn, giày dép da, gỗ xẻ các loại, hàng mộc
các loại, sản phẩm giấy các loại, xà phòng các loại, sứ dân dụng, thuốc trừ sâu, hạt
nhựa các loại, lắp ráp ô tô…
3.4 HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT Ở LƯU VỰC
Trước đây sông Thị Tính nước trong xanh, chảy hiền hòa, có nhiều tôm cá. Thế
nhưng, khoảng gần 10 năm trở lại đây, khi bên bờ Sông Thị Tính xuất hiện nhiều nhà
máy, cơ sở sản xuất công nghiệp, nước thải và rác thải công nghiệp chưa qua xử lý lén
lút chảy xuống dòng sông làm nước đổi màu, cá tôm cũng hết, để tiêu nguồn nước thải
chưa qua xử lý, các nhà máy sản xuất giấy ở đây đều có đường ống thoát ngầm chảy
thẳng ra Sông Thị Tính. Do nguyên liệu chính là các loại giấy phế liệu nên phải cần
nhiều loại hóa chất để tẩy rửa. Những hóa chất độc hại này cùng với bã hồ, keo dán từ
giấy phế liệu tan ra đã lắng đọng dưới lòng sông tạo thành một lớp bùn đen đặc dính.
Mức độ ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng của nước Sông Thị Tính ở mức độ trung bình,
mức độ ô nhiễm cao hơn vào mùa mưa do ảnh hưởng của các nguồn thải đại diện, bao
gồm nước thải từ canh tác nông nghiệp, nước thải sinh hoạt và nước mưa cuốn theo
các chất thải chưa thu gom được, đến chất lượng nước sông.
Tháng 7/2009 ngay sau khi nhận được tin báo của người dân về việc nước sông
Thị Tính (đoạn qua địa bàn Thị Trấn Mỹ Phước, Huyện Bến Cát) bỗng đổi màu đen
ngòm, bốc mùi hôi thối nồng nặc, cá chết nổi bập bềnh Sở Tài nguyên - Môi Trường
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status