BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN NGUYỄN NGỌC ĐỈNH
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ
CHĂN NUÔI HEO TẬP TRUNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT - TỈNH ĐẮK LẮK LUẬN VĂN THẠC SỸ THÚ Y
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
bất kỳ một công trình nào khác.
Người cam ñoan Nguyễn Ngọc Đỉnh
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành ñược luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản
thân, tôi còn nhận ñược sự giúp ñỡ của quý thầy cô, bạn bè và gia ñình. Tôi
xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
- Lãnh ñạo Trường, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Chăn nuôi-Thú
y, quý thầy cô giáo ñã giúp ñỡ, truyền ñạt những kiến thức quý báu trong suốt
thời gian tôi học tập.
- TS. Trương Tấn Khanh người ñã tận tâm trực tiếp hướng dẫn tôi trong
suốt thời gian thực hiện luận văn.
- TS. Đinh Nam Lâm, ThS. Nguyễn Thị Bích Thủy người ñã giúp ñỡ
tôi các kiến thức chuyên sâu ñể hoàn thành luận văn này.
- Gia ñình ñã tạo ñiều kiện, ñộng viên tôi trong suốt thời gian học tập.
- Các bạn lớp Cao học Thú y Khóa I & II ñã giúp ñỡ, ñóng góp ý kiến
giúp tôi trong thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn.
nước ñóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng ñến năng suất và sự lây truyền dịch
bệnh. Theo Nguyễn Thị Hoa Lý & CS. (2004) [15], vật nuôi thiếu nước uống
có thể dẫn ñến thiệt hại kinh tế do strees, giảm ăn, giảm tăng trọng và giảm
năng suất; vật giết mổ bị giảm trọng lượng, khó lột da và thịt khô. Gà con bị
thiếu nước: thể trọng nhỏ, chân khô, nhăn và tái; thiếu nước có thể làm tăng tỷ
lệ chết sớm hay kém ăn trên gà trưởng thành. Theo Đỗ Ngọc Hòe (1995) [10]
trích nghiên cứu của Credek (1978) cho biết: sự có mặt của vi khuẩn với hàm
lượng lớn hơn 10
6
khuẩn lạc/1ml nước uống có thể gây ra những thiệt hại
2
không thể lường trước ñối với gia súc, gia cầm như các hội chứng: rối loạn
tiêu hóa, giảm trọng lượng, giảm sức ñề kháng của cơ thể, sảy thai,…Bên
cạnh ñó, nước cũng là môi trường truyền lây nhiều bệnh nguy hiểm từ vật
nuôi sang người.
Hiện tại, nguồn tài nguyên nước phục vụ sinh hoạt và chăn nuôi tại
Buôn Ma thuột ñang bị giảm dần cả về số lượng và chất lượng. Theo thống
kê của Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2003 [2] thì mực nước ngầm
tại vùng Buôn Ma Thuột năm 1997 ở ñộ sâu trung bình là -31,2m thì năm
2004 có ñộ sâu trung bình là -33,7m. Bên cạnh nguồn nước phục vụ chăn
nuôi ngày càng khan hiếm thì chất lượng nước cũng ñang suy giảm do các
hoạt ñộng công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, ñặc biệt do nước thải- chất
thải chăn nuôi.
Buôn Ma Thuột ñang phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung công
nghiệp do ñó nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do chất thải chăn nuôi ngày
càng tăng. Đồng thời, nhu cầu về nguồn nước ñảm bảo chất lượng phục vụ
chăn nuôi trong ñó có chăn nuôi heo là rất cấp thiết. Mối quan tâm về chất
lượng cũng như yêu cầu cải thiện chất lượng nước phục vụ chăn nuôi heo
ngày càng tăng. Mặt khác, các nghiên cứu về nước phục vụ chăn nuôi heo tập
và Nam cực. Như vậy chỉ còn khoảng 1% lượng nước trên trái ñất là nước
ngọt có thể sử dụng. Trong tổng số lượng nước ngọt có thể sử dụng này,
khoảng 2% là nước bề mặt (chiếm 0,02% tổng lượng nước trên trái ñất) và
98% là nước ngầm. Như vậy phần lớn nước ngọt có thể dùng trên trái ñất là
nước ngầm. Ngoài ra nước còn là yếu tố quan trọng giúp ñiều hòa khí hậu, ñất
ñai thông qua chu trình vận ñộng của nó. Nước còn ñáp ứng nhu cầu ña dạng
của con người như: tưới tiêu trong nông nghiệp, dùng cho sản xuất công
nghiệp, tạo ra ñiện năng và góp phần tạo nhiều thắng cảnh văn hóa khác
không thể thiếu trong cuộc sống.
Nước là thành phần tham gia cấu tạo cơ thể sinh vật. Trong cơ thể sống,
nước chiếm khoảng 52 – 75%: nước ở dạng liên kết hóa học tham gia vào cấu
tạo tế bào, làm dung môi của các phản ứng sinh hóa, tham gia quá trình biến
dưỡng và tạo sức căng cho tế bào. Nước là thành phần chính của dịch thể (máu,
bạch huyết, dịch nhầy khớp xương), tham gia hấp thu, bài tiết các chất dinh
dưỡng và giữ vai trò quan trọng trong quá trình ñiều hòa thân nhiệt.
Nước tuy không cung cấp năng lượng nhưng nó là thành phần không
thể thiếu ñược trong cơ thể. Tùy theo loài, tuổi, trọng lương, thể trọng mà
hàm lượng nước trong mỗi cá thể khác nhau. Ở cơ thể ñộng vật trưởng thành
nước chiếm từ 55%-63% trọng lượng cơ thể. Ở ñộng vật non nước chiếm tới
5
75% trọng lượng cơ thể, còn ñối với ñộng vật già nước chiếm tỷ lệ thấp hơn
45% trọng lượng cơ thể.
Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và CS. (2004) [15] vật nuôi thiếu nước có
thể dẫn ñến thiệt hại kinh tế: khi vật nuôi không ñược cung cấp ñủ nước có
thể dẫn ñến strees, giảm ăn, giảm tăng trọng và giảm năng suất; vật giết mổ bị
giảm trọng lượng, khó lột da và thịt khô. Gà con bị thiếu nước trong lò ấp
thường có albumin dính vào cơ thể, khi chuyên chở sẽ có lông kết nùi, thể
trọng nhỏ, mắt không mở, chân héo, nhăn và tái; thiếu nước có thể làm tăng tỷ
lệ chết sớm hay kém ăn trên gà trưởng thành.
thay ñổi do các nguyên nhân sau: do nhiễm bẩn các acid, các chất kiềm, các
muối vô cơ hoặc các muối sulfide kim loại. Nước chứa nhiều khí H
2
S thì pH
giảm. Đất chứa nhiều muối nhôm cũng là nguyên nhân làm cho pH giảm.
Bảng 1.1 pH nguồn nước thích hợp sử dụng chăn nuôi gia súc, gia cầm
(Alberta, 1993) [24, 25]
pH Gia cầm Heo Trâu, bò, ngựa
5 - 8,5 Sử dụng ñược Sử dụng ñược Sử dụng ñược
8,5-10 Có thể dùng Có thể dùng Có thể dùng
10 Không thích hợp Không thích hợp Có thể dùng
1.3.2 Nitrate (NO
-
3
)
Nitrate có trong nước bề mặt với hàm lượng thấp, còn trong nước ngầm
có hàm lượng khá cao. Bản thân nitrate không phải là chất ñộc, nhưng trong
một số trường hợp nó có thể bị khử thành nitrite là một chất rất ñộc.
Nước ngầm có thể bị nhiễm nitrate từ phân bón, từ sự phân hủy phân
gia súc và người. Nitrate sinh ra từ sự phân hủy các chất hữu cơ sẽ hòa tan
nhanh vào nước và di chuyển theo nước ngầm lọc qua ñất. Do ñó nước giếng
có thể chứa một hàm lượng nitrate cao mặc dù cách xa nguồn ô nhiễm. 8
-
3.
1.3.4 Ammonia (NH
3
)
Ammonia thường hiện diện trong nước bề mặt và nước thải, do quá
trình khử amine hay sự thủy phân urea. Nước ngầm có nồng ñộ ammonia thấp
do chất này bị hấp thu bởi các hạt ñất, do ñó không thấm qua ñất.
Ammonia trong nước ñược tạo bởi quá trình khử amine của những hợp
chất hữu cơ nhất ñịnh và bởi quá trình thuỷ phân urea. Nồng ñộ ammonia
trong nước ngầm thấp do chất này bị hấp thụ bởi các hạt ñất, do ñó không
thấm qua ñất, hay bị oxy hóa ñể tạo ra sản phẩm cuối cùng là nitrate.
9
1.3.5 Chloride (Cl
-
)
Cl
-
là một trong những anion chủ yếu trong nước và nước thải. Nguồn
gốc của chloride từ thức ăn qua ñường tiêu hóa thải ra ngoài, bị nhiễm mặn
hay từ nước thải công nghiệp. Do ñó Cl
-
là một chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh
giá mức ñộ ô nhiễm nước.
Nước uống chứa nhiều chloride làm vật nuôi khát nước, tăng tiết dịch
tiêu hóa, viêm dạ dày ruột.
Bảng 1.3 Ảnh hưởng của chloride trong nước ñến gia súc, gia cầm
/l)
cần thiết ñể oxy hóa các hợp chất hữu cơ trong một thể tích nước nhất ñịnh.
COD dùng ñể ñánh giá mức ñộ ô nhiễm của nước và nước thải. COD
ñược dùng ñể ñánh giá nhanh hàm lượng BOD (nhu cầu oxy sinh học). Nếu
phần lớn chất hữu cơ trong nước dễ bị phân hủy sinh học thì giá trị COD sẽ
gần bằng BOD. Ngược lại giá trị COD sẽ thấp hơn BOD một cách ñáng kể
nếu nước chứa nhiều chất hữu cơ khó phân hủy.
1.3.8 Nhu cầu oxy sinh học (BOD)
BOD là lượng oxy (ñơn vị: O
2
mg/l) hòa tan cần thiết ñể các vi sinh vật
phân hủy các hợp chất hữu cơ trong một thể tích nước và thời gian nhất ñịnh.
Hiện nay, người ta có thể dùng 2 chỉ tiêu BOD
3
hay BOD
5
. Chỉ tiêu
BOD
3
là chỉ tiêu BOD ño ở 30
0
C trong 3 ngày, BOD
5
là chỉ số BOD ño ở
20
0
C trong 5 ngày. Hai giá trị này hầu như tương ñương.
BOD ñược dùng rộng rãi trong ñánh giá mức ñộ ô nhiễm nước và nước
thải; cũng như ñánh giá hiệu quả của công trình xử lý nước thải.
1.4 Tính chất sinh học
0
C trong 30
ngày. Đây là vi khuẩn ưa nhiệt, nhiệt ñộ thích hợp nhất là 41
0
C.
Coliforms không có nguồn gốc từ phân: chúng sống hoại sinh trong ñất
và nước là vi khuẩn ưa lạnh, mọc ở 4
0
C trong 3-4 ngày và 10
0
C trong 1 ngày.
Chúng không mọc ở 41
0
C và nhiệt ñộ 44
0
C ngăn cản sự phát triển của tất cả
Coliforms không có nguồn gốc từ phân.
Coliforms bao gồm các giống: E.coli, Levines, Klebsilla, Enterobacter,
Citrobacter.
b. Escherichia coli
E.Coli là một trong những sinh vật phổ biến nhất của môi trường. Phần
12
lớn E.coli phân lập từ môi trường là loại không gây bệnh hay gây bệnh cơ hội.
Nhiều người không coi E.coli là vi sinh vật gây bệnh, song những nghiên cứu
gần ñây cho thấy một số chủng của chúng thực sự có khả năng gây bệnh lây
lan qua nước, qua thực phẩm rất nghiêm trọng.
Các chủng E.coli gây bệnh ñường ruột: EPEC, sinh nội ñộc tố không
chịu nhiệt (LT) hay nội ñộc tố chịu nhiệt (ST). Cơ chế lây lan của các chủng
E.coli EPEC rất giống với Shigella gây bệnh lị và chứng tiêu chảy ở người.
1.5 Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước là sự biến ñổi chất lượng nước, gây nguy hiểm cho con
người, gia súc, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, du lịch sinh thái và ñộng
vật hoang dã, hay ô nhiễm nước là sự biến ñổi thành phần của nước theo
chiều hướng bất lợi cho sức khỏe con người, vật nuôi… khác biệt so với trạng
thái ban ñầu.
Theo tác giả Nguyễn Thị Hoa Lý & CS. (2004) [15] thì “ô nhiễm nước
thường xảy ra do hai nguyên nhân: thiên nhiên và con người”. Sự ô nhiễm
nước không ñơn thuần là ô nhiễm do vi sinh vật, các chất thải trong chăn
nuôi, sinh hoạt hằng ngày của con người mà còn có sự ô nhiễm từ hoạt ñộng
sản xuất công nghiệp, các chất phóng xạ gây nên…Các nguồn gây ô nhiễm
nước rất ña dạng và phong phú, nó tác ñộng ñến hệ sinh thái theo các chiều
hướng khác nhau.
1.5.1 Ô nhiễm về mặt vật lý
Màu: nước ñạt tiêu chuẩn vệ sinh phải không có màu. Màu của nước do
các hợp chất hữu cơ và vô cơ trong nước tạo nên. Nước có màu làm mất vẻ
mỹ quan và làm giảm chất lượng sử dụng của nước. Nếu nước bị ô nhiễm sắt
nước có màu nâu hay vàng, nước chứa nhiều ion Ca
2+
thường làm cho nước
có màu trắng sữa. Đất sét làm nước có màu ñục hay vàng nhạt.
Độ ñục: nước tự nhiên thường bị vẩn ñục do chứa những hạt keo lơ
lửng. Các hạt keo này có thể là ñất sét, mùn, vi sinh vật …Độ ñục là một dấu
hiệu cho biết có sự ô nhiễm nước do chất hữu cơ. Nó làm giảm mỹ quan,
giảm hiệu quả khử trùng và tăng giá thành xử lý nước. Độ ñục có thể khử
bằng biện pháp ñánh phèn hay xử lý bằng bể cát lọc chậm. Độ ñục ñược ño
bằng máy ño ñộ ñục, hay thang màu Kao lin, Trepen (SiO
2
) trong khoảng thời
nguồn nước cấp cho sinh hoạt.
Chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học gồm các chất có vòng thơm, hợp
chất ña vòng, các hợp chất chứa chlorine như DDT, thuốc trừ sâu 666. Các
chất này có khả năng tồn tại khá lâu trong thiên nhiên và gây ngộ ñộc tích lũy
cho người và gia súc vùng nước bị ô nhiễm.
Các chất ô nhiễm vô cơ gồm thủy ngân, ñồng, nitrate, nitrite, ammonia,
chlorine, sắt II hay sắt III và muối nhôm. Bình thường các chất này có vai trò
15
rất quan trọng trong ñời sống của sinh vật nhưng nếu hàm lượng các chất này
vượt quá mức cho phép thì sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực ñến sức khỏe.
Theo một số nghiên cứu hiện nay cho thấy, sự ô nhiễm các chất vô cơ
ñặc biệt là kim loại nặng có ảnh hưởng nghiêm trọng ñến sức khỏe con người
và gia súc: nitrate và nitrit gây hiện tượng Methaemoglobin, giảm lượng hồng
cầu, gây rối loạn hiện tượng trao ñổi chất và tím tái, gây ung thư, thần kinh;
NH
4
+
: gây viêm loét dạ dày, gây trúng ñộc kiềm; Cl
-
: gây hiện tượng khát
nước, phân loãng, cơ thể phù thũng ở gia súc; muối sắt: gia súc có thể bị táo
bón nếu uống nước chứa nhiều Fe
2
O
3
; Thủy ngân: biến loạn thị giác, cử ñộng
không theo ý muốn, phân lẫn máu, trường hợp trúng ñộc thủy ngân nặng gây
quái thai; Chì: gây tổn thương hệ tuần hoàn, não bộ, thiếu máu, gia súc mệt
mỏi, ăn không ngon miệng; Asen: tím tái, tiêu chảy, suy tim.
thể, gây xảy thai…
Trong mấy thập kỷ gần ñây, việc ñô thị hóa mạnh mẽ trên toàn thế giới
ñã kéo theo sự thay ñổi thủy văn của các lưu vực sông và gây tác ñộng nhiều
mặt tới môi trường. Do yêu cầu dùng nước ở các ñô thị tăng nhanh vượt quá
khả năng cung cấp tại chỗ dẫn ñến việc buộc phải dẫn nước từ nơi khác ñến.
Phần lớn nước bẩn từ dân cư, xí nghiêp công nghiệp, nông nghiệp, trang trại
chăn nuôi… ñược thải ra mương máng, ao, hồ, sông, biển,…thậm chí thấm
sâu xuống nguồn nước ngầm dưới ñất ñã uy hiếp hệ sinh thái của môi trường
xung quanh.
Theo tác giả Đỗ Ngọc Hòe, 1995 [10]:
- Ở Nhật tất cả con sông ở các vùng phát triển ñều nhiễm bẩn.
- Ở Thái Lan, công nghiệp ñường ñã gây ô nhiễm sông Kacklong làm
thiệt hại 50
triệu
Bạt hàng năm, Bangkok thải 1
triệu
m
3
nước thải mỗi ngày.
17
- Ở Mỹ phần lớn các con sông ñều bị ô nhiễm nặng, chiều dài nhiễm
bẩn lên tới 2000 km.
- Tại Anh ngày 1/4/1974 quốc hội Anh ñã thông qua luật bảo vệ nguồn
nước. Hiện có 60 tổ chức phục vụ cung cấp nước và 1300 xí nghiệp làm sạch
nước. Nhà nước ñã dành 5
triệu
Bảng Anh cho 1 năm vào việc nghiên cứu và
phát triển lĩnh vực này.
- Tại Mỹ cơ quan y tế ñã ñưa ra 2 bảng quy ñịnh: bảng nhắc nhở và
ñược cấp nước uống sạch. Tuy nhiên các chuyên gia nói rằng việc cải thiện
cung cấp nước uống ở nông thôn còn chưa thỏa mãn vì hơn 80
triệu
dân nông
thôn Trung Quốc và 20
triệu
ñầu gia súc vẫn bị thiếu nước. Do nước không
ñược cấp dầy ñủ mà hàng năm sản lượng lúa giảm mất hơn 10
triệu
tấn.
Các tác giả M.V. Somasudaram, G.Ravindran, J.H.Tellam (1993) [30]
cho biết: nguồn nước ngầm tại thành phố Mandas, Ấn Độ có sự ô nhiễm
nghiêm trọng nguyên nhân do sự bùng nổ dân số cũng như việc quản lý chất
thải chăn nuôi không tốt. Trong 93 mẫu nước giếng ñược phân tích, các chỉ
tiêu Ca
2+
, Mg
2+
, TDS, SO
4
2-
, NO
3
-
ñều vượt quá chỉ tiêu cho phép lần lượt
chiếm 25%, 11%, 43%, 14%, 70% số mẫu phân tích. Đặc biệt nguồn nước tại
Mandas có sự ô nhiễm kim loại nặng As (0,42 mg/l), Hg (0,02 mg/l), Pb (1,82
mg/l), Cd (1,31 mg/l). Trong khi ñó theo nghiên cứu của Mwakio P. Tole
(1997) [31] ñại học Moi, Kenya cho biết nguồn nước ngầm tại tỉnh Kwale,
Kenya nhìn chung không có sự ô nhiễm về mặt hóa học, tuy nhiên các giếng
du xuống ñồng bằng, miền biển thể hiện sự xấu kém dần qua chỉ số Fecal
Coliforms.
Việc sử dụng nguồn nước cho chăn nuôi ở miền Bắc nước ta từ trước
ñến nay chưa ñược nghiên cứu khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống.
Các cơ sở chăn nuôi mới chỉ chú ý ñến con giống, thức ăn, chuồng trại…còn
rất ít quan tâm ñến việc dùng nước ñể phục vụ cho gia súc ăn, uống, tắm,…sử
20
dụng nước ở các cơ sở chăn nuôi còn tùy tiện, chưa có xét nghiệm phân tích
và tuân theo ñúng tiêu chuẩn vệ sinh dùng nước.
Theo kết quả nghiên cứu của Anan Lertwilai (2006) [1]: qua thực tế
kiểm tra 383 mẫu nước từ nhiều nơi trong năm 2006 có 103 mẫu dương tính
với E.coli chiếm 26,89%, 15 mẫu dương tính với Salmonella spp chiếm 3,9%
trên tổng số mẫu kiểm tra. Năm 2005, tổng số mẫu kiểm tra là 88 mẫu có 29
mẫu nhiễm E.coli chiếm 32,90% và hai mẫu nhiễm Samonella spp chiếm
2,23%. Qua hai năm kiểm tra mẫu nước cho thấy tỷ lệ nhiễm E.coli trong mẫu
nước cao hơn nhiều so với tỷ lệ nhiễm Salmonella spp và thường tập trung
vào những tháng mưa.
Tác giả Vũ Đình Tôn; Lại Thị Cúc; Nguyễn Văn Duy; Đặng Vũ Bình
(2008) [23] khi nghiên cứu về “Chất lượng nước dùng trong trang trại chăn
nuôi heo ở vùng ñồng bằng sông Hồng” cho biết: Nước dùng tại các trang trại
chăn nuôi heo ở Hải Dương, Bắc Ninh và Hưng Yên ñều là nước giếng
khoan, một nửa trong số ñó không ñược xử lý. Các mẫu nước ở các trang trại
tại Hải Dương và Bắc Ninh có hàm lượng COD (H
+
), COD (OH
-
), CO
2
, Cl