DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI VÀ
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
STT HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ
1 MAI THỊ XOAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
2 NGUYỄN THỊ RÍ THÀNH VIÊN
3 LÒ MỔ KHÁNH XUÂN ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
4 DNTN DV – TM MINH LONG ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
i
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Phân bố bò vàng theo vùng sinh thái
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu sản xuất của bò Vàng Việt Nam
Bảng 3.1: Số lượng mẫu nghiên cứu tại phòng thí nghiệm
Bảng 3.2: Chỉ tiêu và thời điểm đánh giá chất lượng thịt
Bảng 4.1: Năng suất thịt bò vàng tại lò mổ
Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu lý tính của thịt bò vàng tại các thời điểm nghiên cứu
Bảng 4.3: Chất lượng thịt bò theo các lứa tuổi và tính biệt
ii
DANH MỤC VIẾT TẮT
Thứ tự Các chữ viết tắt Tên tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
1
2
3
4
5
6
7
Ash
CP
DM
EF
L*
2.2.1.1. Công tác giống và các kết quả nghiên cứu về cải thiện năng suất và chất lượng thịt bò
tại Việt Nam 6
2.2.1.1. Khảo sát, đánh giá chất lượng thịt bò Việt Nam 8
2.2.2.2. Ảnh hưởng của mật độ protein thô (CP) và năng lượng trong khẩu phần đến năng suất
và chất lượng thịt 10
2.2.2.3. Ảnh hưởng của giới tính, tốc độ tăng trọng và tuổi lúc giết thịt đến chất lượng thịt bò
12
2.2.2.4. Ảnh hưởng của chế độ nuôi dưỡng trước khi đưa vào vỗ béo và giai đoạn nuôi vỗ béo
đến năng suất và chất lượng thịt 13
2.2.2.5. Ảnh hưởng của thiến 14
2.2.2.6. Ảnh hưởng của cách quản lý tại lò mổ và phương pháp bảo quản sản phẩm đến chất
lượng thịt 15
2.3. Tình hình chăn nuôi bò thịt tại ĐăkLăk 16
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1. Đối tượng nghiên cứu 20
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 20
3.2.1. Nội dung nghiên cứu 20
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu 21
3.2.2.1. Phương pháp nghiên cứu cho Nội dung 1 21
3.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu cho Nội dung 2 21
3.2.2.2.1. Phương pháp xác định tuổi bò 21
3.2.2.2.2. Phương pháp xác định khả năng cho thịt (năng suất thịt) 22
3.2.2.2.3. Phương pháp phân tích thành phần hóa học thịt bò 23
3.2.2.2.4. Phương pháp phân tích một số chỉ tiêu lý tính của thịt 24
3.3. Phương pháp xử lý số liệu 26
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.2.1. Độ pH cơ thăn 29
4.2.2. Tỷ lệ mất nước của thịt trong bảo quản và chế biến 30
4.2.3. Màu sắc của thịt 31
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 34
– 37,14. Các giá trị màu sắc (L*, a*, b*) có xu hướng ngược lại với sự biến đổi
của pH. Gía trị L*, a*, b* tăng dần và ổn định sau 48 giờ. Thịt bò vàng đạt tiêu
chuẩn phân loại theo giá trị màu L*
Thành phần hóa học của thịt bò vàng có sự khác nhau rõ rệt giữa các lứa
tuổi. Hàm lượng protein, lipid có sự thay đổi rõ rệt nhất giữa các lứa tuổi. Hàm
lượng protein giảm dần theo lứa tuổi: từ 12 - 24 tháng tuổi đến >36 tháng tuổi.
Ngược lại, hàm lượng lipid lại tăng dần theo lứa tuổi.
vi
vii
SUMMARY
Project Title: Assessing live weight gain and meat quality of Yellow Cattle at
the slaughterhouses - Buon Ma Thuot City – Dak Lak Province
Coordinator: Mai Thi Xoan
Implementing Institution: Faculty of Animal sience Veterinary and medicine
Cooperating Institution(s): Khanh Xuan slaughterhouse, Minh Long company
Duration: from 04/2011 to 04/2012
1. Objectives: Assessing live weight gain and meat quality of Yellow Cattle
2. Main contents:
Determine the live weight gain and meat quality of Yellow Cattle at the
slaughterhouse through some standards:
+ Meat weight
+ Carcass weight
+ Bone mass
+ Muscle area
+ Crude protein content
+ Crude lipid content
+ Total mineral content
+ Dry matter content
+ pH
+ Cooking loss
6.019.958 triệu con đạt 98.63% so với năm 2009 (6.103.322 con). Sản lượng thịt
bò hơi xuất chuồng năm 2010 đạt 278.911 tấn (Theo Tổng cục thống kê, 2010)
Trong công tác giống bò, nhiều chương trình giống đã và đang được triển
khai, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò thịt
Việt Nam (Cục Chăn nuôi, 2006), đặc biệt phải kể đến các chương trình: (1)
Chương trình cải tạo đàn bò địa phương thông qua phương pháp thụ tinh nhân
tạo hoặc phối giống trực tiếp với bò đực giống Zêbu tạo bò lai có tỷ lệ máu ngoại
trên 50%; (2) Lai tạo, phát triển giống bò thịt chất lượng cao có tỷ lệ từ 75%
máu ngoại trở lên bằng sử dụng tinh của các giống bò thịt cao sản phối với bò cái
nền lai Zêbu; (3) Chọn lọc và nhân thuần các giống bò Zêbu và các giống bò thịt
cao sản nhập nội phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng. Cho đến nay,
chương trình lai giống đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất
sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của bò nuôi hướng thịt (Phạm Thế Huệ và cs.,
2008) và tốc độ tăng trưởng của sản lượng thịt bò giai đoạn 2001-2005 tăng
nhanh hơn tăng đàn đã khẳng định chất lượng giống bò tại Việt Nam đã được
nâng lên (Cục Chăn nuôi, 2006).
Mặc dù đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu, nhưng tất cả các nghiên
cứu về chất lượng thịt bò tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở một số giống bò nuôi
phổ biến tại một số khu vực hẹp như Thành phố Hà Nội và Đắk Lắk chứ chưa có
nghiên cứu được triển khai một cách đồng bộ để đưa ra những đánh giá tổng
quát về các chỉ tiêu chất lượng thịt cho các miền tại Việt Nam cũng như việc
1
triển khai các nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng thịt
phù hợp cho từng vùng miền từ đó có thể có đủ dữ liệu để xây dựng được tiêu
chuẩn phân loại chất lượng thịt bò ở Việt Nam.
Vì vậy, cần phải tiếp tục có nhiều nghiên cứu về năng suất và chất lượng
thịt của các giống bò nuôi tại các miền. Từ đó có thể xây dựng được hệ thống
tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thịt bò tại Đắk Lắk nói riêng và Việt Nam nói
chung, góp phần xây dựng thương hiệu thịt bò nuôi tại Đắk Lắk nhằm nâng cao
giá trị của sản phẩm thịt bò. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
chúng có sự khác nhau ít nhiều và tên gọi cũng được địa phương hoá ví dụ như
bò Lạng Sơn, bò Thanh Hoá, bò Nghệ An, Bò Phú Yên, v.v
2.1.3. Khả năng sản xuất
Bò Vàng có nhiều ưu điểm như: thích nghi lâu đời với khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm, chịu được kham khổ khi thức ăn thiếu thố và phương thức chăn nuôi tận
dụng. Bò Vàng chống chịu bệnh tật tốt, chống chịu được ve, mòng và các bệnh
kí sinh trùng đường máu do ve, mòng, muỗi gây ra, hiệu quả sinh sản tốt. Bò cái
Vùng
/năm
TD và
MNPB
ĐBSH Bắc TB
và DHMT
Tây
Nguyên
Đông
Nam Bộ
ĐBSCL Cả nước
2000 651,10 502,90 2023,20 524,90 228,60 197,20 4127,90
2001 397,52 482,96 1621,86 769,04 437,91 219,97 3899,70
2002 725,90 502,10 1649,45 432,50 474,80 278,25 4062,90
2003 771,30 542,30 1741,10 476,00 534,60 329,10 4394,40
2004 809,60 623,40 2176,30 547,10 331,50 419,80 4907,70
2005 875,70 709,90 2404,20 616,90 396,10 537,90 5540,70
2006 1026,60 821,50 2742,00 747,90 493,00 679,80 6510,80
2007 1088,80 822,90 2825,50 756,30 541,60 689,60 6724,70
2008 1058,80 730,00 2619,00 721,30 495,10 713,50 6337,70
2009 1057,74 668,89 2151,90 716,86 811,16 696,75 6103,32
2010 1.041,718 656,769 2.391,731 694,914 439,996 691,123 5.916,251
Tỷ lệ %
khối lượng thịt cũng thấp. Sản lượng sữa 300-400kg trong một chu kỳ 6-7 tháng,
chỉ đủ cho con bú. Bê sơ sinh nặng 10-12kg (Theo Đinh Văn Cải, 2007)
5
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1.1. Công tác giống và các kết quả nghiên cứu về cải thiện năng suất và chất
lượng thịt bò tại Việt Nam
Trong công tác giống bò, nhiều chương trình giống đã và đang được triển
khai, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò thịt
Việt Nam (Cục Chăn nuôi, 2006), đặc biệt phải kể đến các chương trình: (1)
Chương trình cải tạo đàn bò địa phương thông qua phương pháp thụ tinh nhân
tạo hoặc phối giống trực tiếp với bò đực giống Zêbu tạo bò lai có tỷ lệ máu ngoại
trên 50%; (2) Lai tạo, phát triển giống bò thịt chất lượng cao có tỷ lệ từ 75%
máu ngoại trở lên bằng sử dụng tinh của các giống bò thịt cao sản phối với bò cái
nền lai Zêbu; (3) Chọn lọc và nhân thuần các giống bò Zêbu và các giống bò thịt
cao sản nhập nội phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng. Cho đến nay,
chương trình lai giống đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất
sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của bò nuôi hướng thịt (Phạm Thế Huệ và cs.,
2008) và tốc độ tăng trưởng của sản lượng thịt bò giai đoạn 2001-2005 tăng
nhanh hơn tăng đàn đã khẳng định chất lượng giống bò tại Việt Nam đã được
nâng lên (Cục Chăn nuôi, 2006).
Trong giai đoạn từ năm 1975-2000, Viện Chăn nuôi đã tiến hành triển khai
nhiều đề tài nghiên cứu lai kinh tế giữa bò chuyên dụng thịt với bò Lai Sind. Cụ
thể:
+) Từ năm 1975-1979 đã triển khai đề tài lai kinh tế bò thịt (từ tinh đông lạnh
của các giống bò chuyên dụng thịt Charolais, Santa Getrudis, Brahman trên nền
bò Lai Sind và bò cái F1 HF (không có khả năng sản xuất sữa) do GS. Nguyễn
Văn Thưởng chủ trì. Đề tài đã kết luận: Con lai F1 (Charolais x Lai Sind) có
năng suất đạt cao nhất, tỷ lệ thịt xẻ, thịt tinh tương ứng đạt 52% và 44% (Nguyễn
Văn Thưởng và cs., 1990).
các cặp lai giữa đực Red Sindhi, Zêbu với bò vàng (Vũ Văn Nội và cs., 1995;
Nguyễn Văn Thu, 2004), lai kinh tế sử dụng tinh bò đực các giống Charolais,
Limousin, Simental phối với bò cái Lai Sind (Đinh Văn Cải, 2007) và bò đực
Charolais, Abondance, Tarentaise, Brahman lai với bò cái nền Lai Sind (Đinh
Văn Cải và cs., 2001; Hoàng Văn Trường và cs., 2005 trích từ Phạm Thế Huệ và
cs., 2008), sử dụng tinh bò Charolais, Brahman phối với bò cái Lai Sind tại Đắc
Lắc (Vũ Chí Cương, 2007). Về bò thuần, Đinh Văn Tuyền và cs, (2008a,b) trong
khuôn khổ của đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu nhân thuần và lai tạo giống bò hướng
thịt chất lượng cao ở Việt Nam” giai đoạn 2006-2010 đã nghiên cứu về khả năng
sinh trưởng của bò Brahman và Drought Master nuôi tại Việt Nam.
Tuy có nhiều các công trình nghiên cứu được công bố về khả năng sản xuất
thịt của các cặp lai, các giống bò nuôi tại Việt Nam trên, nhưng các đánh giá về
chất lượng thịt bò các giống mới chỉ dừng lại ở việc phân tích đánh giá thành
phần mô như nạc, mỡ, xương, da hay thành phần hóa học như VCK, chất béo…
(Vũ Văn Nội, 1994; Nguyễn Văn Thu, 2004) mà chưa quan tâm đến các chỉ tiêu
có tính hàng hóa sản phẩm như độ pH, màu sắc, độ mềm, điểm số mỡ dắt…
2.2.1.1. Khảo sát, đánh giá chất lượng thịt bò Việt Nam
Các nghiên cứu về đánh giá chất lượng thịt bò tại Việt Nam hiện cũng chưa
có nhiều và mới chỉ được quan tâm nghiên cứu trong một vài năm trở lại đây.
Theo Phạm Thế Huệ và cs (2008) thì phần lớn thịt bò tiêu thụ trong nước đều
được cung cấp trực tiếp từ các lò mổ tư nhân, không qua bảo quản hoặc chế biến.
Giá trị pH cơ thăn của bò Vàng và bò Lai Sind khảo sát tại Hà Nội (Đỗ Đức Lực
và cs., 2009) hay của bò Lai Sind, Brahman x Lai Sind và Charolais x Lai Sind
nuôi tại Đắc Lắc (Phạm Thế Huệ và cs., 2008) không có sự sai khác, các giá trị
này giảm mạnh trong 36 giờ đầu sau giết thịt, sau đó ổn định và nằm trong
khoảng cho phép theo tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA). Độ dai
8
của thịt thăn sau giết thịt 8 ngày của bò Lai Sind là 97,18N, của bò Vàng là
53,08N (Đỗ Đức Lực và cs., 2009) và thịt bò Lai Sind nằm ở mức độ phân loại
dai và thịt bò Vàng nằm trong khoảng mức độ dai trung gian theo tiêu chuẩn của
thống vỗ béo khác nhau đã được triển khai phổ biến rộng rãi trên nhiều nước, có
ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng tăng trọng, khả năng cho thịt
của các giống bò địa phương. Kết quả của Rodriguez-Voigt và cs (1997) cho
thấy bò lai các giống khác nhau có ảnh hưởng đến khối lượng lúc bắt đầu và kết
thúc thí nghiệm cũng như có ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng hàng ngày của
bò, nhưng không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu chất lượng thịt. Tuy nhiên tác giả
cũng đưa ra kết luận rằng việc cải thiện chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao khả năng tăng trọng và khối lượng thịt xẻ của bò nuôi
đa mục đích. Điều tra của Zhou và cs (2001) tại Trung Quốc cho thấy, con lai
giữa bò Vàng và bò Simmental hay Limousin có khối lượng cơ thể lúc giết thịt,
khối lượng thân thịt cao hơn tương ứng 8,4% và 19,3% so với bò Vàng thuần
chủng. Tác giả cũng kết luận, lượng thịt sản xuất ra từ bò vàng sẽ được cải thiện
bằng lai tạo và chế độ dinh dưỡng tốt hơn và nếu hệ thống phân loại chất lượng
được phát triển. Cũng theo kết quả điều tra của Zhou và cs (2001) thì bò được
giết thịt ở Trung Quốc tương đối già (ít nhất 50% số bò là trên 5 năm tuổi) và
tuổi lúc giết thịt biến động rất lớn (từ 1 đến 10 năm tuổi). Trong đó, bò Vàng lai
thường được giết thịt vào thời điểm khoảng 2,9 năm tuổi trong khi đó bò Vàng
thuần được giết thịt vào thời điểm 5,3 năm tuổi
2.2.2.2. Ảnh hưởng của mật độ protein thô (CP) và năng lượng trong khẩu phần
đến năng suất và chất lượng thịt
Sự nóng lên của khí hậu toàn cầu, tăng giá chóng mặt của các loại nguyên
liệu thức ăn đặt ra vấn đề nuôi dưỡng bò bằng khẩu phần có mật độ CP hợp lý
10
chiếm một vai trò quan trọng trong ngành nuôi dưỡng và vỗ béo bò thịt. Nếu vỗ
béo bò bằng khẩu phần có mật độ CP quá dư thừa có thể gây bất lợi cho môi
trường qua việc bài tiết Nitơ, ngược lại khi nuôi dưỡng bằng khẩu phần quá thiếu
CP có thể làm giảm tăng trọng, giảm lượng thức ăn ăn vào và cũng làm giảm
chất lượng thịt (Bailey và cs., 2008). Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu khác
nhau không đưa ra được mức CP thống nhất hợp lý trong nuôi dưỡng, vỗ béo bò
thịt, mà phụ thuộc vào từng nghiên cứu. Theo Galyean (1996), mật độ CP của
lượng thịt bò
Bò đực tơ lỡ thiến có khối lượng thịt xẻ cao hơn so với bò cái tơ lỡ do bò đực
luôn có khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng cao hơn so với bò cái tơ lỡ. Tuy
nhiên, bò cái tơ lỡ lại có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn so với bò đực tơ lỡ thiến do bò cái
tơ lỡ có diện tích cơ thăn lớn hơn bò đực tơ lỡ thiến. Điều này tự nó cũng là 1
điều ngạc nhiên, do các nghiên cứu trước đây cho rằng không có sự khác nhau về
diện tích cơ thăn giữa bò đực tơ lỡ thiến và bò cái tơ lỡ, và bò đực tơ lỡ thiến
tiêu hao một lượng mô thịt lớn hơn bò cái tơ lỡ.
Pery và Thompson (2005) tổng kết rằng nhóm bò có tốc độ tăng trọng nhanh
hơn thì thịt mềm hơn so với thịt của nhóm bò có tốc độ tăng trọng chậm hơn,
mặc dù kết quả nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng không có mối tương quan giữa
tốc độ tăng trọng và độ mềm của thịt giữa 2 nhóm bò tăng trọng nhanh và tăng
trọng chậm (Moloney và cs., 2008). Cơ sở cho giả thuyết của việc ảnh hưởng
dương của tốc độ tăng trọng trước khi giết thịt và độ mềm của thịt là mối tương
quan giữa tốc độ tăng trọng và chu chuyển protein (protein turnover). Theo giải
thích của Pery và Thompson (2005), đối với nhóm bò có tốc độ tăng trọng nhanh
chúng sẽ nhanh đạt được khối lượng giết thịt hơn và vì vậy chúng được giết thịt
vào thời điểm tuổi non hơn, và vì vậy tốc độ tăng trọng và tuổi khi giết thịt nên
12
xem xét cùng 1 lúc cho các chỉ tiêu theo dõi. Tuổi khi giết thịt có mối tương
quan với độ mềm của thịt, đặc biệt đối với những con bò già hơn 30 tháng tuổi
(Vestergaard và cs., 2007).
2.2.2.4. Ảnh hưởng của chế độ nuôi dưỡng trước khi đưa vào vỗ béo và giai
đoạn nuôi vỗ béo đến năng suất và chất lượng thịt
Nuôi dưỡng gia súc theo chế độ dinh dưỡng bậc thang tức luôn tăng tốc độ
tăng trọng trong suốt quá trình nuôi dưỡng có thể nâng cao khả năng sản xuất và
hiệu quả tăng trọng hơn so với chế độ nuôi dưỡng cho ăn tự do trong suốt quá
trình nuôi (Rosi và cs., 2001), tăng mật độ CP của khẩu phần ăn hạn chế nhằm
đạt được lượng CP ăn vào tương đương với khẩu phần ăn tự do cũng không làm
tăng khả năng sản xuất (Rosi và cs., 2000). Hạn chế lượng CP ăn vào của khẩu
14, 16, 18% thu nhận 322, 379, 506, 580 gCP/ngày trong tuần thứ 1 và lên 595,
727, 890, 940 gCP/ngày trong tuần tiếp theo. Cole và Hutcheson (1990) cũng chỉ
ra rằng khi tăng mật độ CP từ 12% lên 16% đã làm tăng tăng trọng hàng ngày
của bò, lý do là khi lượng VCK ăn vào giảm thì việc tăng mật độ CP của khẩu
phần là biện pháp làm tăng tổng lượng CP ăn vào. Eck và cs (1988) khuyến cáo
rằng đối với bê đực thiến, trong 28 ngày đầu của giai đoạn nuôi vỗ béo phải
được ăn khẩu phần ăn có mật độ CP thấp nhất là 12,5% để có thể cải thiện được
lượng VCK ăn vào và tăng trọng hàng ngày.
2.2.2.5. Ảnh hưởng của thiến
Theo Rodriguez-Voigt (1997) thì 70% thịt bò sản xuất ra tại Venezuela là từ
những con bò đực, và kỹ thuật thiến được sử dụng rộng rãi trong hệ thống chăn
nuôi đa mục đích của nước này. Việc thiến bò đực trước khi đưa vào vỗ béo cho
thấy có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng thịt xẻ (Rodriguez-Voigt, 1997). Nếu bò
đực được để nguyên không thiến cho tới khi trưởng thành, chúng sẽ sinh trưởng
14
nhanh hơn và cho nhiều nhiều thịt hơn, nhưng các sản phẩm thịt này đều ở mức
phẩm cấp thấp hơn, điều đầu tiên bởi lượng mỡ dắt thấp. Thời điểm thiến cũng
có ảnh hưởng đến độ mềm của thịt, với những con bò thiến sớm vào lúc cai sữa
có độ chấp nhận của người tiêu dùng cao hơn so với sản phẩm thịt từ những con
bò thiến muộn hơn. Hơn nữa, trong điều kiện nuôi nhốt những con bò không
thiến thường có tâm tính hung hăng hơn, điều này có thể là nguyên nhân của một
số vấn đề. Do vậy trên thế giới ngày nay đưa ra khuyến cáo cho việc thiến sớm ở
bò để cải thiện chất lượng thịt
2.2.2.6. Ảnh hưởng của cách quản lý tại lò mổ và phương pháp bảo quản sản
phẩm đến chất lượng thịt
Cảm nhận cảm quan về độ mềm của thịt được cho là nhân tố chính tác động
đến quyết định của người tiêu dùng trong việc mua hoặc tái mua thịt bò. Nhiều
nỗ lực nghiên cứu được thực hiện nhằm trực tiếp đánh giá ảnh hưởng của tác
nhân bên trong chuỗi hệ thống sản xuất thịt bò đến độ mềm của thịt, tất cả đều
đồng ý cho rằng phương pháp quản lý sau giết mổ có ảnh hưởng nhiều hơn đến
con bê lai chất lượng cao cung ứng cho các hộ đồng bào các dân tộc phát triển
chăn nuôi
Liên minh sản xuất bò thịt bền vững đã ra mắt tại huyện Ea Kar (Đăk Lăk)
với sự hỗ trợ của Dự án cạnh tranh nông nghiệp (ACP) Đăk Lăk: 106 hộ chăn
nuôi bò ở 6 xã của huyện Ea Kar, gồm Ea Kmut, Ea Đar, Xuân Phú, Ea Ô, Ea
Pal và Chư Nil cùng với Công ty TNHH Khánh Xuân liên kết để thành lập Liên
minh sản xuất bò thịt bền vững. Tổng giá trị đàn bò của các nông hộ này vào
khoảng 3,8 tỷ đồng. Công ty Khánh Xuân sẽ đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ hiện
16