yếu tố cạnh tranh và yếu tố pháp luật trong môi trường kinh doanh ngân hàng ở việt nam - Pdf 10

Yếu tố cạnh tranh và yếu tố pháp luật trong môi trờng kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam.
Mục lục.
Phần I. Lời mở đầu
2
Phần II. Phần nội dung
3
Chơng I: Cơ sở lý luận về môi trờng kinh doanh ngân hàng.

3
I. Khái niệm về môi trờng kinh doanh ngân hàng.

II. Những yếu tố ảnh hởng trong môi trờng kinh doanh ngân hàng.

Chơng II: Sự ảnh hởng của môi trờng kinh doanh đến hoạt động của các ngân hàng
thơng mại Việt Nam.

6
I. Khái quát về thực trạng môi trờng kinh doanh của các ngân hàng th-
ơng mại Việt Nam hiện nay.
1. Thuận lợi và thành tựu đạt đợc.

2. Những hạn chế còn tồn tại.

II. Sự ảnh hởng của yếu tố pháp luật và yếu tố cạnh tranh trong môi trờng
kinh doanh đến hoạt động của ngân hàng thơng mại Việt Nam hiện
nay.
1. Về yếu tố pháp luật.

2. Về yếu tố cạnh tranh.

Chơng III: Kiến nghị và giải pháp.

Việt Nam phải phân tích đợc môi trờng kinh doanh mà mình đang hoạt động
trong đó để biết đợc những thuận lợi và khó khăn để có một định hớng phát
triển đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân mỗi ngân
hàng nói riêng và của toàn hệ thống nói chung, góp phần giúp cho nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững.
Khi nghiên cứu về vấn đề môi trờng kinh doanh ngân hàng, có rất nhiều
yếu tố với mức độ ảnh hởng khác nhau. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết
này, chúng em chỉ xin trình bày hai yếu tố quan trọng nhất trong rất nhiều yếu
tố ảnh hởng đến môi trờng kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam hiện nay, đó là
yếu tố pháp luật và yếu tố cạnh tranh. Vì thời gian và vốn kiến thức có hạn,
bài viết này không thể tránh khỏi những thiếu sót, sự hớng dẫn và góp ý của
thầy sẽ giúp chúng em hoàn thành bài viết tốt hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn.
- 3 -
Yếu tố cạnh tranh và yếu tố pháp luật trong môi trờng kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam.
Phần nội dung.
Chơng I.
Cơ sở lý luận về môi trờng kinh doanh ngân hàng.
I. Khái niệm về môi trờng kinh doanh ngân hàng.
Môi trờng kinh doanh ngân hàng là tổng thể những yếu tố bao quanh ngân hàng, có
liên hệ và tác động tới hoạt động ngân hàng.
Môi trờng Marketing có thể đợc xác định nh là toàn bộ các chủ thể hoạt động bên
ngoài ngân hàng và các quan hệ hình thành giữa chúng và ngân hàng, tác động tới hoạt
động của lãnh đạo ngân hàng trong việc xác lập, duy trì các quan hệ lẫn nhau với khách
hàng. Khi nói về môi trờng Marketing, cần phân biệt khái niệm môi trờng vi mô và môi tr-
ờng vĩ mô.
Môi trờng vi mô là toàn bộ các quan hệ đợc hình thành trong nội bộ ngân hàng, giữa
ngân hàng và ngời trung gian, với đối thủ cạnh tranh, với khách hàng và với các chủ thể
khác.
Môi trờng vĩ mô là một khái niệm rộng, bao gồm các yếu tố tác động tới tất cả các

hàng nhng nó cũng cung ứng một số sản phẩm dịch vụ tơng tự nh sản phẩm dịch vụ của
ngân hàng, ví dụ nh họ cũng huy động tiền gửi có kì hạn, cung cấp các dịch vụ đầu t, Do
đó tính cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng cao hơn rất nhiều, bên cạnh việc cạnh tranh đối
với các tổ chức trong hệ thống ngân hàng, các tổ chức ngân hàng còn phải cạnh tranh với
các tổ chức phi ngân hàng.
2. Môi trờng vĩ mô.
2.1. Yếu tố dân số.
Yếu tố dân số trong sự ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm những
vấn đề tỷ lệ sinh đẻ, cơ cấu lứa tuổi dân c, giới tính , tuổi thọ trung bình, Tất cả những vấn
đề này đều rất quan trọng trong việc hoạch định chiến lợc kinh doanh của ngân hàng. Thí
dụ, nếu việc tăng tỷ lệ sinh đẻ dẫn tới trẻ hoá dân c, từ đó làm giảm nhu cầu về sản phẩm
ngân hàng, vì trẻ em hầu nh không có nhu cầu về sản phẩm ngân hàng.
2.2. Yếu tố kinh tế.
Yếu tố kinh tế là tất cả những biến số trong nền kinh tế nh tốc độ tăng trởng, tỉ lệ lạm
phát, thu nhập bình quân đầu ngời, lãi suất ngân hàng, Tất cả các nhân tố này phản ánh
một cách trung thực nhất về trạng thái sức khoẻ nền kinh tế và mức sống của dân c. Hoạt
động kinh doanh ngân hàng giữ vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, do đó nó bị ảnh hởng
nhiều bởi yếu tố này, luồng huyết mạch chỉ có thể lu chuyển tốt trong một cơ thể khoẻ
mạnh. Và hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng vậy, nó chỉ hoạt động có hiệu quả khi nền
kinh tế ổn định và tăng trởng, trong trờng hợp ngợc lại nó sẽ bị ảnh hởng tiêu cực.
2.3. Yếu tố pháp luật.
Thực chất, yếu tố pháp luật là tất cả những quy định pháp luật (gồm luật và các văn
bản dới luật) điều chỉnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đây là yếu tố quy định và
kiểm soát sự hoạt động của ngân hàng. Đặc biệt, trong nền kinh tế nớc ta, khi vẫn có sự
điều tiết của nhà nớc thì yếu tố này lại càng ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng nhiều hơn.
2.4. Yếu tố chính trị.
Yếu tố chính trị là tình hình an ninh chính trị ở thị trờng mà ngân hàng thực hiện hoạt
động kinh doanh. Yếu tố này rất quan trọng vì nó là tiền đề cho hoạt động kinh doanh ngân
hàng. Nh câu cửa miệng của giới kinh doanh là muốn xây đợc nhà thì phải tìm đợc đất tốt.

Khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam rũ bùn đứng dậy, bắt đầu hàn gắn vết thơng chiến
tranh và xây dựng kinh tế với một xuất phát điểm rất thấp. Sau hơn 20 năm nỗ lực khôi
phục kinh tế, với đờng lối đúng đắn của Đảng, ngày nay Việt Nam đang từng bớc xây
dựng, chuyển đổi, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trờng dới sự quản lý của nhà nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Một quãng thời gian cha dài so với khối lợng công việc
đồ sộ, bề bộn và vô cùng phức tạp của một quốc gia mà mọi thứ đều cần phải làm để xây
dựng một đất nớc phồn vinh, dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Riêng trong lĩnh vực ngân hàng, sau hơn một thập kỉ thực hiện chơng trình đổi mới
với sự giúp đỡ của ngân hàng thế giới, hệ thống ngân hàng đã đạt những thành tựu đáng
khích lệ. Có thể khái quát một số thành tựu nổi bật mà chúng ta đã đạt đợc trong những
năm qua nh sau:
Thứ nhất, về yếu tố cạnh tranh: Có thể nói tính cạnh tranh trên thị trờng ngân hàng
Việt Nam hiện nay hết sức khốc liệt, đặc biệt sau khi hiệp định thơng mại Việt-Mỹ chính
thức có hiệu lực (7/2000). Trên thị trờng ngân hàng Việt Nam hiện nay không chỉ có các
ngân hàng quốc doanh, ngân hàng cổ phần, mà còn có cả ngân hàng liên doanh và chi
nhánh ngân hàng nớc ngoài. Các ngân hàng này cạnh tranh nhau để giữ vững và mở rộng
thị phần cho riêng mình. Động lực cạnh tranh đó làm cho chất lợng hoạt động của hệ thống
ngân hàng có những tiến bộ rõ rệt. Các ngân hàng đua nhau tung ra các sản phẩm mới và
tìm mọi cách để cung ứng các dịch vụ ngân hàng một cách tốt nhất cho khách hàng. Cho
đến nay, chất lợng của sản phẩm và dịch vụ ngân hàng đợc nâng cao rõ rệt cả về số lợng và
chất lợng. Quả thật, ở đâu không có sự cạnh tranh ở đó không có sự phát triển.
Thứ hai, về yếu tố kinh tế: ít bị ảnh hởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính Châu á
bắt nguồn từ Thái Lan năm 1997 và cuộc suy thoái kinh tế mới đây của Mỹ, nền kinh tế
Việt Nam trong những năm gần đây ổn định và tăng trởng, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô đều
đạt và vợt dự kiến, trong đó có các chỉ tiêu tăng trởng của hệ thống ngân hàng. Nền kinh tế
ổn định và tăng trởng bền vững vô hình chung đã tạo thêm lòng tin cho các nhà đầu t, đặc
biệt là các nhà đầu t nớc ngoài. Điều này khiến ngân hàng phải đổi mới và hoàn thiện các
sản phẩm và dịch vụ của mình để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế và
nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Thứ ba, về yếu tố pháp luật: Chính phủ Việt Nam luôn thiện chí đa ra những chính

VCB-ATM, incombank-ATM, BIDV-ATM Hy vọng trong những năm gần đây thói quen
sử dụng thẻ thanh toán của ngời dân sẽ phổ biến hơn.
Thêm một thành tựu không thể không kể đến đó làviệc ngân hàng nhà nớc Việt
Nam ngày 15/7 vừa qua đã tổ chức trọng thể lễ khai trơng hệ thống thanh toán điện tử liên
ngân hàng. Sự kiện này đợc coi là bớc đột phá quan trọng trong việc đổi mới công nghệ
thanh toán ở Việt Nam. Việc đa hệ thống này vào hoạt động đã giúp cho các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán cũng nh khách hàng của họ sử dụng tối đa nguồn vốn, tăng nhanh
vòng quay vốn, đáp ứng yêu cầu thanh toán nhanh, an toàn và chính xác.
Việc áp dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh ngân hàng là yếu tố mang tính
chất sống còn trong bối cảnh hiện nay, khi tốc độ đổi mới hệ thống công nghệ thông tin
đang diễn ra hết sức nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới. Đây chính là phơng tiện để
các ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh của mình hiệu quả nhất.
Thứ năm, về yếu tố văn hoá xã hội: Việt Nam là một nớc có trình độ dân trí tơng
đối cao, ngời dân nhanh chóng thích ứng với những thành tựu khoa học mới. Mặt khác, nớc
ta đợc đánh giá là một trong những nớc có tình hình chính trị ổn định nhất thế giới. Điều
này cũng gián tiếp ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vì ngân hàng hoạt
động theo phơng châm đi vay để cho vay, nếu ngời dân không có thói quen hay vì một lí do
- 8 -
Yếu tố cạnh tranh và yếu tố pháp luật trong môi trờng kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam.
nào đó không hiểu đợc những lợi ích của sản phẩm dịch vụ ngân hàng thì kết quả là hoạt
động ngân hàng sẽ không tận dụng đợc hết nguồn lực. Mà trong nền kinh tế thị trờng thì ai
sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn ngời đó sẽ có cơ hội sử dụng nguồn lực đó nhiều hơn.
Nh vậy, tuy vẫn còn là bớc đầu nhng những thành tựu mà hệ thống ngân hàng Việt
Nam đạt đợc trong thời gian qua là rất đáng khích lệ.
2. Những hạn chế còn tồn tại.
Việt Nam đang vận hành nền kinh tế mở trong xu thế hội nhập quốc tế ở mức tiếp cận
ban đầu, còn nhiều bỡ ngỡ, bất cập về cơ chế, môi trờng, kỹ thuật công nghệ, trình độ,
kinh nghiệm quản lý và điều hành nền kinh tế.
Trớc hết, về tiềm lực tài chính. Tiềm lực tài chính của các ngân hàng thơng mại
Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế. Cụ thể là bốn ngân hàng thơng mại quốc doanh, vốn là

- 9 -
Yếu tố cạnh tranh và yếu tố pháp luật trong môi trờng kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam.
Thứ t, về công nghệ hiện đại, trình độ kinh doanh tiên tiến, sản phẩm kinh
doanh đa dạng Có thể nói, về khía cạnh này hệ thống ngân hàng Việt Nam còn thua kém
rất xa các ngân hàng khác trên thế giới. Sau nhiều năm hoạt động theo mô hình ngân hàng
truyền thống dới cơ chế bao cấp của Nhà nớc, cơ sở vật chất của hệ thống ngân hàng Việt
Nam còn hạn chế, công nghệ hiện đại mới đợc ứng dụng. Do vẫn còn trong giai đoạn đầu
nên các công nghệ mới này vẫn còn nhiều bất cập và hiệu quả cha cao.
Tóm lại, nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam cũng nh các công cụ, phơng thức hoạt
động, cơ chế, luật pháp chung về hoạt động kinh doanh và liên quan đến môi trờng kinh
doanh ngân hàng còn ở mức sơ khai, đang dần hình thành.
II. Sự ảnh hởng của yếu tố pháp luật và yếu tố cạnh tranh trong môi trờng kinh
doanh đến hoạt động của ngân hàng thơng mại Việt Nam hiện nay.
Nh đã đề cập ở trên, các yếu tố trong môi trờng kinh doanh không ảnh hởng độc lập
mà chúng có quan hệ tơng tác với nhau. Khi phân tích sự ảnh hởng của yếu tố pháp
luật( yếu tố vĩ mô) và yếu tố cạnh tranh (yếu tố vi mô), ta không thể tách rời sự ảnh hởng
của hai yếu tố này mà phân tích chúng trong mối quan hệ tơng tác đó.
1. ảnh hởng của yếu tố pháp luật tới hoạt động ngân hàng.
Có thể nói, pháp luật có ảnh hởng rất lớn tới hoạt động của các tổ chức kinh tế nói
chung và của các ngân hàng nói riêng. Yếu tố vĩ mô này nằm ngoài sự kiểm soát của ngân
hàng nên ngân hàng không thể thay đổi mà phải chủ động nghiên cứu để hớng hoạt động
kinh doanh phù hợp. Hai thập kỷ qua, trong một nền kinh tế với thị trờng tài chính mở, nếu
các chính sách không lành mạnh, thiếu ổn định, các qui định quản lí không hợp lí có thể
gây nên những biến động kinh tế, từ đó nảy sinh tình trạng bất ổn của các dòng vốn. Pháp
luật là yếu tố trực tiếp qui định và kiểm soát sự hoạt động của ngân hàng, các qui định, văn
bản pháp luật mà chính phủ ban hành có ảnh hởng rất lớn tới môi trờng kinh doanh của
ngân hàng.
ở Việt Nam, ngày 06/5/1951, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Săc lệnh số
15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, chính thức khai sinh một
nghành kinh tế rất trọng yếu của nớc nhà. Đây thực sự là một bớc ngoặt lịch

NHTM cổ phần đô thị, trong đó giải thể 2 ngân hàng, sáp nhập, hợp nhất và
mua lại 1 ngân hàng, xuống hạng 2 ngân hàng. Bên cạnh đó còn 3 NHTM cổ
phần khác không còn hoạt động trong thực tế đang đợc NHNN làm thủ tục thu
hồi giấy phép. Việc sắp xếp lại nh trên nhằm xoá bỏ những yếu kém của các
ngân hàng này nh tỉ lệ nợ quá hạn cao, kinh doanh thua lỗ kéo dài, dính líu
nhiều vụ án lớn Đến nay, có 21 NHTM cổ phần đang hoạt động, trong đó
có 19 NHTM đã tăng đủ vốn điều lệ theo qui định của chính phủ tại Nghị định
82/NĐ-CP, còn lại 2 NHTM đợc phép gia hạn thêm thời gian. Cùng với những
chấn chỉnh này, NHNN đã đi những bớc cơ bản trong chơng trình cơ cấu lại
hệ thống NHTM cổ phần, góp phần nâng cao chất lợng hoạt động của các
ngân hàng.
Thứ hai, nói tới cơ chế lãi suất: trớc đây NHNN quy định lãi suất cơ
bản, điều này bó hẹp các hoạt động của ngân hàng trong biên độ dao động cho
phép dẫn đến hiệu quả kinh doanh cha tối u. Gần đây, NHNN đã chính thức
cho phép các NHTM áp dụng lãi suất thoả thuận. Có thể nói, cơ chế này đã có
tác động tích cực đến hoạt động huy động vốn và cho vay của các TCTD. Lấy
con số cụ thể của địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong quí 3-2002: lãi suất
huy động VNĐ của các TCTD có xu hớng tăng, lãi suất tiết kiệm ở các kì hạn
- 11 -
Yếu tố cạnh tranh và yếu tố pháp luật trong môi trờng kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam.
tăng từ 0,02-0,07%. Lãi suất cho vay ngắn hạn hiện từ 0,64-1,2%/tháng, tăng
từ 0,02-0,1% so với đầu quí.
Thứ ba, nói tới quyết định của NHNN thúc đẩy tự do hoá thị trờng tài
chính nhằm tăng quyền tự chủ kinh doanh theo hớng hội nhập của hệ thống
ngân hàng: Từ ngày 1/7/2002, Thống đốc NHNN đã quyết định nới rộng biên
độ giao dịch mua bán ngoại tệ của các TCTD lên 0,25% so với mức 0,1% tr-
ớc đó với nghiệp vụ giao ngay, lên 0,5% so với mức 0,4% của nghiệp vụ giao
dịch kì hạn 30 ngày Việc điều chỉnh tăng này đáp ứng đ ợc yêu cầu của
TCTD cũng nh các doanh nghiệp có nhu cầu mua bán ngoại tệ với các ngân
hàng, không bị gò bó trong khuôn khổ chật hẹp nh trớc đây. Quyết định này

thay đổi môi trờng đầu t có thể gây ra lạm phát, mất ổn định kinh tế ảnh h -
ởng tới kết quả kinh doanh. Để có thể hiểu rõ hơn, một số ví dụ dới đây cho
thấy tác động tiêu cực của hệ thống pháp luật.
Xem xét một qui định trong luật các TCTD: một NHTM không đợc cho
một khách hàng vay vốn vợt quá 15% số vốn điều lệ, nếu vợt phải đợc phép
của chính phủ. Do đó, khi dự án có nhu cầu vay lớn của các tổng công ty nh
Dầu khí, Bu chính viễn thông, Hàng không, Điện lực, Hàng hải có trị giá từ
trên 12 triệu USD và trên 25 triệu USD(tơng đơng trên 165 tỉ VNĐ và trên 330
tỉ VNĐ) thì một NHTM QD không đủ sức cho vay, phải đồng tài trợ, nhng lại
mắc phải qui định không thể đồng tài trợ cho nhiều dự án của một tổng công
ty cộng lại. Hơn nữa, việc đồng tài trợ không phải đã suôn sẻ bởi các NHTM
không phải luôn sẵn sàng hợp tác với nhau. Đây chính là một điều bất cập.
Một ví dụ khác về Nghị định bảo đảm tiền vay: Hiện nay, các NH có
nhiều quyền hơn, trong đó có quyền tự chịu trách nhiệm về việc cho vay có
hay không có tài sản bảo đảm (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh ) nh ng trong thực
tế còn nhiều vớng mắc gây cản trở quá trình mở rộng cho vay vốn phát triển
sản xuất. Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm và bảo
đảm tiền vay còn quá phức tạp chồng chéo, trong đó có lỗi cơ quan nhà nớc.
Điều đó khiến cho ngân hàng thơng mại vẫn giống tiệm cầm đồ. Đó là do sự
điều chỉnh của khá nhiều các nghị định nh nghị định 165, nghị định 178 ;
việc áp dụng cha đầy đủ các qui định pháp luật trong các ngành; sự rờm rà
trong thủ tục
Còn rất nhiều các ví dụ khác trong các qui định mang ngoại tệ ra nớc
ngoài phải khai báo, qui định tỉ lệ kết hối, qui định về tỉ lệ dự trữ bắt buộc
tiền gửi ngoại tệ thể hiện những bất lợi mà hoạt động ngân hàng có thể gặp
phải do những tác động của pháp luật.
Tuy nhiên bên cạnh yếu tố vĩ mô là pháp luật thì hoạt động ngân hàng còn chịu tác
động của yếu tố vi mô nh đối thủ cạnh tranh, khách hàng Phần d ới đây sẽ trình bày rõ
hơn về tác động của cạnh tranh tới hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
2. Yếu tố cạnh tranh tác động tới hoạt động ngân hàng.

thiện đáng kể. Và chắc chắn sự tham gia bình đẳng của các ngân hàng nớc ngoài trong việc
huy động vốn sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ tiết kiệm nội địa của Việt Nam vốn đang ở mức
rất thấp (21% GDP) so với các nớc trong khu vực (Trung Quốc 42%, Malaysia 48%,
Thái Lan 41%.) Cạnh tranh sẽ trở thành động lực cho việc cải cách triệt để cũng nh củng
cố sức mạnh hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, tất yếu sẽ có ngân hàng không vơn lên đợc dẫn
tới thua lỗ, phải phá sản hoặc sáp nhập. Nhng bên cạnh đó, sẽ nổi lên những ngân hàng
thành công, thực sự hoạt động có hiệu quả, có khả năng cạnh tranh không chỉ ở thị trờng
trong nớc mà cả thị trờng quốc tế. Do đó, mỗi ngân hàng phải phát huy thế mạnh và khắc
phục điểm yếu để có thể giữ vững thế đứng của mình trên thị trờng. Để làm điều này, mỗi
ngân hàng phải không ngừng nỗ lực tung ra các sản phẩm dịch vụ mới, an toàn, tiện lợi,
chính sách giá phù hợp, công nghệ tiên tiến, thái độ phục vụ nhiệt tình
Hiện nay, bên cạnh các sản phẩm truyền thống, các ngân hàng đang đua nhau đa ra
các sản phẩm mới nh cho vay du học sinh, mở tài khoản nội bộ trả lơng cho cán bộ công
nhân viên trong các doanh nghiệp, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, cho thuê ngăn tủ sắt,
- 14 -
Yếu tố cạnh tranh và yếu tố pháp luật trong môi trờng kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam.
Điều này đợc đề cập chi tiết hơn qua bảng danh mục sản phẩm của các ngân hàng thơng
mại Việt Nam dới đây:
STT Các sản phẩm.
Các
ngâ
Các
ngân
VC
B
BID
V
VBAR
D

Bên cạnh việc cạnh tranh về sản phẩm, các ngân hàng còn cạnh tranh về mức lãi suất.
Cùng một loại sản phẩm nhng các ngân hàng khác nhau đa ra những mức lãi suất và cách
tính phí khác nhau. Nh đã biết, chiến lợc giá là một trong những chiến lợc Marketing quan
trọng, nó quyết định sự lựa chọn tiêu dùng của khách hàng. Xuất phát từ các cấp độ của
sản phẩm, các ngân hàng khai thác phần bổ sung để tạo ra sự khác biệt và hấp dẫn cho sản
phẩm của mình. Có thể lấy ví dụ về việc NH công thơng Việt Nam phát hành trái phiếu cho
các đối tợng trong moị tầng lớp. Để thu hút khách hàng, bên cạnh mức lãi suất cạnh tranh
hấp dẫn, NHCT còn đa ra các u đãi nh trả lãi hàng năm, tự do chuyển nhợng, cho tặng, có
thể thanh toán tại mọi chi nhánh của NHCT và các loại quà tặng khi sử dụng dịch vụ
khiến sản phẩm của ngân hàng có sức hấp dẫn.
- 15 -
Yếu tố cạnh tranh và yếu tố pháp luật trong môi trờng kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam.
Có thể nói, khi tin học phát triển mạnh mẽ ở nớc ta thì cũng là lúc các ngân hàng đua
nhau áp dụng các loại công nghệ mới để đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tăng cờng chất lợng
dịch vụ. Việc các ngân hàng nối nhau đa vào dịch vụ ATM không chỉ có ý nghĩa một điểm
thanh toán hiện đại ra đời mà thực sự ngời dân Việt Nam đã đợc tiếp cận với một loại hình
mới một ngân hàng thu nhỏ di động. Còn rất nhiều các ví dụ có thể đa ra nh dịch vụ
home banking của ACB, dịch vụ online-banking của VCB cho thấy tác động hết sức
quan trọng của công nghệ thông tin tới sức cạnh tranh của các ngân hàng hiện nay.
2.3- Cạnh tranh giữa ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng.
Đây có thể coi là một đặc điểm tất yếu khi các tổ chức kinh tế có xu hớng đa dạng
hoá danh mục đầu t nhằm phân tán rủi ro và khai thác triệt để các tiềm năng của mình. Tại
Việt Nam, hiện nay các ngân hàng không chỉ gặp phải sự cạnh tranh từ nội bộ ngành ngân
hàng mà còn đối mặt với sức ép ngày càng tăng từ các tổ chức phi ngân hàng nh bảo hiểm,
bu điện, công ty chứng khoán Với sự xuất hiện của một loạt các dịch vụ mới nh tiết kiệm
bu điện, chuyển tiển nhanh, bảo hiểm nhân thọ , các tổng công ty lớn của Việt Nam nh B-
u chính viễn thông, bảo hiểm đã từng bớc tham gia vào thị trờng của các ngân hàng.
Trong khi các tổ chức ngân hàng phải thực hiện một loạt các nghĩa vụ nh quỹ dự trữ
bắt buộc, quỹ đảm bảo khả năng thanh toán thì các tổ chức phi ngân hàng đợc miễn nghĩa
vụ này, điều này cho phép các tổ chức phi ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ của

rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung.
- Xây dựng các cơ chế về thơng mại điện tử, thanh toán điện tử trong phạm vi nền
kinh tế nói chung và đối với ngân hàng nói riêng.
- Xây dựng và sớm đa các công cụ giấy tờ có giá vào thơng trờng hoạt động, cơ
chế tổ chức thanh toán bù trừ các tài sản tài chính( giấy tò có giá) trong phạm vi toàn quốc
cũng nh giữa các tổ chức TC-TT để các ngân hàng nội địa có điều kiện thực nghiệm cơ chế
mới, chuẩn bị cho bớc hội nhập theo lộ trình cam kết.
- Mạnh dạn và kiên quyết xây dựng cơ chế mở rộng quyền và tự chịu trách nhiệm
của các NHTM nội địa và triển khai trong thực tế để có điều kiện cọ sát, trởng thành.
- Xây dựng cơ chế về tăng vốn tự có, tăng vốn tích luỹ, tăng cờng đầu t kĩ thuật,
công nghệ tiên tiến hiện đại cho các ngân hàng đủ sức cạnh tranh tự do, bình đẳng trên th-
ơng trờng.
- Ngoài ra, các văn bản, luật pháp có liên quan khác nh luật đầu t, luật đất đai,
luật phá sản, luật xử phạt vi phạm pháp luật cũng cần hoàn thiện theo yêu cầu mới.
Tóm lại, việc tạo môi trờng pháp lí cho hoạt động ngân hàng là hết sức cấp bách,
không thể trì hoãn.
2. Về vấn đề cạnh tranh.
Có thể thấy rất rõ hiện nay các NHTM QD tuy có đợc u thế nhờ sự hỗ trợ của nhà nớc
nhng vẫn thể hiện những bất cập do năng lực tài chính có hạn, khả năng kinh doanh và
quản lí cha năng động, cha đáp ứng nhu cầu mới. Một số giải pháp dới đây cũng chính là h-
ớng đi mà một số ngân hàng nh VCB, ACB đã và đang triển khai:
- Thu hút khách hàng- Đầu t đúng hớng: Cần chú trọng đến công tác tiếp thị,
thâm nhập vào thị trờng mới (các doanh nghiệp mới thành lập, việt kiều ) để xã hội hoá
hoạt động tín dụng của ngân hàng. Không chỉ quan tâm tới các công trình kinh tế trọng
điểm của Nhà nớc mà cần có sự chú ý thích đáng tới địa bàn rộng hơn ở các tỉnh, thành phố
mới chia tách.
- Đầu t khoa học công nghệ mới: Để nhanh chóng bắt kịp tốc độ phát triển tài
chính ngân hàng trên thế giới và trong khu vực, ngành ngân hàng Việt Nam cũng cần đầu t
đổi mới công nghệ, đi tắt đón đầu, ứng dụng thành tựu mới để hoạt động kinh doanh có
hiệu quả

3- Marketing cơ bản- Trờng ĐH Kinh tế quốc dân.
4- Tạp chí Ngân hàng tháng 10-1999; tháng 2, 6,9-2002; Chuyên đề số 1+2-2002.
5- Thời báo Kinh tế thế giới.
6- Thời báo ngân hàng.
7- Thời báo kinh tế.
8- Tạp chí nghiên cứu khoa học ngân hàng.
9- Báo Nhân dân năm 2002.
- 20 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status