định mức kỹ thuật lao động là cơ sở của tổ chức lao động khoa học - Pdf 10


Lời mở đầu
Nh chúng ta đã biết quy luật kinh tế quan trọng hàng đầu là quy luật tiết kiệm
thời gian. Quy luật này có liên quan trực tiếp tới tổ chức lao động khoa học, mặt khác
một trong những nhiệm vụ quan trọng của tổ chức lao động khoa học là tiết kiệm thời
gian làm việc. Những hao phí lao động cần thiết để hoàn thành công việc hoặc chế tạo
sản phẩm phù hợp với điều kiện tổ chức và kỹ thuật nhất định đã đợc thể hiện trong
các mức. Chính sự thể hiện đó đã làm cho định mức lao động có liên quan chặt chẽ với
tổ chức lao động khoa học. Hơn thế nữa, xét theo những phơng hớng cụ thể của tổ
chức lao động khoa học thì định mức kỹ thuật lao động có vai trò hết sức quan trọng vì
nhờ định mức kỹ thuật lao động mà có thể áp dụng những nội dung của tổ chức lao
động khoa học vào thực tế. Việc lựa chọn và áp dụng trong thực tế những dự án của
bất cứ phơng hớng tổ chức lao động khoa học nào cũng không thể thực hiện đợc nếu
không có các mức lao động tơng ứng, phù hợp với những điều kiện tổ chức kỹ thuật
nhất định.
Định mức lao động tạo khả năng kế hoạch hoá tốt hơn bảo đảm thực hiện có
hiệu quả nhất việc tính toán xác định số lợng máy móc thiết bị và số lợng lao động cần
thiết, khuyến khích sử dụng nguồn dự trữ trong sản xuaat. Nhng định mức lao động chỉ
có tác dụng thực sự tới việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế xã hội trong điều kiện các
xí nghiệp đã áp dụng các mức có căn cứ khoa học, tức là các mức đã tính đến những
nhân tố xã hội tâm sinh lý, nhân tố kinh tế và tổ chức kỹ thuật tối u. Những mức nh thế
sẽ định hớng và thúc đẩy công nhân vơng tới những kết quả lao động cao nhất trong
những điều kiện sản xuất nhất định.
Công tác tổ chức lao động khoa học là một vấn đề hết sức quan trọng trong các
doanh nghiệp hiện nay, tuy nhiên công tác này trong thời gian hiện nay không đợc đặt
vào đúng vị trí vốn có của nó .Định mức kỹ thuật lao động là một nội dung quan trọng
của tổ chức lao động khoa học. Định mức kỹ thuật lao động là cơ sở để thực hiện các
1

nội dung khác của công tác tổ chức lao động khoa học, muốn thực hiện tốt công tác tổ
chức lao động khoa học thì công việc định mức kỹ thuật lao động phải thực hiện chính

Các khái niệm, nhiệm vụ, nội dung và các vấn đề liên
quan tới định mức kỹ thuật lao động trong doanh nghiệp
05
I. Khái niệm định mức kỹ thuật lao động
05
II. Nhiệm vụ, nội dung của định mức kỹ thuật lao động trong
doanh nghiệp
06
III. Phân loại mức lao động, kết cấu hao phí thời gian làm việc, kết
cấu mức kỹ thuật thời gian, sự phân chia quá trình sản xuất ra các
bộ phận hợp thành
08
1. Phân loại mức lao động 08
2. Kết cấu hao phí thời gian làm việc, kết cấu mức kỹ thuật thời gian
a. Kết cấu hao phí thời gian làm việc.
b. Kết cấu mức kỹ thuật thời gian.
09
09
11
3. Sự phân chia quá trình sản xuất ra các bộ phận hợp thành. 14
IV. Các hình thức nghiên cứu khảo sát thời gian làm việc
17
1. Chụp ảnh thời gian làm việc.
a. Chụp ảnh cá nhân ngày làm việc.
b. Chụp ảnh cá nhân ngày làm việc.
c. Tự chụp ảnh công việc.
d. Chụp ảnh thời điểm.
17
18
18

I. Khái niệm định mức kỹ thuật lao động.
Theo nghĩa hẹp định mức kỹ thuật lao động là những chỉ tiêu xác định mức cho
các loại công việc, xây dựng các chỉ tiêu nhằm đạt mức phù hợp các loại công
việc.Theo nghĩa rộng đây là một công việc, công tác, quá trình dự tính tổ chức các
công việc đó có năng suất lao động cao trên cơ sở đó xác định mức tiêu hao để thực
4

hiện xác định công việc. Nói cách khác đây là lĩnh vực hoạt động thực tiễn về xây
dựng và áp dụng các mức lao động đối với tất cả các quá trình lao động.
Định mức lao động chịu tác động của các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Mặt khác, trong nền sản xuất xã hội định mức lao động cũng thực hiện nhiều chức
năng quan trọng khác nhau. Hiệu quả của nó tuỳ thuộc vào mức độ và tính chất tiên
tiến, có căn cứ khoa học của các mức lao động cụ thể. Định mức lao động tạo khả
năng kế hoạch hoá tốt hơn bảo đảm thực hiện có hiệu quả nhất việc tính toán xác định
số lợng máy móc thiết bị và số lợng lao động cần thiết, khuyến khích sử dụng nguồn
dự trữ trong sản xuất, nhng định mức lao động chỉ có tác dụng thực sự tới việc giải
quyết các nghiệm vụ kinh tế xã hội trong điều kiện các tổ chức đã áp dụng các mức có
căn cứ khoa học tức là các mức đã tính đến những nhân tố xã hội, tâm sinh lý nhân tố
kinh tế và tổ chức kỹ thuật tối u. Những mức nh thế sẽ định hớng và thúc đẩy công
nhân vơn tới những kết quả lao động cao nhất trong những điều kiện sản xuất nhất
định.
Mức lao động không chỉ dựa vào những tài liệu kỹ thuật, mà còn phải tính đến
yếu tố sức khỏe của con ngời trong quá trình lao động. Bởi vì, hiệu quả lao động phụ
thuộc đồng thời vào yếu tố kỹ thuật và yếu tố con ngời, hơn thế nữa có phụ thuộc vào
những điều kiện mà ở đó con ngời tiến hành công việc. Từ đó, các mức lao động cần
phải tính đến các căn cứ kỹ thuật, tổ chức, kinh tế các yếu tố tâm sinh lý và những
kinh nghiệm tiên tiến trong sản xuất. Căn cứ tổ chức đó là những phơng pháp tổ chức
sản xuất và tổ chức lao động tiên tiến đợc thể hiện trong năm. Căn cứ kinh tế đợc thể
hiện ở sự phân tích, đánh giá mức độ ảnh hởng của các mức lao động tới năng suất,
chất lợng và giá thành sản phẩm căn cứ tâm sinh lý đợc khẳng định thông qua việc lựa

nhiều hiệu quả hơn, cải thiện các điều kiện lao động , hợp lý hoá các phơng pháp và
thao tác lao động. Các quá trình sản xuất khác nhau, có yêu cầu tổ chức và phục vụ
nơi làm việc khác nhau. Cần nhận biết những đặc điểm khác nhau của các nơi làm việc
khác nhau của các nơi làm việc để phục vụ nơi làm việc để tổ chức và phục vụ hợp lý
cho từng loại nơi làm việc khác nhau. Tổ chức nơi làm việc bao gồm: trang bị và bố trí
6

nơi làm việc và tuỳ thuộc vào đặc điểm, nội dung của lao động; điều kiện lao động
thuận lợi hay không thuận lợi; trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động; ngành và loại
hình sản xuất mà nội dung trang bị cho nơi làm việc cũng khác nhau. Căn cứ vào trình
độ nơi làm việc, có thể đánh giá đợc trình độ phát triển của sản xuất. Chính vì vậy mà
tổ chức phục vụ nơi làm việc là một nội dung hết sức quan trọng của định mức kỹ
thuật lao động.
- Tiến hành khảo sát xác định các loại thời gian hao phí và nguyên nhân
những lãng phí, nhằm xây dựng các mức và tiêu chuẩn lao động. Sử dụng các biện
pháp khảo sát thời gian làm việc mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau ta xác định các loại
thời gian trong quá trình làm việc của ngời công nhân mà từ đó tính toán xác định
những thời gian lãng phí để xem đó là thời gian lãng phí do công nhân hay lãng phí do
tổ chức hoặc do nguyên nhân nào khác dựa vào những loại hao phí thời gian làm việc
mà ta đã nghiên cứu ở trên và có biện pháp khắc phục tình trạng lãng phí thời gian làm
việc này của công nhân.
- Đa các mức tiêu chuẩn đợc xây dựng vào thực hiện trong sản xuất, thờng
xuyên theo dõi tình hình thực hiện mức, điều chỉnh những mức sai, mức lạc hậu. Đây
là nội dung xây dựng và thực hiện đa mức lao động vào thực tế sản xuất từ sản xuất
thực tế đó mà rút ra những thiếu sót của mức và có những biện pháp khắc phục để tạo
ra những mức lao động đúng đắn, phù hợp với thực tế, nội dung này của công tác định
mức kỹ thuật lao động chính là liên quan tới vấn đề quản lý mức mà ta cũng nghiên
cứu ở phần sau.
III. Phân loại mức lao động, kết cấu hao phí thời gian
làm việc, kết cấu mức kỹ thuật thời gian, sự phân

con gia súc ) đợc quy định để một hay một nhóm công nhân phải phục vụ trong
những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định. Mức phục vụ là đại lợng nghịch đảo của
8

mức thời gian phục vụ. Mức phục vụ thờng đợc áp dụng trong kd kết quả sản xuất
không đo đợc bằng những số đo tự nhiên (chiếc , cái) và áp dụng đối với công nhân
phụ
Mức biên chế (mức định biên mức định viên mức số lợng ngời làm việc )
là số lợng ngời lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp đợc quy định chặt chẽ để thực
hiện một khối lợng công việc cụ thể trong một bộ máy quản lý nhất định.
Mức tổng hợp là lợng lao động quy định cho các loại công nhân viên trong
doanh nghiệp để hoàn thảnh một đơn vị sản phẩm.
Mức thời gian, trong thực tế là cơ sở xuất phát để tích ra các loại mức khác vì
thời gian làm việc là thớc đo lao động nói chung và về nghuyên tắc định mức kỹ thuật
lao động xác định mức hao phí thời gian cần thiết để hoàn thành công việc này hay
công việc khác. Mức thời gian cho công việc làm bằng tay, hay vừa làm bằng tay vừa
làm bằng máy , hoặc các công việc băng máy đều bao gồm: thời gian tác nghiệp
(chính và phụ), thời gian phục vụ nơi làm việc (phục vụ kỹ thuật, phục vụ tổ chức ),
thời gian chuẩn bị và kết thúc, thời gian ngừng do yêu cầu công nghệ và tổ chức sản
xuất , thời gian nghỉ ngơi do nhu cầu cá nhân ngời lao động.
2. Kết cấu hao phí thời gian làm việc, kết cấu mức kỹ thuật
thời gian.
a. Kết cấu thời gian làm việc.
Thời gian chuẩn kết là thời gian hao phí để thực hiện các công việc chuẩn bị và
kết thúc cho một quá trình làm việc (ví dụ nh nhận nhiệm vụ, nhận dụng cụ nguyên vật
liệu, nghiên cứu bản vẽ hoặc tài liệu hớng dẫn sản xuất) ký hiệu T
ck
.
Thời gian tác nghiệp là độ dài thời gian hao phí để thực hiện những tác động
trực tiếp làm thay đổi đối tợng, thời gian tác nghiệp bao gồm thời gian tác nghiệp

Nh các sơ đồ nêu trên trong mức kỹ thuật thời gian chỉ tính thời gian cần thiết
hoàn thành nhiệm vụ sản xuất khác với kết cấu thời gian làm việc bao gồm thời gian
chuẩn kết, thời gian tác nghiệp, thời gian phục vụ, thời gian nghỉ ngơi và nhu cầu cần
thiết.
Trong mức kỹ thuật thời gian không tính các loại thời gian lãng phí (lãng phí
không trông thấy và lãng phí trông thấy) không tính thời gin phụ và thời gian phục vụ
10

trùng lặp với thời gian chính. Thời gian nghỉ ngơi đợc tính toán theo các yếu tố gây
mệt mỏi ảnh hởng đến khả năng lao động của ngời công nhân. nếu có những thời gian
công nhân ngừng làm việc theo yêu cầu của công nghệ phân bố đều đặn trong ca thì
thời gian bày đợng tính vào thời gian nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ ngơi thờng đợc quy
định theo tỉ lệ phần trăm so với thời gian tác nghiệp. Trong các bớc công việc thủ
công, thời gian nghỉ ngơi thờng đợc tính theo tỉ lệ phần trăm so với thời gian ca làm
việc.
Thời gian nghỉ do nhu cầu cần thiết có thể quy định thành đại lợng tuyệt đối tuỳ
thuộc vào điều kiện giải quyết các nhu cầu sinh lý của công nhân.
Nh vậy ta nhận thấy rằng kết cấu thời gian làm việc khác với kết cấu mức kỹ
thuật thời gian. Mức kỹ thuật thời gian không tính thời gian hao phí trong quá trình
làm việc đồng thời dựa vào bảng 2 ta nhận thấy rằng:
- Mức thời gian :
M
tg
=
SLTP
T
M
tg
: Mức thời gian.
T : Thời gian làm việc trong ngày.

n
T
n
ck

1
Với -

ck
T
: là thời gian chuẩn kết của cả loạt sản phẩm.
- n : là số lợng sản phẩm của một loạt.
Tuỳ thuộc vào loại hình sản xuất khác nhau, công thức tính mức thời gian một
sản phẩm cũng khác nhau.
Trên cơ sở mức thời gian ta tính đợc mức sản lợng trong một ca làm việc (T
sl
):
T
sl
=
dd
ca
T
T
=
kd
ckca
T
TT


) + T
c
.a%T
pvkt
Trong loại hình sản xuất hàng loạt
12
M
tg
=
n
T
ck

+ T


T

= T
tn
. (1 + a%T
pv
+ a%T
nc
)
Trong loại hình sản xuất nhỏ
T
đđ
= T
ck

Đơn vị tính mức thời gian trong mức sản lợng là 1 giờ hoặc 1 ca làm việc.
Với loại hính sản xuất hang khối.
(sản phẩm/ca)
Hoặc
M
SL
=
)1(
)(
spT
caT
tn
tn
Với T
tn
(ca) : là do chụp ảnh thu đợc.
T
tn
(1sp) : là do bấm giờ thu đợc.
13
M
SL
=
kdd
ckca
T
TT

Tóm lại mức sản lợng càng cao thì mức thời gian càng thấp và ngợc lại. Nh vậy,
giữa mức thời gian và mức sản lợng có sự phụ thuộc nghịch đảo. Mối quan hệ phụ

uất
Quá trình bộ phận
Bớc công việc
Thao tácGiai đoạn chuyển tiếp
Mặt lao động

Bảng 3. Sự phân chia quá trình sản xuất ra các bộ phận
hợp thành.
Quá trình sản xuất trớc hết đợc phân chia ra thành các quá trình sản xuất bộ
phận. Quá trình sản xuất bộ phận đợc hiểu là bộ phận đồng nhất và kết thúc về phơng
diện công nghệ của quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất bộ phận có thể là quá trình
công nghệ để chế tạo sản phẩm, cũng có thể là quá trình quá trình công nghệ để chế
tạo sản phẩm, cũng có thể là quá trình phục vụ sản xuất. Trong các quá trình công
nghệ để chế tạo sản phẩm, cũng có thể là quá trình phục vụ sản xuất. Quá trình sản
xuất bộ phận lại đợc phân chia thành các bớc công việc ví dụ: quá trình gia công cơ
khí một chiếc trục bao gồm các bớc công việc nh sau: tiện, phay, khoan, mài.
Bớc công việc là một phần của quá trình sản xuất , bao gồm các công việc kết
tiếp nhâu đợc thực hiện bởi một hay một nóm công nhân trên một đối tợng lao động
nhất định tại một nơi làm việc nhất định. Sự cố định về đối tợng lao động ngời công
nhân và nơi làm việc là đạc trng cơ bản của bớc công việc. Thay đổi một trong bao yếu
tố đó sẽ tạo thành bớc công việc mới. Sự phân chia quá trình sản xuất thành bớc công
việc là sơ sở để phân phối hợp lý công việc giữa những ngời thực hiện, để tổ chức và
kế hoạch hoá lao động đúng đắn, để tính đến kết quả hoạt động lao động của công
nhân, nhờ có sự phân chia quá trình sản xuất thành các bớc công việc trên mỗi bớc
công việc xác định đợc hao phí lao động , do đó có thể tính đợc lợng lao động hao phí
15

của toàn bộ quá trình sản xuất. Đặc điểm của các bớc công việc là tổ hợp khi tiến hành
thì toàn bộ khối lợng nguyên liệu đợc đa vào tổ hợp máy, đều đợc gia công ngay một
lần với công nghệ không thay đổi. Bớc công việc chính là đối tợng của định mức kỹ

việc.
Mục đích chung của việc khảo sát là : Nghiên cứu những hao phí thời gian làm
việc thực tế của công nhân và thiết bị trên cơ sở đó phát hiện những lãng phí thòi gian
và đề ra biện pháp loại trừ nó. Nghiên cứu những phơng pháp làm việc và thao tác tiên
tiến của những công nhân lành nghề và những ngời có phát minh sáng kiến cải tiến kỹ
thuậtnhằm phổ biến và áp dụng rộng rãi trong công nhân. Thu thập tài liệu ban đầu để
tổ chức và bố trí lao động trong dây chuyền sản xuất cũng nh nơi làm việc đợc hợp lý
nhất. Thu thập tài liệu ban đầu để trên cơ sở đố xác định nội dung công việc và trình tự
thực hiện công việc đợc hợp lý nhất (căn cứ để xây dựng mức lao động và tiêu chuẩn
lao động ). Tuỳ theo mục đích của việc khảo sát và cách tiến hành trong thực tế tổ
chức lao động cũng nh định mức kỹ thuật lao động ngời ta thờng dùng những phơng
pháp nghiên cứu hao phí thời gian làm việc sau: chụp ảnh thời gian làm việc, bấm giờ
bớc công việc, kết hợp cả chụp ảnh và bấm giờ.
1. Chụp ảnh thời gian làm việc.
Chụp ảnh thời gian làm việc là hình thức khảo sát nghiên cứu tất cả các loại hoạt
động và thời gian hao phí diễn ra trong ngày làm việc của công nhân hay thiết bị.
Chụp ảnh thời gian làm việc thờng nhằm mục đích sau: phân tích sử dụng thời
gian làm việc hiện hành , phát hiện các loại thời gian lãng phí, tìm nguyên nhân và tìm
ra biện pháp nhằm loại trừ chúng ; lấy tài liệu để xây dựng mức, xây dựng tiêu chuẩn
thời gian chuẩn kết, phục vụ, nghỉ ngơi, nhu cầu cần thiết ; nghiên cứu kinh nghiệm sử
dụng thời gian của những ngời lao động tiên tiến và phổ biến rộng rãi trong công
nhân ; lấy tài liệu để cải tiến tổ chức sản xuất, tổ chức lao động.
Chụp ảnh thời gian làm việc có những hình thức cụ thể khác nhau tuỳ thuộc mục
đích nghiên cứu, loại hình sản xuất , hình thức tổ chức sản xuất, tổ chức lao động mà
17

áp dụng : chụp ảnh cá nhân ngày làm việc, chụp ảnh tổ nhóm ngày làm việc , tự chụp
ảnh và chụp ảnh thời điểm.
a. Chụp ảnh cá nhân ngày làm việc.
Chụp ảnh cá nhân ngày làm việc là việc ghi lại toàn bộ các hoạt động và hao phí

cấp đợc nhiều tài liệu phong phú, kịp thời, giúp cho lãnh đạo nắm đợc tình hình sản
xuất ở các bộ phận sản xuất , các ca làm việc , kịp thời có biện pháp uốn nắn. Động
viên đợc đông đảo công nhân tham gia, quản lý sản xuất , đấu tranh chống lãng phí
thời gian trong sản xuất tăng cờng kỷ luật lao động , tinh thần làm chủ tập thể.
Nhợc điểm: thờng chỉ nêu đợc những lãng phí trông thấu, không nêu đợc những
lãng phí không trông thấy. Số liệu không phản ánh đầy đủ những lãng phí (thờng công
nhân không ghi những lãng phí do chính họ gây ra, những lãng phí ngắn ).
d. Chụp ảnh thời điểm.
Chụp ảnh theo thời gđiểm là hình thức khảo sát nghiên cứu thời gian làm việc
của công nhân và thiết bị dựa trên nguyên lý của lý thuyết xác xuất thống kê. Qua số
liệu ghi chếp đợc một cách ngẫu nhiên , bất ngờ có thể xác định tỷ trọng thời gian làm
việc và thời gian lãng phí của công nhân, thiết bị, xác định mức hoặc tiêu chuẩn thời
gian để định mức lao động.
Ưu điểm đây là hình thức khảo sát hàng loạt, nên cùng một lúc nghiên cứu đợc
nhiều đối tợng thờng từ 10 ngời hoặc thiết bị trở lên. Tốn ít công sức hơn các các khảo
sát khác từ 3 tới 5 lần, không đòi hỏi ngời khảo sát phải có trình độ chuyên môn cao,
có thể sử dụng công nhân tham gia khảo sát. Có thể ngừng quá trình khảo sát mà
không ảnh hởng đến độ chính xác của kết quả khảo sát.
Nhợc điểm của phơng pháp này là do không khảo sát liên tục nên không phát
hiện đợc những lãng phí không trong thấy, nên các số liệu cung cấp cho việc xây dựng
mức không chính sác, đề ra các cải tiến tổ chức sản xuất, tổ chức lao động cũng bị
giới hạn.
Các b ơc tiến hành của chụp ảnh.
Các hình thức chụp ảnh nói chung đều phải trải qua các bớc cơ bản sau:
19

Bớc chuẩn bị :
Tuỳ theo mỗi hình thức khảo sát mà xúc tiến một số trong những nội dung
chuẩn bị sau: Chọn đối tợng quan sát (tuỳ thuộc mục đích khảo sát mà chọn đối tợng
là một công nhân, nhóm công nhân hay bộ phận lớn hơn hoặc cả doanh nghiệp, cũng

gian làm việc có ích, thời gian tác nghiệp, thời gian máy làm việc ) trong ngày. Thời
gian lãng phí trông thấy và không trông thấy (số tuyệt đối, tỷ trọng) nguyên nhân, đề
ra biện pháp khắc phục. So sánh thời gian hao phí thực tế với thời gian định mức , dự
tính thời gian hợp lý định mức , tính khả năng tiết kiệm thời gian, khả năng tăng năng
suất lao động, do sử dụng hợp lý thời gian lao động.
2. Bấm giờ b ớc công việc.
Bấm giờ là phơng pháp khảo sát nghiên cứu thời gian hao phí để thực hiện các
bộ phận vủa bớc công việc thờng gặp lại trong ngày làm việc , với số lần khảo sát nhất
định tuỳ mức độ chính xác các tài liệu khảo sát, theo yêu cầu từng loại hình sản xuất
cụ thể.
Khác với chụp ảnh thời gian làm việc , bấm giờ không nghiên cứu toàn bộ các
hoạt động của công nhân trong ca làm việc mà chỉ đi sâu nghiên cứu một bớc công
việc hay nhóm thao tác thờng lặp lại trong các ca làm việc.
Bấm giờ bớc công việc nhằm mục đích: Lấy tài liệu để xây dựng mức, xây dựng
tiêu chuẩn (mức thời gian tác nghiệp). Nghiên cứu các phơng pháp làm việc tiên tiến
để phổ biến rộng rãi trong công nhân. Phát hiện những nguyên nhân không hoàn thành
mức và đề ra biện pháp giúp đỡ công nhân hoàn thành định mức. Thông qua bấm giờ,
nghiên cứu tình hình sử dụng máy móc thiết bị, tổ chức phục vụ nơi làm việc , nhằm
khai thác khả năng tiềm tàng, để nâng cao năng suất lao động. Bấm giờ có hai hình
thức là bấm giờ liên tục (theo thời gian hiện tại) và bấm giờ theo thời gian chon lọc.
Bấm giờ theo thời gian hiện tại là hình thức khảo sát trong đó bớc công việc
nghiên cứu đợc diễn ra liên tục (tức là đợc lặp lại liên tục theo thời gian hiện tại). Bấm
giờ theo thời gian hiện tai thờng dùng đồng hồ 2 kim với độ chính xác 0,01 phút.
21

Bấm giờ theo thời gian chọn lọc nghiên cứu một thao tác hay nhóm thao tác
của bớc công việc , tức là nghiên cứu sự lặp đi lặp lại qua khoảng thời gian. Bấm giờ
theo thời gian hiện tại với độ chính xác cao hơn bấm giờ theo thời gian chọn lọc bởi
vìviệc khảo sát tiến hành liên tục, không bị gián đoạn. Phơng pháp này thờng dùng
đồng hồ đo giây một kim.

ôđtt
= T
max
/T
min
Với : K
ôđtt
, K
ôđtc
: là hệ số ổn định thực hiện qua khảo sát và hệ số ổn định tiêu
chuẩn đợc quy định.
T
max
, T
min
: là thời hạn lớn nhất và nhỏ nhất trong dãy số.
Nếu không có tiêu chuẩn quy định thì bằng kinh nghiệm, lao động có thể loại
lần nào có thời gian quá lớn hoặc quá nhỏ, rất khác biệt với thời gian của những lần
còn lại trong dãy số bấm giờ (số lần bấm giờ).
- Tính thời gian trung bình của dãy số (chỉ số lần đợc tính) và cộng thời hạn
trung bình của bộ phận bớc công việc hay thao tác, ta có thời hạn trung bình của bớc
công việc hay thao tác đó.
Bớc kết luận:
Dựa trên cơ sở các số liệu đã phân tích, nghiên cứu phơng án lao động hợp lý để
thực hiện các bộ phận của bớc công việc hay thao tác, theo hớng giảm bớt số thao tác,
động tác thừa, kết hợp các thao tác làm việc bằng tay vào thời gian làm việc của máy;
hoặc kết hợp làm việc đồng thời của hai tay giữa bàn tay và chân; lập biện pháp tổ
chức kỹ thuật khắc phục những lãng phí trong sản xuất , xây dựng mức thời gian (sản
lợng) xác định khả năng thực hiện mức, khả năng tăng năng suất lao động của công
nhân.

gian hao phí để thực hiện chúng. Trên cơ sở đó xác định cơ cấu và trình tự hợp lý để
thực hiện bớc công việc, hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, áp dụng các
thành tựu khoa học kỹ thuật mới, các kinh nghiệm của những ngời sản xuất tiên tiến.
Các mức đợc xây dựng bằng phơng pháp này gọi là mức kỹ thuật lao động, hay mức có
căn cứ khoa học. Trong phơng pháp phân tích còn chia ra phơng pháp phân tích khảo
sát, phơng pháp phân tích tính toán và phơng pháp so sánh điển hình.
Phơng pháp phân tích khảo sát
24

Phơng pháp phân tích khảo sát là phơng pháp xây dựng dựa vào các tại liệu thu
thập đợc bằng các hình thức khảo sát (chụp ảnh hoặc bấm giờ) thời gian làm việc.
Qua chụp ảnh hoặc bấm giờ trực tiếp ở nơi làm việc, thu đợc những tài liệu phản
ánh toàn bộ thời gian hoạt động của công nhân hay thiết bị trong ca làm việc, trong đó
công việc lớn nhất thờng lặp đi lặp lại trong ngày (tác nghiệp) đợc nghiên cứu tỷ mỷ
từng bộ phận cấu thành (thao tác, động tác, phơng pháp thực hiện chúng) và những yếu
tố ảnh hởng đến thời gian hao phí thực hiện chúng. Qua khảo sát phát hiện ra những
thời gian lãng phí trông thấy và không trông thấy, cùng nhng nguyên nhân gây ra, trên
cơ sở đó mà đề ra những biện pháp khắc phục chúng.
Đặc điểm của phơng pháp này là dựa vào các tài liệu khảo sát trực tiếp ở nơi làm
việc , nó cho phép không chỉ xây dựng những mức lao động có căn cứ khoa học mà
còn góp phần hoàn thiện tổ chức sản xuất và quản lý để phổ biến rộng rãi trong công
nhân.
Các mức xây dựng bằng phơng pháp này có độ chính xác cao, nhng tốn nhiều
thời gian , ngời khảo sát đòi hỏi phải có trình độ nghiệp vụ nhất định, nên chỉ áp dụng
thích hợp trong điều kiện sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối. Trong sản xuất hàng
loạt vừa và nhỏ chỉ áp dụng cho những khâu sản xuất có tính chất hàng loạt hoặc để
nghiên cứu tình hình sử dụng thời gian làm việc nghiên cứu phơng pháp và thao tác
làm việc tiên tiến.
Phơng pháp phân tích tính toán
Phơng pháp phân tích tính toán là phơng pháp xây dựng mức dựa vào tài liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status