TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TRÌNH THÀNH CHUNG
“ẢNH HƯỞNG CỦA THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
TRONG QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN ĐƯỜNG BỘ
VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HIỆU QUẢ” Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Hồ Đức Hùng
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Thầy
hướng dẫn và những người tôi đã cảm ơn. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề
tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào.
TP.HCM, ngày 25 tháng 07 năm 2009
Tác giả
Trình Thành Chung
TÓM TẮT
Mục tiêu của bài luận văn này là nhằm khảo sát thực trạng quản lý phương tiện
vận tải đường bộ của các nhà quản lý, trên cơ sở lý thuyết về thông tin không hoàn hảo
và lý thuyết về hệ thống định vị toàn cầu, từ đó đề ra các giải pháp cụ thể bằng cách
ứng dụng thiết bị GPS để giám sát phương tiện vận tải nhằm hạn chế thông tin không
hoàn hảo trong ngành, mục đích là giảm chi phí vận hành và nâng cao năng suất hoạt
động giúp doanh nghiệp nói riêng hay ngành vận tải nói chung nhằm nâng cao vị thế
cạnh tranh và phát triển bền vững.
Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết những ngưởi làm công tác quản lý phương
tiện không kiểm soát được tình trạng của phương tiện vào một thời điểm bất kỳ, địa
điểm xuất phát, địa điểm kết thúc, lộ trình đã đi qua, nhật ký công tác của phương
tiện, …để có được những thông tin này, người quản lý phải thông qua người vận hành
trực tiếp nhưng kết quả khảo sát cũng cho thấy đươc rằng thông tin giữa hai bên cũng
không chính xác, không trung thực, người quản lý luôn không hài lòng, không tin
tưởng người vận hành phương tiện.
2.1.4.1. Phát tín hiệu 8
2.1.4.2. Sàng lọc 9
2.1.4.3. Cơ chế giám sát 10
2.2. Lý thuyết về hệ thống thiết bị định vị toàn cầu 12
2.2.1.Định nghĩa 1 12
2.2.1.1.Phần vũ trụ 12
2.2.1.2. Phần điều khiển 13
2.2.1.3. Phần sử dụng 13
2.2.2. Định nghĩa 2 14
2.2.2.1.Các thành phần của GPS 14
2.2.2.2.Hoạt động của hệ thống 15
2.3. Một số sản phẩm của hệ thống thiết bị định vị toàn cầu. 16
2.3.1. Sơ lược về phần cứng thiết bị GPS 16
2.3.2. Phần mềm trang chủ 18
2.3.3. Phần mềm trang web người sử dụng 19
2.3.4. Cơ chế vận hành 20
2.4. Ứng dụng GPS trong quản lý phương tiện vận tải ở Việt Nam và trên thế giới 21
2.4.1. Ứng dụng GPS trong quản lý phương tiện vận tải ở Việt Nam 21
Chương III. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ PHƯƠNG TIỆN VẬN
CHUYỂN ĐƯỜNG BỘ THEO PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG 25
3.1. Bối cảnh 25
3.2. Kinh nghiệm làm việc và ý kiến của các nhà quản lý 26
3.3. Thực trạng quản lý phương tiện vận chuyển đường bộ 27
3.3.1. Phương pháp phân tích và thu thập thông tin 27
3.3.1.1. Nguồn số liệu 27
3.3.1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.3.1.3. Phương pháp chọn mẫu 28
3.3.2. Kết quả khảo sát 30
3.3.2.1. Phương tiện vận tải sử dụng vào những mục đích công việc 30
3.3.2.2. Mức độ hài lòng về công việc đang làm 31
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Danh sách số lượng chủ sở hữu phương tiện vận tải trên khu vực Thành Phố
Hồ Chí Minh, đến thời điểm tháng 02 năm 2009. 28
Bảng 2: Số mẫu điều tra tính toán và thực tế 29
Bảng 3. Bảng số liệu thống kê phương tiện khảo sát được chọn 30
Bảng 4. Mức độ hài lòng về công việc đang làm 31
Bảng 5. Mức độ hài lòng về thái độ họp tác 32
Bảng 6. Tỷ lệ (%) sự họp tác của tài xế 33
Bảng 7. Tỷ lệ (%) mức độ tin tưởng khi nhận được sự phản hồi của tài xế 34
Bảng 8. Tỷ lệ (%) câu trả lời biết hoặc không biết 35
Bảng 9. Tỷ lệ (%) phương pháp kiểm tra trạng thái xe 36
Bảng 10. Phương pháp kiểm tra số kilomet đi được 37
Bảng 11. Phương pháp kiểm tra tất cả xe vào môt ngày 38
Bảng 12. Phương pháp kiểm tra phương tiện từ điểm A đến B 39
Bảng 13. Ưu tiên xếp loại điều động 40
Bảng 14. Mức độ tin tưởng báo cáo 41
Bảng 15. Phần trăm hao hụt nhiên liệu 42
Bảng 16. Nhận biết phương tiện vượt quá tốc độ 42
Từ viết tắt Từ đầy đủ Nghĩa tiếng việt
GPS
Global Positioning System Hệ thống định vị toàn cầu
AI
Asymmetry Information Thông tin bất cân xứng
TC
Transaction cost Chi phí giao dịch
AS
Adverse Seclection Lựa chọn bất lợi
MH
Moral Hazard Tâm lý ỷ lại
WTO
World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
2. Tiếng Việt
Từ viết tắt Từ đầy đủ
GTVT
Giao thông vận tải
GTĐB
Giao thông đường bộ
CNTT
Công nghệ thông tin
ATGT
An toàn giao thông
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
VT
Vận tải
Km
Kilomet
2
Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật số, công nghệ thông tin đã cho ra
đời nhiều thiết bị dùng để giám sát phương tiện vận chuyển có tên gọi là GPS
1
. Phương
tiện vận chuyển được gắn GPS sẽ thông báo các thông tin về Trang thái, Vị trí hiện tại,
Vị trí khởi hành, lộ trình đã đi qua,… Phương pháp quản lý này tạm gọi là phương
pháp hiện đại.
1.2. Vấn đề nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng quản lý phương tiện vận chuyển đường bộ, xuất phát từ
thông tin không cân xứng giữa người quản lý và người vận hành, không có cơ chế
giám sát thì sự họp tác có hiệu quả không, vì vậy tôi chon đề tài cho bài luận văn của
mình là : “ẢNH HƯỞNG CỦA THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG QUẢN
LÝ PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN ĐƯỜNG BỘ VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN
LÝ HIỆU QUẢ”
1.3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:
1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của bài luận văn này là nhằm khảo sát và đánh giá tình trạng của
phương pháp quản lý phương tiện vận chuyển đường bộ theo phương pháp truyền
thống. Từ đó đề ra các giải pháp quản trị phương tiện vận chuyển đường bộ hợp lý
nhằm tăng khả năng cạnh tranh( đặc biệt là các lợi thế về chi phí và năng suất) cho việc
phát triển bền vững của các doanh nghiệp Việt Nam.
1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu:
Để tập trung giải quyết mục tiêu của đề tài luận văn, câu hỏi sau đây cần được
trả lời là: Những ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng theo phương pháp quản lý
tin trong việc kỹ thuật lập trình,…sẽ được báo cáo trên một đề tài kỹ thuật lập trình
công nghệ thông tin với các dữ liệu đầu vào của GPS.
1.7. Kết cấu của đề tài: Luận văn tốt nghiệp bao gồm các phần như sau
Sau chương giới thiệu thì kết cấu còn lại của đề tài được viết theo trình tự sau:
Chương II.Trình bày về thông tin bất cân xứng, các khái niệm và những vấn đề liên
quan đến thông tin bất cân xứng , lý thuyết về hệ thống định vị toàn cầu GPS. Một số
4
sản phẩm ứng dụng của hệ thống GPS trong việc quản trị phương tiện vận chuyển
đường bộ. Chương III. Đánh giá thực trạng quản trị phương tiện vận chuyển đường bộ
bằng phương pháp truyền thống. Chương IV. Kết luận các vấn đề nghiên cứu và đề
xuất các gợi ý chính sách.
là giá xe tốt; P
2
là giá xe xấu.
Ông lại cho rằng người mua xe tiềm năng xem mức giá của các loại xe tốt hay xấu
là ngang nhau, vì họ không thể phân biệt đặc tính của xe nên họ chỉ có thể mua xe (bất
kể tốt hay xấu) tại mức giá trung bình trên thị trường. Thực tế, đối với xe tốt thì giá cao
hơn mức giá trung bình. Vì thế tại mức giá trung bình đó chỉ có những xe xấu được
giao dịch. Khi đó xác suất để mua xe tốt bây giờ là q’ < q. Như vậy người mua thường
là mua được những chiếc xe xấu, việc lựa chọn xe để mua trong trường hợp này gọi là
sự lựa chọn bất lợi vì họ có thể trả giá cao hơn đối với xe xấu và người bán lại không
thể bán được do giá bán thấp hơn chất lượng xe tốt.
Một phương cách để giảm bớt thông tin bất cân xứng trên thị trường là thông
qua các tổ chức trung gian trên thị trường. Tổ chức trung gian này có thể giới thiệu rõ
hơn thông tin sản phẩm đến với người mua như bảo hành, nhãn mác, thông số kỹ
thuật… chính điều này đã làm cho các bên giao dịch cân bằng hơn về thông tin sản
phẩm, khi đó giao dịch sẽ dễ dàng thực hiện.
6
Michael Spence (1973): Phát tín hiệu
Tiếp tục phát triển lý thuyết của G.A. Akerlof, Spence đã nghiên cứu trên thị
trường Lao động (Auronen, 2003, tr.10). M. Spence xem việc thuê lao động là một
quyết định đầu tư không chắc chắn. Tính không chắc chắn ở đây là việc thuê lao động
mà người chủ không biết được khả năng đóng góp, khả năng tạo ra năng suất của
người lao động là bao nhiêu. Vì thế việc thuê lao động có thể thuê được lao động có
chất lượng hoặc không. Một trong những phương cách giúp người chủ thuê được lao
động có năng lực đó là ông chủ có thể xem qua chất lượng bằng cấp, kinh nghiệm,…
của người lao động. Đó được gọi là những tín hiệu được phát ra của người lao động.
với sự xuất hiện của nó trong các loại thị trường đã làm cho những lý thuyết truyền
thống về kinh tế học tân cổ điển trở nên xa rời thực tế và thất bại trong việc giải thích
thế giới bên ngoài. Thông tin hoàn hảo, không có chi phí giao dịch giữa các bên của thị
trường, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cân bằng cung cầu lý tưởng là những giả định
rất khó xảy ra. Điều này càng khó xảy ra ở các nước đang trong quá trình chuyển đổi
và đang phát triển như Việt Nam; nơi mà tính minh bạch, quyền tiếp cận, cơ sở hạ tầng
thông tin còn nhiều yếu kém. Trong tất cả các loại thị trường, đặc biệt là thị trường tài
chính thì ba trục trặc thường xuyên xảy ra trong các giao dịch: rủi ro (risk) và sự bất
trắc (uncertainty); thông tin bất cân xứng (AI); và chính vì sự tồn tại của hai trục trặc
ban đầu dẫn đến một trục trặc thứ ba là luôn tồn tại chi phí giao dịch (transaction cost –
TC). AI lại là một nhân tố làm tăng chi phí giao dịch và có khả năng làm cho một số thị
trường không tồn tại.
AI dẫn đến hai hành vi phổ biến trong thị trường là lựa chọn bất lợi (Adverse
Seclection – AS) và tâm lý ỷ lại (Moral Hazard – MH). AS không phải là một quyết
2
Thông tin bất cân xứng : Nguyễn Trọng Hoài, 2006
8
định ngẫu nhiên mà quyết định này xuất phát việc che đậy thông tin của một bên trong
thị trường, và sự lựa chọn một bên sẽ gây bất lợi cho một bên khác trước khi xảy ra
giao dịch (hợp đồng), sự lựa chọn này có thể làm một phân khúc thị trường trở nên rủi
ro và thậm chí đi đến xụp đổ hoàn toàn. Ví dụ trong thị trường hàng hoá lẫn lộn hàng
thật và hàng copy thì vì sự che đậy thông tin của những người bán, hàng copy sẽ làm
cho người mua chỉ trả một mức giá trung bình, mức giá này thấp hơn giá bán hàng thật
nên điều này tạo bất lợi cho những người bán hàng chân chính.
cấp tin cậy, thư tiến cử từ những nhân vật có uy tín; ngoài ra bên tuyển dụng cũng tạo
điều kiện cho người lao động cơ chế phát tín hiệu như tuyển dụng thử, sát hạch bởi hội
đồng tuyển dụng . . .
2.1.4.2. Sàng lọc
Sàng lọc (Screening) là gợi ý đầu tiên cho vấn đề lựa chọn bất lợi. Xét về thị
trường bảo hiểm, ví dụ như bảo hiểm mất trộm xe máy. Công ty bảo hiểm không thể áp
dụng chung một loại phí bảo hiểm bình quân cho tất cả mọi đối tượng, vì mức phí bình
quân này sẽ cao đối với người đi xe cẩn trọng và lại thấp với những người đi xe bất cẩn.
Do không thể phân biệt hai loại nhóm người như vậy, công ty bảo hiểm có thể áp dụng
hai loại phí bảo hiểm mất xe, một mức phí bảo hiểm toàn bộ (bồi thường 100% khi mất
xe) và một mức phí bảo hiểm một phần (ví dụ khi mất xe chỉ bồi thường khoảng 50%).
Mức phí thứ nhất hướng đến những người đi xe bất cẩn, còn mức phí thứ hai sẽ hướng
đến những người đi xe cẩn thận và dĩ nhiên mức phí thứ nhất cao hơn mức phí thứ hai.
Nhược điểm của kiểu sàng lọc này là những người đi xe cẩn thận sẽ không được bồi
thường toàn bộ tài sản, ngoài ra do cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm khác thì họ sẽ
gia nhập thị trường và chiếm thị phần những người đi xe cẩn thận và từ đó thị trường
bảo hiểm của công ty đang hoạt động sẽ gặp rủi ro cao do chi phí thực tế cao hơn chi
phí kỳ vọng vì tham gia bảo hiểm phần lớn là những người đi xe bất cẩn.
10
2.1.4.3. Cơ chế giám sát
Cơ chế giám sát được áp dụng nhằm mục đích kiểm soát tâm lý ỷ lại, cơ chế bao
gồm: giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp:
- Giám sát trực tiếp: các giao dịch (hợp đồng) là một can thiệp đầu tiên cho
vấn đề tâm lý ỷ lại. Điều này có nghĩa là một bên đối tác giao dịch phải bỏ chi phí về
nhân lực và tiền bạc để giám sát hành vi của một bên khác nhằm yêu cầu họ thực hiện
các điều khoản đã cam kết trong quá trình giao dịch. Thị trường tín dụng trong điều
Tóm tắt mô hình thông tin bất cân xứng
Nguồn: Nguyễn Trọng Hoài (2006)
Thông tin bất cân xứng
Thông tin
che đậy
Hành vi
che đậy
L
ự
a ch
ọ
n
bất lợi
Tâm lý
ỷ lại
Sàng lọc
Phát tín hiệu
Cơ chế gián tiếp Cơ chế trực tiếp
Trước khi ký
hợp đồng
Sau khi ký
hợp đồng
12
2.2. Lý thuyết về hệ thống thiết bị định vị toàn cầu ( GPS: Global Positioning System)
Chuyển tiếp thông tin đến người sử dụng.
Thay đổi quỹ đạo bay của vệ tinh theo sự điều khiển từ mặt đất.
2.2.1.2. Phần điều khiển ( Control Segment )
Gồm một trạm điều khiển chính, 5 trạm thu số liệu, 3 trạm truyền số liệu.
Trạm đìều khiển chính đặt tại Colorade Springs (Mỹ) có nhiệm vụ thu thập các
dữ liệu theo dõi vệ tinh từ các trạm thu số liệu để xử lý.
Công nghệ xử lý gồm : Tính lịch thiên văn, tính và hiệu chỉnh đồng hồ, hiệu
chỉnh quỹ đạo điều khiển, thay thế các vệ tinh ngừng họat động bằng các vệ tinh dự
phòng.
5 trạm thu số liệu được đặt tại Hawai , Colorade Springs , Ascension (Nam Đại
Tây Dương) , Diago Garia (Ấn Độ Dương) , Kwayalein (Nam Thái Bình
Dương). Có nhiệm vụ theo dõi các tín hiệu vệ tinh để kiểm soát và dự đoán quỹ
đạo của chúng. Mỗi trạm được trang bị những máy thu P-code để thu các tín
hiệu của vệ tinh, sau đó truyền về trạm điều khiển chính.
3 trạm truyền số liệu đặt tại Ascension , Diago Garia , Kwayalein có khả năng
chuyển số liệu lên vệ tinh gồm lịch thiên văn mới, hiệu chỉnh đồng hồ, các
thông điệp cần phát, các lệnh điều khiển từ xa.
2.2.1.3. Phần sử dụng ( Use Segment )
Những máy thu tín hiệu GPS có anten riêng ( máy định vị ).
Các thiết bị tự ghi ( bộ ghi số liệu ).
14
Máy tính ( phần mềm xử lý số liệu ).
Máy thu GPS tính toán đơn vị với tần suất mỗi giây một vị trí và cho độ chính xác
từ dưới 1m – 5m.
Khi ta di chuyển hay dừng tại chỗ , máy thu GPS nhận tín hiệu từ vệ tinh rồi tính