Lời nói đầu
Trong những năm qua nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc nhữngn tiến triển đáng
khâm phục vậy thì đâu là lí do ? . Để đi tìm câu trả lời không ngoài sự dám cải
tổ nền kinh tế của nớc ta và hiện nay công cuộc công nghiệp hoá , hiện đại hoá
(CNH - HĐH) đất nớc là một thách thức lớn đối với Việt Nam trong những năm
cuối thế kỷ 20. Đảng và Nhà nớc ta đã nỗ lực, hy vọng có thể thành lập thị tr-
ờng trờng chứng khoán vào đầu một thiên niên kỷ tới, mà trớc hết công việc có
tầm quan trọng chiến lợc là cổ phần hoá các DN Nhà nớc, những Công ty cổ
phần chính là những tế bào của cơ thể thị trờng chứng khoán.
Do vậy các DN nhà nớc trong diện cổ phần hoá còn rất nhiều bỡ ngỡ và
gặp không ít khó khăn , trở ngại trong việc thực hiện cổ phần hoá. Hầu hết hệ
thống các DN nhà nớc đã hình thành từ thời quản lí tập trung bao cấp, khi
chuyển sang cơ chế mới lại thiếu kiểm soát chặt chẽ nên phát triển tràn lan. Một
trong những bộ phận quan trọng DN nhà nớc không đủ điều kiện tối thiểu, trang
bị quá đơn sơ, trách nhiệm tài sản không đợc phân định rõ ràng. Mặt khác trong
điều kiện kinh tế t nhân còn quá non yếu, chỉ mới hoạt động chủ yếu trong lĩnh
vực dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp nên DN nhà nớc cha thể tập
trung toàn lực cho yêu cầu phát triển ở những ngành, lĩnh vực then chốt .
Để duy trì tốc độ phát triển của nền kinh tế , Việt Nam đã bắt đầu phải
đối mặt với những thách thức về nguồn lực đầu t cho phát triển . Cuộc khủng
hoảng kinh tế tài chính của các nớc trên thế giới và khu vực đã làm giảm nguồn
vốn đầu t vào Việt Nam từ khoảng gần 10 tỷ USD hàng năm xuống 2 tỷ USD
trong năm 1998, trong khi đó theo tính toán của các nhà phân tích kinh tế: Để
Việt Nam duy trì đợc tốc độ phát triển 6 - 7 % hàng năm thì vốn đầu t lên đến
400 - 500 tỷ USD. Để có thể huy động đợc nguồn vốn khổng lồ chắc chắn
không thể chỉ dựa vào nguồn nội lực để phát triển kinh tế đất nớc. Chính vì vậy
mà cổ phần hoá đã trở thành chủ trơng lớn của Đảng và nhà nớc ta , nhằm đẩy
mạnh công cuộc đổi mới, hiện đại hoá đất nớc và thực hiện thắng lợi các mục
tiêu kinh tế - xã hội
còn lại tơng ứng với số CP góp vốn vào Cty, sau khi Cty thanh toán cho chủ nợ
và cổ đông loại khác.
Cổ đông có các nghĩa vụ: thanh toán đủ số CP cam kết mua , chịu trách
nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Cty trong phạm vi số vốn góp;
tuân thủ điều lệ và quy chế quản lý nội bộ Đối với CP phổ thông của cổ đông
sáng lập, trong 3 năm đầu, kể từ ngày đợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, các CĐ sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số CP phổ thông đ-
ợc quyền chào bán. CP này có thể nhợng cho ngời không phải là cổ đông nếu đ-
ợc sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông. Cổ đông dự định chuyển nhợng
không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhợng các CP đó. Sau thời hạn 3
năm hạn chế trên với CĐ sáng lập đều bãi bỏ.
Ba năm đợc coi là thời hạn đầy đủ cho cho việc đầu t, hoàn thành và đa dự
án vào hoạt động nếu dự án có gắn với xây dựng. Việc hạn chế này đối với CĐ
sáng lập nhằm mục đích : thúc đẩy CĐ sáng lập phải xem xét cẩn thận trớc khi
quyết định thành lập Cty để kinh doanh, khắc phục hiện tợng thành lập Cty và
quyết định đầu t theo "phong trào".Qua đó hạn chế những đổ bể gây tổn thất cho
xã hội , góp phần duy trì sự ổn định cần thiết của Cty trong những năm đầu hoạt
động, tăng thêm độ đảm bảo và niềm tin cho những ngời tham gia góp vốn sau
khi đã đăng ký kinh doanh.
+ Cổ phần u đãi biểu quyết :
2
Đây là CP có số phiếu biểu quyết nhiều hơn một phiếu biểu quyết so với CP
phổ thông; không hạn chế mức tối đa số phiếu biểu quyết của CP u đãi biểu
quyết. Số phiếu biểu quyết cụ thể do điều lệ Cty quy định. Trờng hợp Cty CP
đợc chuyển đổi từ DNNN, thì CP u đãi biểu quyết chỉ đợc sử dụng đối với các
DN hoạt động trong các ngành: tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ tài chính khác;
bu chính - viễn thông; vận tải hàng không. Các ngành khác do Thủ tớng Chính
phủ quyết định. Cổ đông sở hữu cổ phần u đãi biểu quyết có quyền biểu quyết
các vấn đề thuộc thẩm quyền đại hội đồng cổ đông với số phiếu biểu quyết nh-
ợng CP đó cho ngời khác
ởng lãi suất cổ phần của cổ đông .
+ Cổ phiếu có hai loại :
1. Cổ phiếu u đãi (có ghi danh): Loại này giành đợc cho các sáng lập viên
và các thành viên của Hội đồng quản trị . Đặc điểm của loại này là không đợc
chuyển nhợng , mua bán , đó là một sự ràng buộc phải gắn bó với công ty suốt
đời .
Trong trờng hợp công ty bị phá sản thì cổ phiếu u đãi là loại cổ phiếu đợc
thanh toán trớc.
2.Cổ phiếu thờng: Là loại cổ phiếu không ghi danh đợc tự do mua bán,
chuyển nhợng , nghĩa là đợc phát hành rộng rãi trên thị trờng . Loại này khác cổ
phiếu u đãi ở chỗ : lãi suất không ổn định , điều kiện rủi ro cao hơn cổ phiếu u
đãi và biến động theo sự kinh doanh của công ty . Khi công ty bị phá sản thì cổ
phiếu thờng phải thanh toán sau cổ phiếu u đãi .
+ Cách tính giá cổ phiếu :
Cổ phiếu là một loại hàng hoá hết sức quan trọng trong TTCK và ở các quốc
gia có nền tài chính phát triển, cổ phiếu chiếm đa số trong các hoạt động giao
3
dịch.Vì thế , định giá của một cổ phiếu luôn là bài toán quan trọng nhất và trớc
tiên của một nhà đầu t.
Lợi nhuận mà một cổ phiếu đem lại cho ngời chủ sở hữu là các cổ tức đợc
nhận theo định kỳ (hàng năm, hàng quý ). Vì vậy, giá của một cổ phiếu chính
là giá mà nhà đầu t sẵn lòng trả để theo định kỳ nhận đợc các cổ tức. Từ thực tế
đó, cách thức tính lãi suất ngân hàng đã đợc dùng để tính giá cổ phiếu. Gửi tiết
kiệm là cách đầu t dễ dàng, an toàn nhất, đảm bảo có lợi nhuận hầu nh 100%. Sẽ
không có ai sử dụng tiền của mình vào một đầu t mà lợi nhuận đem lại chắc
chắn thấp hơn lãi gửi tiết kiệm.Vì thế, giá của cổ phiếu sẽ là một khoản tiền mà
nếu đem nó vào gửi tiết kiệm, lãi định kỳ sẽ bằng với cổ tức.
Dới mức này, ngời bán sẽ không bán, ngời mua sẽ không mua bởi ngời mua
có thể dùng số tiền mua để gửi tiết kiệm và mỗi định kỳ , nhận đợc lãi tiết kiệm
nhiều hơn khoản tiền mà cổ tức đem lại.
4) Yếu tố đầu cơ: đây là yếu tố tinh xảo nhất của TTCK và thực tế là yếu tố chủ
yếu đã gây ra các chấn động trên các TTCK của thế giới.Các nhà đầu cơ tìm
cách tạo ra các suy luận sai trên thị trờng về các yếu tố tác động dến giá nh đã
giới thiệu ở trên nhằm kiếm lợi cho bản thân.
Các yếu tố đầu cơ thờng dẫn đến biến động lớn về giá cả, và không hiếm tr-
ờng hợp, dẫn đến sụp đổ của TTCK. Mặc dù tại một số nớc (hầu hết các n-
ớc phát triển), các hoạt động đầu cơ đợc cho phép với lí do cho rằng, nó là một
yếu tố cần thiết để tăng sức hoạt động và thanh khoản của TTCK, hiện tại, Nhà
nớc Việt Nam đã có những quy định nhằm hạn chế các hoạt động này. Đó là
một biện pháp đúng đắn, có tác dụng giống nh bà đỡ cho đứa trẻ mới ra đời.
4
#) Nguyên tắc mua cổ phiếu của một công ty nào đó là "lợi nhuận thuộc về cổ
đông". Ta thấy quyền lợi của cổ đông khi đầu t mua cổ phiếu là họ đợc hởng ít
nhất 6 yếu tố sau đây:
1. Cổ tức
Tuỳ theo mức lời lỗ của công ty trong năm tài chính, tuỳ theo nhu cầu, chính
sách có cần tích luỹ vốn để đầu t thêm, mở rộng kinh doanh hay không mà đại
hội cổ đông sẽ quyết định mức chia cổ tức theo từng năm. Thực tế tại Việt Nam
vừa qua có một số tiêu chí để chia cổ tức nh sau:
- Do nhu cầu cần vốn đầu t thêm nên dù lợi nhuận nhiều hơn nhng chỉ chia cổ
tức bằng hoặc cao hơn lãi suất ngân hàng chút ít.
- Quy định trớc một tỷ lệ chia nhất định, ví dụ: 50% lợi nhuận sau thuế đợc
dùng làm cổ tức.
- Sau khi trích lập các quỹ bắt buộc theo luật định hoặc theo điều lệ (quỹ dự trữ,
quỹ đầu t phát triển, quỹ khen thởng ) còn lại đợc dùng làm cổ tức (trờng hợp
này thờng ở các công ty có lợi nhuận thấp nhng vẫn bị áp lực của cổ đông là
phải có cổ tức hàng năm).
- Không chia cổ tức vì làm ăn thua lỗ hoặc lợi nhuận quá thấp, hoặc muốn dành
tất cả lợi nhuận có đợc để tái đầu t thêm.
2. Quỹ phát triển sản xuất
Đặc điểm trái phiếu là đợc tự do chuyển nhợng , mua bán , khả năng thanh toán
cao , lãi suất trái phiếu ổn định. Khi công ty bị phá sản thì trái phiếu đợc thanh
toán trớc cổ phiếu.
- Giá thị trờng : là giá thực giao dịch trên thị trờng. Nếu mệnh giá không đổi thì
giá trên thị trờng ổn định. Trên thị trờng giá luôn biến động theo các yếu tố sau :
5
+ Lãi suất cổ phần (công ty nào có lãi suất cổ phần cao thì cổ phiếu của công
ty đó đợc mua nhiều hơn và làm cho giá thị trờng tăng lên, lãi suất chịu tác
động thực trạng và tơng lai của công ty ).
+ Lãi suất ngân hàng ảnh hởng đến giá thị trờng của cổ phiếu
+ Những biến động về kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nớc và trên thị trờng
thế giới ảnh hởng đến giá thị trờng của cổ phiếu
Bên cạnh đó các hiện tợng xã hội nh bãi công, thay đổi nguyên thủ quốc gia,
khủng bố sẽ ảnh hởng đến giá cổ phiếu trên thị trờng.
b) Cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp cổ phần .
3 Gồm có:
-Hội đồng quản trị : đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng quản trị. Hội
đồng quản trị có quyền bổ nhiệm một ngời trong Hội đồng quản trị hoặc
ngời khác làm Giám đốc công ty. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm
Giám đốc (Tổng giám đốc).
-Với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát.
-Đại hội cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ
quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. Đại hội cổ đông có quyền
quyết định các loại cổ phần, tổng số cổ phần chào bán, quyết định mức
cổ tức hàng năm; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản
trị, thành viên ban kiểm soát; quyết định tổ chức lại và giải thể công ty;
quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty và các quyết định quan
trọng khác theo luật DN quy định.
6
đốc
(hoặc giám đốc)
Phó giám
đốc
(hoặc giám đốc)
Phó giám
đốc
(hoặc giám đốc)
Phòng
(ban)
chuyên
môn
Phòng
(ban)
chuyên
môn
Phòng
(ban)
chuyên
môn
Phòng
(ban)
chuyên
môn
Phòng
(ban)
chuyên
môn
Phòng
(ban)
phải có ngời vay. Sự xuất hiện của công ty cổ phần thủ tiêu ngời cho vay và
thay vào đó là ngời quản lí và ngời giám đốc làm thuê. Lợi tức của vốn cho vay
cũng không phải là lợi nhuận DN mà đối lập với lợi nhuận DN với t cách là thu
nhập do quyền sở hữu mang lại. Lợi tức cổ phiếu mà ngời chủ cổ phiếu nhận đ-
ợc là toàn bộ lợi nhuận chuyển hoá thành hình thái cổ tức . Nh vậy công ty cổ
phần là loại hình DN mới , một loại hình trên cơ sở tín dụng.
Trong lịch sử, công ty cổ phần là một kiểu tổ chức DN có nhiều u thế ,vì thế
các nhà nớc t bản độc quyền đã coi trọng loại hình này . Nhiều nhà nớc t bản
độc quyền đã sử dụng các tổ chức tài chính đa dạng để tạo khả năng huy động
vốn dới hình thức phát hành cổ phiếu ,trái phiếu, đồng thời sử dụng quyền lực
trong việc tạo ra môi trờng kinh tế . Yếu tố tâm lí cũng nh cơ sở pháp luật thuận
lợi đã thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá, tạo điều kiện ra đời các công ty cổ
phần . Với các động thái này, các công ty cổ phần đã phát triển mạnh và thịnh
hành trong giai đoạn chủ nghĩa t bản độc quyền và trở thành phổ biến ở các nớc
có nền kinh tế thị trờng phát triển mạnh mẽ. Ví dụ ở Mĩ vào năm 1939 số lợng
các công ty cổ phần chiếm 51,7% tổng số các tổ chức kinh doanh công nghiệp
và 92,6% giá trị tổng sản lợng công nghiệp .
Tóm lại công ty cổ phần là quá trình phát triển kinh tế khách quan do đòi
hỏi của sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trờng , nó là kết quả tất yếu
của quá trình tập trung t bản, diễn ra một cách mạnh mẽ cùng với sự phát triển
của nền đại công nghiệp và sự tự do cạnh tranh dới chủ nghĩa t bản .
3.Ưu thế và hạn chế của công ty cổ phần
a. Những u thế :
Những u thế cơ bản của công ty cổ phần là
Khả năng huy động vốn cao ,nhanh chóng, đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh
nhờ phát hành cổ phiếu và trái phiếu .
8
Kinh tế càng phát triển, càng thay đổi thì sự rủi ro càng cao và hình thức
công ty cổ phần là hình thức giúp nhà kinh doanh hạn chế đợc rủi ro , tức là
tránh đợc rủi ro bằng cách cùng lúc đầu t vào nhiều công ty khác nhau.Đồng
Công ty cổ phần tuy có sự tổ chức chặt chẽ nhng việc phân công về quyền
lực và chức năng của từng bộ phận sao cho hoạt động của công ty hiệu quả
lại rất phức tạp .
Tuy vậy công ty cổ phần là hình thức mang tính chất xã hội hoá cao , không
những đợc thể hiện ở phơng diện sở hữu mà còn thể hiện ở việc tập trung sử
dụng vốn.
II. Thực trạng Doanh Nghiệp nhà nớc ở Việt Nam và sự
cần thiết cổ phần hoá .
1. Quá trình phát triển của DN nhà nớc ở Việt Nam.
Các DN nhà nớc ở Việt Nam đợc hình thành từ năm 1954 ( ở miền Bắc)
và từ năm 1975 ( ở miền Nam ). Do hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau và
đợc xây dựng trên cơ sở của nhiều quan điểm nên các DN nhà nớc ở Việt Nam
có nhiều đặc trng khác biệt so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới. Điều
đó đợc biểu hiện ở chỗ :
9
- ở nớc ta, khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò cốt
yếu trong nền kinh tế, kinh tế quốc doanh có mặt ở hầu hết các ngành và lĩnh
vực
- Quy mô DN phần lớn là nhỏ bé , cơ cấu phân tán. Năm 1992 cả nớc có trên
2/3 tổng số DN nhà nớc có số lợng lao động dới 100 ngời, chỉ có 4% DN có số
lợng lao động trên 100 ngời. Số lợng lao động trong khu vực DN nhà nớc chiếm
tỉ trọng khá nhỏ trong tổng số lao động xã hội, khoảng 5 6 %.
- Trình độ kĩ thuật và công nghệ lạc hậu , trừ một số rất ít (18%) số DN nhà
nớc đợc đầu t mới đây. Phần lớn các DN nhà nớc đã đợc sử dụng máy móc thiết
bị khá lâu, có trình độ kĩ thuật , công nghệ thấp kém so với các nớc khác nhiều
thập kỷ. Có DN còn trang bị các thiết bị kĩ thuật từ những năm 40-50, đợc xây
dựng bằng kĩ thuật của nhiều nớc khác nhau nên tính đồng bộ của các DN thấp.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng , các DN đó khó có khả năng cạnh tranh
cả trong nớc và trên thế giới .
-Việc phân bố không hợp lí về ngành, vùng. Khi chuyển sang nền kinh tế thị
34,1
1991
36,0
1992
39,6
1993
42,9
1997
43,6
(Theo số liệu của Tổng cục thống kê )
Tốc độ tăng trởng nền kinh tế nớc ta trong những năm qua đã tăng nhanh,
các DN nhà nớc vẫn đóng vai trò cốt yếu trong nhiều ngành kinh tế, nhất là
những ngành quan trọng đòi hỏi đầu t lớn, kĩ thuật cao và các ngành sản xuất
cung ứng các hàng hoá và các dịch vụ công cộng. Đồng thời DN nhà nớc vẫn là
thành phần kinh tế đóng góp chủ yếu cho ngân sách nhà nớc. Nhng có thể nhận
thấy rằng hầu hết các DN nhà nớc của ta khi chuyển sang cơ chế mới thiếu kiểm
soát chặt chẽ việc thành lập và hoạt động nên phát triển tràn lan không có hiệu
quả.
2. Tình hình hoạt động của DN nhà nớc trong thời gian gần đây.
Hiện nay, nớc ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc, các thành phần
kinh tế đều đợc khuyến khích phát triển, các DN đều bình đẳng với nhau trong
hoạt động sản xuất kinh doanh và bình đẳng trớc pháp luật. Sự bình đẳng trớc
pháp luật của các thành phần kinh tế không có nghĩa là chúng có vị trí nh nhau
trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phạm vi hoạt
động, lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc doanh sẽ thu hẹp lại nhng nó vần
giữ vai trò chủ đạo, phát triển ở những lĩnh vực then chốt. Đó là phơng tiện vật
chất để nhà nớc điều phối nền kinh tế. Phải có những DN nhà nớc ở lĩnh vực
quan trọng để nhà nớc đủ sức thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô, can thiệp vào
10
Bảng trên chỉ ra rằng, hoạt động kinh tế đang yếu kém trong khu vực
nhà nớc, so với tổng thu nộp ngân sách năm 1995 và 1996 thì năm 1997 tổng
thu nộp của DN nhà nớc vào ngân sách nhà nớc có chiều hớng giảm mạnh.
Thực tế có nhiều DN nhà nớc làm ăn thua lỗ và trở thành gánh nặng cho
ngân sách nhà nớc và hệ thống ngân hàng. Cụ thể theo báo cáo về công tác quản
lý tài chính DN của Bộ tài chính ngày 05/01/1998 thì tình hình làm ăn thua lỗ
của DN nhà nớc đợc quyết toán nh sau: Số DN lỗ có giảm dần từ 21% năm
1991 còn 16% năm 1995 nhng đến năm 1996 tăng lên 22%. Tuy nhiên, nếu tính
đầy đủ các yếu tố chi phí theo quy định hiện hành thì số DN thua lỗ còn cao hơn
nhiều, khoảng trên dới 50%. Tình trạng lãi giả lỗ thật còn phổ biến, thậm chí
nhiều DN lâm vào tình trạng phá sản cũng không đợc phát hiện kịp thời nh tr-
ờng hợp dệt Nam Định, đông lạnh Hùng Vơng, sơn mài Lam Sơn và một số
công ty thơng mại của Hải Phòng. . .
Theo cuốn Đổi mới kinh tế Việt Nam của Nhà xuất bản Tài chính 1997
đã tổng kết về thực trạng của DN nhà nớc nh sau: DN nhà nớc vẫn còn nhiều
về số lợng và nhỏ về quy mô, còn có sự dàn trải không cần thiết, vợt quá khả
năng nguồn lực của nhà nớc hiện có. Tình trạng thiếu vốn của các DN nhà nớc
là phổ biến và nghiêm trọng. Phần lớn DN nhà nớc vẫn chỉ đợc bảo đảm khoảng
10% và thấp hơn so với yêu cầu tối thiểu 30% vốn lu động. Nhiều DN do không
vay đợc vốn trung và dài hạn để đầu t chiều sâu và mở rộng kinh doanh, đã phải
vay vốn ngắn hạn, chịu lãi suất cao để đầu t nên hoạt động kém hiệu quả, khó
hoàn vốn và khó trả nợ đến hạn. Về trình độ công nghệ, theo báo cáo của Bộ
11
Khoa học Công nghệ và Môi trờng, qua khảo sát nhièu DN thuộc các ngành thì
máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất của các DN nhà nớc lạc hậu so với thế
giới từ 10 năm đến 20 năm. Thậm chí có một số DN thiết bị quá cũ, trang bị
cách đây 30 - 40 năm, nhng đến nay vẫn không đợc đổi mới. Nhiều DN nhà nớc
hoạt động trong tình trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, trên cùng một
địa bàn, tạo ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trong chính khu vực DN nhà nớc
quản lý tài chính, hạch toán kinh doanh của DNNN, việc thực thi chế độ kế toán
đợc coi nh là công việc của DN, do đó chức năng hớng dẫn của cơ quan quản lý
Nhà nớc bị buông lỏng.
Sự yếu kém của lực lợng sản xuất ở nớc ta hiện nay biểu hiện rõ nhất là sự
lạc hậu của kết cấu hạ tầng trên toàn bộ nền kinh tế . Trình độ kết cấu hạ tầng và
dịch vụ của nớc ta chỉ ở dới mức trung bình so với các nớc đang phát triển . Ví
dụ hệ thống giao thông liên lạc cầu nối gắn liền nền kinh tế nớc ta với thị tr-
ờng thế giới đến nay vẫn rất thấp kém và lạc hậu. Cả nớc mới có 3.2595 km đ-
ờng sắt nhng chủ yếu đờng khổ rộng 1 mét , quốc lộ có 11 vạn km thì 7% đờng
tốt , 47% km đờng xấu và rất xấu , cảng biển và sân bay thiếu cả về số lợng và
chất lợng. Những cơ sở hiện nay vẫn cha đạt tiêu chuẩn quốc tế .
Nền kinh tế nớc cha có tích luỹ nội bộ, cha có khả năng chi trả số nợ đến hạn
và quá hạn . Khả năng vay vốn nớc ngoài cũng bị hạn chế .Bởi hiện tại còn có
những khoản nợ lớn không có khả năng chi trả trong thời gian nhất định . Bên
cạnh đó hiệu quả kinh doanh của nhiều DN quá thấp , lãi suất tiền vay còn
cao .Trong khi khả năng cạnh tranh của sản phẩm và kinh nghiệm kinh doanh
của DN Việt Nam trên thị trờng thế giới còn yếu.
12
Trình độ quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nói chung , đối với DN nói riêng
có nhiều thiếu sót . Hệ thống pháp luật , chính sách quản lý cha hoàn chỉnh , rất
nhiều các văn bản pháp quy, dới luật có nhiều quy định mâu thuẫn với nhau. Hệ
thống toà án kinh tế cha tổ chức kịp thời nhằm đảm bảo nghiêm chỉnh pháp luật
kinh tế. Trong hoạt động quản lý nhà nớc, tệ cửa quyền quan liêu, thủ tục hành
chính quá phiền hà đối với DN và công dân còn khá phổ biến.
Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, nhiều văn bản quản lý cũ đã lỗi
thời, song cha đợc huỷ bỏ .Những văn bản mới có nhiều sơ hở, nhng không kịp
thời sửa đổi nên đã bị lợi dụng phục vụ lợi ích cục bộ trớc mắt của nhiều cơ sở,
gây nhiều tiêu cực, vô hiệu hoá những quy định mới đúng đắn của nhà nớc.
Một số công tác đặc biệt quan trọng về quản lí đối với DN nh quản lí tài
chính , kế toán , kiểm toán , thanh tra , giám sát thi hành pháp luật cha chuyển
nhng nếu trừ khấu hao cơ bản và thuế gián thu thì DN nhà nớc chỉ đóng trên
30% ngân sách nhà nớc .
Đặc biệu nếu tính chi phí và tài sản cố định , đất đai giá theo thị trờng thì các
DN nhà nớc hoàn toàn không tạo ra đợc tích luỹ . Một trong những nhuyên nhân
dẫn đến tình trạng này là tài sản cố định , đặc biệt là máy móc thiết bị đã cũ , lạc
hậu về kĩ thuật (so với thế giới lạc hậu từ 30 đến 40 năm, có ngành từ 50 đến 60
năm và nhiều hơn nữa) . Hiện nay có đến 54,3% DN nhà nớc Trung ơng và 74%
DN nhà nớc địa phơng sản suất ở trình độ thủ công, quy mô DN nhỏ vốn ít .
Vốn hoạt động thực tế chỉ bằng 80% vốn ghi trên sổ sách , riêng vốn huy động
chỉ còn 50% đợc huy động vào sản xuất kinh doanh .Còn lại là công nợ khó
đòi , tài sản vật t mất giá, kém phẩm chất và những thâm hụt cha đợc xử lí . Với
thực trạng trên phần lớn các DN không có khả năng cạnh tranh trên thị trờng và
13
đổi mới công nghệ ,sản phẩm .Ngân sách nhà nớc không có khả năng cấp vốn
và bao cấp DN nh trớc đây .Ngân hàng cho vay cũng phải có những điều kiện
đảm vảo nh tài sản thế chấp , khả năng kinh doanh để có thể thu hồi vốn . Các
DN ở trong tình trạng luẩn quẩn , vốn không có nhiều nhng cũng không có cách
nào để huy động .
Để khắc phục tình trạng khó khăn trên, cổ phần hoá các DN nhà nớc đợc coi
là giải pháp thiết yếu nhất nhằm tạo ra môi trờng hoạt động dài hạn cho DN để
đầu t chiều sâu, đổi mới công nghệ ,sản phẩm, cạnh tranh trên thị trờng trong n-
ớc và quốc tế .
Đây là yêu cần mang tính khách quan của nền kinh tế chuyển đổi và chuẩn
bị bớc vào hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Nếu thực sự tạo điều kiện
tốt cho bớc hội nhập kinh tế khu vực thì dứt khoát không thể để tình trạng
DNNN nh hiện này mà phải cải cách triệt để mới góp phần nâng cao sức cạnh
tranh của DN, mà con đờng tốt nhất là cổ phần hóa (đối với những DN nhỏ và
vừa), đa dạng hoá sở hữu DN theo Nghị định 103/1999/NĐ-CP ngày 10-9-1999
của Chính phủ (đối với những DN quá nhỏ và nhỏ). Từ đó Nhà nớc có điều kiện
và khả năng tập trung xây dựng và bồi bổ cho những DNNN thuộc phạm vi.Nhà
14
Phần II
Quá trình cổ phần hoá DN
nhà nớc ở Việt Nam
1. Phân loại các DN để sắp xếp lại, lựa chọn hình thức cổ phần hoá .
a) Phân loại các DN để sắp xếp lại :
Theo đánh giá tổng hợp của Ban đổi mới quản lý DN (DN) trung ơng, việc
triển khai thực hiện Chỉ thị 20/TTg của Thủ tớng Chính phủ ngày 21/4/1998
về phân loại và sắp xếp DN nhà nớc (DNNN) trên thực cha đạt đợc những kết
quả nh mong muốn. Tỷ lệ số DN giữ lại 100% vốn Nhà nớc cao hơn nhiều so
với mục tiêu (68%/49,68%), trong khi tỷ lệ số DN chuyển đổi sở hữu lại thấp
(21,7%/42,1%) và tỷ lệ số DN giải thể, phá sản cũng rất thấp (4,3%/8, 22%).
Ban đổi mới quản lý DN đã phân loại DNNN theo 4 nhóm chính sau :
1- Nhóm DN cần duy trì 100% vốn Nhà nớc, gồm các DN công ích (sản xuất,
sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; DN
nằm trên địa bàn chiến lợc quan trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng; quản lý
thuỷ nông; cấp thoát nớc, vệ sinh môi trờng, ánh sáng đờng phố; trồng và bảo vệ
rừng đầu nguồn; sản xuất giống đầu giống; sân bay, điều hành bay; quản lý,
khai thác, duy trì, bảo dỡng hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia; bảo đảm hàng hải,
dẫn dắt tàu ra, vào cảng biển; kiểm định kỹ thuật phơng tiện, giao thông cơ giới;
kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện; xuất bản và phát hành sách giao
khoa, sách báo chính trị, phim thời sự - tài liệu, phim thiếu nhi; chiếu bóng phục
vụ vùng cao, biên giới, hải đảo; sản xuất sản phẩm và cung ứng các dịch vụ khác
theo chính sách xã hội của Nhà nớc); DN hoạt động bảo đảm nhu cầu thiết yếu
cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
các dân tộc ở miền núi và vùng sâu, vùng xa; DN kinh doanh trong lĩnh vực độc
quyền Nhà nớc (vật liệu nổ, hoá chất độc, chất phóng xạ, hệ thống chuyển tải
điện, mạng lới bu chính viễn thông, sân bay quốc gia, in bạc và chứng chỉ có
giá); DN kinh doanh có vai trò dẫn dắt, mở đờng về ứng dụng công nghệ mũi
nhọn, công nghệ cao, quy mô lớn, địa bàn trọng yếu, ngành kinh tế - kỹ thuật
sau khi đã đánh gía lại trừ (-) chi phí CPH, gía trị cổ phần u đãi cho ngời lao
động và gía trị phần trả dần của ngời lao động nghèo theo quy định của Nhà n-
ớc.
- Hình thức CPH thứ hai các DN có thể lựa chọn là bán một phần gía trị vốn
Nhà nớc hiện có tại DN cho các cổ đông.
- Thứ ba là tách một bộ phận của DN (phân xởng sản xuất, cửa hàng, bộ phận
dịch vụ ) có thể hoạt động độc lập và hạch toán riêng giá trị tài sản để CPH .
- Hình thức thứ t là bán toàn bộ gía trị vốn Nhà nớc hiện có tại DN để CPH và
nh vậy Nhà nớc không nắm giữ cổ phần ở công ty CP.
Xử lý tài sản và nợ trớc khi CPH
Các tài sản không tính vào giá trị DN để CPH gồm:
1. Tài sản mà DN không thể tiếp tục sử dụng. Nếu khi chuyển DNNN thành
CTCP mà các tài sản này không bán đấu gía hoặc thanh lý đợc thì cơ quan quyết
định CPH ủy quyền cho công ty CPH quản lý hộ.
2. Nợ phải thu khó đòi.
3. Chi phí xây dựng dở dang của những công trình đã đình hoãn trớc thời điểm
xác định giá trị DN.
4. Các khoản đầu t dài hạn khác vào DN, kể cả góp vốn liên doanh với nớc
ngoài.
5. Tài sản thuê tài chính (phần nợ cha trả cho chủ tài sản).
6. Tài sản thuê ngoài. Nếu DN CPH đi thuê có đầu t, cải tạo nâng cấp thêm trên
tài sản đi thuê thì gía trị còn lại của phần đã đầu t cải tạo nâng cấp xử lý nh sau:
nếu DN cho thuê nhận lại tài sản thì DN này thanh toán lại cho DN thuê gía trị
đã đầu t nâng cấp. Nếu bên cho thuê là DNNN đồng ý nhận lại tài sản kèm theo
gía trị đã đầu t cải tạo nâng cấp thì 2 bên có thể bàn giao gía trị đã đầu t nâng
cấp và hạch toán theo nguyên tắc tăng giảm vốn. Nếu CTCP tiếp tục thuê tài sản
thì chi phí đã đầu t, cải tạo nâng cấp đợc tính vào giá trị DN. Đối với tài sản DN
đang quản lý sử dụng nhng cha xác định đợc chủ sở hữu thì đợc coi là tài sản
thuộc vốn Nhà nớc. Các khoản dự phòng giảm gía hàng tồn kho, dự phòng nợ
phải thu khó đòi, dự phòng giảm gía chuyển khoản, chênh lệch tỷ gía, các khoản
vốn bằng tiền (+) nợ phải thu (+) tài sản ký cợc, ký qũy ngắn hạn và dài hạn(+)
tài sản đầu t ngắn hạn và dài hạn mà công ty cổ phần sẽ tiếp tục kế thừa (+) tài
sản vô hình (nếu có) (+) giá trị lợi thế kinh doanh (giá trị thơng quyền).
Những DN không thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh về kế toán thống
kê thì cơ quan quyết định giá trị DN xem xét thuê tổ chức kiểm toán độc lập xác
định giá trị DN. Tiền thuê kiểm toán đợc tính vào chi phí CPH.
Giá trị lợi thế tính nh thế nào?
Trờng hợp gía trị lợi thế kinh doanh (nh uy tín mặt hàng, vị trí địa lý ) đã đợc
đánh gía thì lấy số d thực tế trên sổ sách kế toán để tính vào giá trị DN. Trờng
hợp cha xác định đợc gía trị lợi thế kinh doanh thì căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận
siêu ngạch bình quân của 3 năm liền kề với thời điểm xác định giá trị DN để
tính theo công thức:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của 3 năm liền kề của DN bằng (=) tổng số lợi
nhuận thực hiện của 3 năm liền kề chia cho (:) tổng số vốn Nhà nớc theo sổ sách
kế toán 3 năm liền kề. Tỷ suất lợi nhuận siêu ngạch bằng (=) tỷ suất lợi nhuận
bình quân của 3 năm liền kề của DN trừ đi (-) tỷ suất lợi nhuận bình quân chung
của DNNN cùng ngành nghề trên cùng địa bàn tỉnh, thành phố. Gía trị lợi thế
kinh doanh tính vào giá trị DN bằng (=) tổng số vốn Nhà nớc theo sổ sách kế
toán 3 năm liền kề nhân (x) tỷ suất lợi nhuận siêu ngạch nhân với (x) 30%.
2. Tiến trình cổ phần hoá DN ở nớc ta ,những kết quả cụ thể .
a) Về tổ chức thực hiện :
Thủ tớng Chính phủ đã ra quyết định số 111/1998/QĐ - TTg ngày
29/06/1998 thành lập Ban đổi mới quản lý DN TW do một Phó Thủ tớng làm tr-
ởng ban, đồng chí Nguyễn Minh Thông làm phó ban thờng trực. Một số phó tr-
ởng ban chuyên trách và các uỷ viên kiêm nhiệm là cấp Thứ trởng của các Bộ,
cơ quan có liên quan để giúp Thủ tớng Chính phủ tập trung nhiệm vụ đổi mới
quản lý DN thuộc các thành phần kinh tế, sắp xếp và cổ phần hoá DN nhà nớc
vào một đầu mối ở các bộ, địa phơng. Tổng công ty 91 cũng thành lập Ban đổi
mới quản lý DN trực thuộc bộ, địa phơng, tổng công ty 91.
Chơng trình cổ phần hoá của Đảng, Chính phủ và Quốc hội đã đề ra và đợc thực
hiện thí điểm từ 1992 đến 1996: Hoàn thành cổ phần hoá 5 DN (bình quân 1
năm 1 DN). Thời kỳ thí điểm đợc đánh giá là hết sức chậm chạp, tuy nhiên đã
rút ra những bài học quí giá cho thời kỳ thực hiện tiếp theo.
+ Giai đoạn hai từ cuối năm 1996 đến tháng 6/1998 :
Trên cơ sở đánh giá các u điểm và tồn tại trong giai đoạn triển khai thí
điểm cổ phần hoá DN nhà nớc , Chính phủ đã ban hành Nghị định (NĐ) số 28/
CP ngày 7/5/1996 về chuyển một số DN nhà nớc thành công ty cổ phần . Nghị
định đã xác định rõ mục tiêu , đối tợng thực hiện cổ phần hoá , quy định cụ thể
nguyên tắc xác định giá trị DN , chế độ u đãi cho ngời lao động trong DN nhà
nớc và tổ chức bộ máy giúp Thủ tớng Chính phủ chỉ đạo công tác cổ phần hoá
DN nhà nớc . Đồng thời giao nhiệm vụ cho các Bộ , các địa phơng hớng dẫn và
tổ chức thực hiện.
Mặc dù có Nghị định của Chính phủ ban hành chấm dứt thời kỳ thí
điểm để chuyển sang thời kỳ mở rộng nhng tiến độ cổ phần hoá chỉ đợc nhích
lên chút ít: 2 năm kể từ 5/1996 - 6/1998 cũng chỉ thực hiện thêm đợc 25 DN, đa
tổng số các DNNN đã cổ phần hoá đến hết tháng 6/1998 lên 30 DN. Tiến độ cổ
phần hoá thời kỳ thực hiện NĐ 28/CP cũng đợc đánh giá là chậm và cha đều
khắp ở các bộ, ngành, địa phơng.
+ Giai đoạn ba , từ tháng 6/1998 đến nay.
Tháng 6 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định 44/1998 nhằm giải quyết
những vớng mắc và đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá . Trong NĐ 44/1998, lần
đầu tiên Chính phủ công bố một danh mục đầy đủ các loại hình DNNN:-
- Loại DNNN cần tiếp tục đầu t vốn 100%, đây là số cá biệt chủ yếu tập trung
ở những DN thuộc khu vực liên quan đến an ninh-quốc phòng; sản xuất hoá
chất độc hại, DN công ích có qui mô lớn để góp phần dẫn dắt nền KT phát
triển.
- Loại DNNN cần cổ phần hoá nhng Nhà nớc nắm cổ phần chi phối, cổ phần
đặc biệt. Loại DN này thờng là quan trọng có vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà
+ Việc sử dụng tiền bán cổ phiếu thuộc sở hữu nhà nớc đợc qui định tại
điều 9. Qui định này đã phần nào làm cho mục tiêu của việc cổ phần hoá đợc
thực thi trên thực tế, tạo tâm lý yên tâm cho ngời lao động khi doanh nghiệp nhà
nớc cổ phần hoá.
+ Những u đãi đối với ngời lao động thay đổi.
Điều 11 - NĐ 28/CP qui định: Ngời lao động trong doanh nghiệp cổ phần
hoá đợc nhà nớc cấp một số cổ phiếu tuỳ theo thâm niên công tác và chất lợng
công tác của từng ngời. Và trị giá cổ phiếu cấp cho mỗi ngời không quá 6 tháng
lơng cấp bậc, chức vụ theo thang bảng lơng nhà nớc ban hành. Còn điều 14-NĐ
44/CP lại qui định: Nhà nớc bán với giá u đãi cho ngời lao động tuỳ theo năm
công tác của từng ngời. Một năm làm việc cho nhà nớc đợc mua tối đa 10 cổ
phần với mức giảm giá30% so với các đối tợng khác. Tổng giá trị u đãi cho ngời
lao động không quá 20% giá trị vốn nhà nớc tại doanh nghiệp. Những doanh
nghiệp có vốn tự tích luỹ từ 40% giá trị doanh nghiệp trở lên thì tổng giá trị u
đãi cho ngời lao động không quá 30% giá trị vốn nhà nớc tại doanh nghiệp.
Qui định này có phần thực tế hơn, công bằng hơn.
+ Việc tổ chức thực hiện cũng đợc qui định một cách rộng rãi hơn, chi tiết
hơn. Thẩm quyền của các Tổng công ty đợc xác lập. Thành lập các Tổng công ty
với quy mô lớn, hoạt động rộng khắp cũng là một trong những giải pháp để thay
đổi bộ mặt doanh nghiệp nhà nớc. Qui định thẩm quyền của Tổng công ty nhà
nớc trong việc lựa chọn và quyết định doanh nghiệp cổ phần hoá, quyết định giá
trị doanh nghiệp đã làm cho việc cổ phần hoá đợc xúc tiến một cách nhanh
chóng hơn.
+ Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũng đợc rút ngắn
một cách rõ rệt từ 15 ngày qui định trong khoản 2 điều 16 nghị định 28/CP còn
7 ngày (Khoản 2 điều 16 nghị định 44/CP).
Nh vậy, từ NĐ 28/CP đến NĐ 44/CP là cả một sự thay đổi lớn, ảnh hởng
mạnh mẽ đến kết quả của công tác cổ phần hoá. Do NĐ 44 giải quyết kịp thời
một số vớng mắc so với NĐ 28/CP trớc đó nên sau khi ban hành đã làm tiến độ
cổ phần hoá của cả nớc đã tăng lên vợt bậc: 6 tháng cuối 1998 cổ phần hoá đợc
các tỉnh, thành phố: Nam Định, Thanh Hoá, Hải Phòng, Đồng Nai; các tổng
công ty 91: Dệt may, Cà phê.
Tổng số DN đã thực hiện cổ phần hoá trong năm 1999 là 250 , đa tổng số các
DN đã cổ phần xong hết 31/12/1999 lên 370 DN. Trong đó có những DN có vốn
lớn nh Công ty mía đờng Lam Sơn có giá trị tài sản 665 tỷ đồng, vốn Nhà nớc
tại DN là 92,5 tỷ đồng Điều này chứng tỏ từng DN đã xác định đợc vị trí của
mình trong chơng trình cải cách để có những bớc đi hợp lý, không vì lợi ích
riêng của một số ngời lãnh đạo DN (chánh phó giám đốc) mà làm thiệt hại lợi
ích chung của ngời lao động và cả đất nớc.
Cũng trong năm 1999, đã có 11 DN công nghiệp chuyển thành công ty cổ
phần, trong đó 2 DN thuộc tổng công ty 90 và 9 DN thuộc các tổng công ty
91.Trong khi các tổng công ty 91 đã cổ phần hoá xong 9 đơn vị so với chỉ tiêu
đề ra là 29 (đạt 31%) thì các tổng công ty 90 thuộc Bộ quản lý mới chỉ cổ phần
hoá đợc 2 đơn vị so với 12 đơn vị đề ra (đạt 16,7%).
Tuy số DNNN đã cổ phần hoá cho đến 31/12/1999 là 370 DN nhng so với
tổng số DNNN trong thời điểm đó thì mới chiếm tỷ lệ rất thấp (6,4%) và so với
số vốn Nhà nớc lúc đó tại khu vực DNNN thì mới cổ phần hoá đợc 1% phần vốn
Nhà nớc tại DN. Điều này rõ ràng cha góp phần hữu hiệu vào việc cơ cấu lại khu
vực DNNN trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
*/ Năm 2000, số lợng DN chuyển đổi sở hữu và cổ phần hoá đợc giao cho các
bộ, ngành, địa phơng và tổng công ty Nhà nớc dựa trên cơ sở phơng án tổng thể
sắp xếp DN đã đợc các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Do đó dễ thực hiện hơn
cho các cơ quan quản lý cấp trên chỉ đạo DN thực hiện. Theo tinh thần chỉ thị số
20/CT của Thủ tớng Chính phủ thì số lợng đó là 20% trong tổng số DNNN hiện
có của các bộ, ngành, địa phơng, tổng công ty 91.Ban đổi mới quản lý DN trung
ơng đã ra kế hoạch cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu năm 2000 bao gồm 692
20
DN thuộc các địa phơng, các bộ, ngành và các tổng công ty 91. Trong đó, 61
tỉnh và thành phố trực thuộc trung ơng sẽ CPH và đa dạng hoá sở hữu 524 DN.
tỷ 996 triệu đồng (tăng 55,46%). Giá trị vốn Nhà nớc tại doanh nghiệp là 80 tỷ
808 triệu đồng, không những bảo toàn vốn khi đánh giá lại tài sản mà còn tăng
thêm 1 tỷ 542 triệu đồng. Nhng trong năm 2000 vừa qua, thành phố chỉ CPH đ-
ợc 9 DN So với chỉ tiêu 60 DNNN chuyển thành công ty cổ phần mà Chính phủ
giao thì kết quả thực hiện đợc là quá thấp. Sự chậm trễ này do nhiều nguyên
nhân, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Sự lỗi thời của một số quy định có liên quan đến quyền lợi của ngời lao động
theo Nghị địng 44/CP vẫn cha đợc sữa chữa.
- Công nợ dây da, không thể giải quyết dứt điểm vì cha có chính sách.
- Tâm lý của ngời lao động : lo lắng về các vấn đề giảm long và chính sách xã
hội của DN đối với ngời lao động để chạy theo lợi tức sau khi DN đợc CPH.
Bên cạnh đó là các nguyên nhân khác nh số DN hoạt động trong lĩnh vực
dịch vụ thơng mại có lợi thế đã hết, sự đối xử cha công bằng với các DN đã CPH
so với các DNNN trong vay vốn ngân hàng, giải quyết thủ tục pháp lý
@ Thành phố Hồ Chí Minh .
Tp.HCM là thành phố đi vào tiến trình CPH đầu tiên ở VN. từ 1992 cho đến
hết năm 1999, đã có 52 DNNN đã hoàn tất cổ phần hoá, trong đó có 42 DN đã
hoàn tất công việc trong năm 1999 và 10 DN hoàn tất trong thời gian từ 1992
đến 1998.
Kết quả của việc CPH là rất khả quan. Theo ban quản lý và đổi mới DNNN
Tp.HCM, hầu hết các DNNN đã chuyển thể sang công ty cổ phần từ 1992 đến
nay đếu hoạt động có hiệu quả. Đầu năm 2000 tổng vốn Nhà nớc sau khi đánh
21
giá lại đã đạt mức 417 tỷ đồng, tăng lên bình quân 1,28 lần so với trớc. Tổng
vốn huy động thêm lên đến 112,443 tỷ đồng. Hoàn vốn ngân sách Nhà nớc ngay
sau khi CPH đợc 216,368 tỷ đồng. Và tại các công ty này, Nhà nớc vẫn nắm giữ
30% cổ phần. Trong số các DN đã CPH, 25 DN đạt hiệu quả sản xuất-kinh
doanh cao hơn hẳn so với trớc khi CPH. Doanh thu tăng bình quân 39,25%/năm.
Lợi nhuận trớc thuế tăng bình quân đến 17,5%. Mức nộp ngân sách tăng
17,5%/năm. Thu nhập ngời lao động cũng tăng và cổ tức đạt mức từ 6% đến
chỉ chiếm 16,67% trong tổng số doanh nghiệp đã cổ phần hoá.
Năm 2000, Bộ công nghiệp có kế hoạch chuyển 39 doanh nghiệp Nhà nớc
thành công ty cổ phần, trong đó 10 doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty dệt
may, 7 doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty điện lực Việt Nam, 4 doanh
nghiệp trực thuộc Tổng công ty thép Việt Nam, 4 doanh nghiệp trực thuộc Tổng
công ty than Việt Nam, 2 doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam,
2 doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty hoá chất Việt Nam, 10 doanh nghiệp
còn lại trực thuộc các tổng công ty 90 và các công ty trực thuộc bộ.
@ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn .
Từ năm 1993, Bộ NN & PTNT đã tiến hành thí điểm CPH thành công Công
ty thức ăn chăn nuôi (VIFOCO). Đến nay Bộ NN & PTNT đã có 22 doanh
nghiệp (DN) chuyển sang công ty cổ phần, thuộc các lĩnh vực: chế biến nông,
lâm sản; sản xuất và chế biến thức ăn gia súc; xây dựng; cơ khí.
CPH đã đợc thực hiện dới cả 4 hình thức (theo điều 7, NĐ44/CP):
- Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nớc hiện có tại DN, phát hành cổ phiếu, thu
hút thêm vốn để phát triển DN (Nhà máy thực phẩm xuất khẩu Mỹ Châu).
22
- Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nớc tại DN (Công ty cơ khí Bình Triệu,
Công ty xây lắp công trình Tây Nguyên, công ty chè Kim Anh, Công ty xây
dựng và PTNT 4, );
- Tách một bộ phận DN đủ điều kiện để CPH (Xí nghiệp đá Gia Thanh, Xởng
nông dợc Long Hiệp, ).
- Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nớc tại DN để chuyển thành công ty
cổ phần (Công ty bảo quản nông lâm sản).
CPH còn đợc thực hiện theo mô hình kết hợp cả hình thức vừa bán một phần
vốn Nhà nớc tại DN vừa phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển DN
(3 phân xởng thuộc Công ty đờng Biên Hòa, Công ty nguyên liệu thức ăn chăn
nuôi, Xí nghiệp dợc và vật t thú y, ).
Năm 1999 số DNNN đợc CPH của bộ NN&PTNT là 16, nhng tiến trình lại
chững lại ngay trong những năm tiếp theo do tâm lý sợ CPH bao trùm lên các
Tổng công ty xi măng Việt Nam là đơn vị đã từng đợc khen vì công tác
CPH nhanh gọn. Mặc dù đơn vị đầu tiên mới bắt đầu CPH từ cuối năm1998 nh-
ng cho đến đầu tháng 4/2000, Tổng công ty này đã có tất cả ba công ty CPH
thành công là Công ty cổ phần bao bì Hoàng Thạch, Công ty cổ phần bao bì Bỉm
Sơn và Công ty cổ phần vận tải Hà Tiên.
Ông Nguyễn Thế Kham, Phó tổng giám đốc Tcty xi măng VN kiêm Trởng ban
đổi mới quản lý doanh nghiệp cho biết, Tcty có 15 đơn vị thành viên, nên số l-
ợng 3 công ty đã CPH cha phải là nhiều so với tổng số nhng cả 3 công ty này
đều có số vốn khá lớn so với những doanh nghiệp CPH ngoài ngành xi măng và
có tiến độ CPH rất khẩn trơng.
Kinh doanh hiệu quả, cổ phần bán nhanh
23
Công ty cổ phần bao bì Hoàng Thạch có số vốn pháp định ít nhất trong ba
công ty đã CPH, vào khoảng 7 tỷ đồng. Công ty cổ phần bao bì Bỉm Sơn có số
vốn pháp định khoảng 20 tỷ đồng. Còn Công ty cổ phần vận tải Hà Tiên có số
vốn pháp định là 48 tỷ đồng. Cả ba công ty này đều bán hết cổ phần trong thời
gian ngắn. Chậm nhất là Công ty cổ phần bao bì Bỉm Sơn bán trong 10 ngày.
Nhanh nhất là công ty cổ phần vận tải Hà Tiên chỉ trong vòng 9 giờ đồng hồ là
bán xong.
Kết quả kinh doanh sau CPH ở ba công ty này cũng rất khả quan. Tại Công ty
bao bì xi măng Bỉm Sơn, trớc khi CPH, đã nhiều năm không sử dụng hết thiết bị,
chất lợng sản phẩm còn xấu và kém, không đạt đợc công suất thiết kế. Nhng chỉ
sau 7 tháng đi vào hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, Công ty đã sử
dụng hết 100% công suất thiết bị và đạt công suất thiết kế là 20 triệu vỏ bao xi
măng/năm. Mức cổ tức đề ra trong kế hoạch là 14%/năm nhng thực tế đạt đợc
14,5%, cao hơn 0,5%.
Thu nhập của ngời lao động trong công ty, nếu nh trớc đây thờng phải lấy quỹ
lơng của bộ phận sản xuất xi măng của Nhà máy xi măng Bỉm Sơn bù qua, thì
nay mức lơng thậm chí còn cao hơn là lơng của công nhân viên trực tiếp sản
xuất xi măng. Tại Công ty cổ phần bao bì Hoàng Thạch, tình hình sản xuất và
trình và kế hoạch cụ thể hàng năm về CPH các DN thuộc phạm vi quản lý. Công
tác tuyên truyền, vận động CPH vẫn bị xem nhẹ, cha tạo ra sự quan tâm và hởng
ứng tích cực của xã hội, tỷ lệ bán CP ra ngoài DN còn thấp và cha thành quy
định bắt buộc.
2. Công tác xác định cơ chế, chính sách CPH.
Chính sách, cơ chế về CPH vẫn còn nhiều vấn đề không đợc cụ thể, làm cho
các bộ phận thực hành nghiệp vụ không thống nhất đợc cách xử lý, và kiểm tra,
24
thẩm định các kết quả của doanh nghiệp, mất nhiều thời gian và công sức. Cơ
chế, chính sách liên quan đến CPH ban hành thiếu đồng bộ, quy trình và thủ tục
phức tạp.
# Nghị định 28 CP sau một thời gian đi vào thực tiễn đã bộc lộ những nội
dung cha theo kịp tiến trình. Hơn thế còn quá cứng nhắc trong xử lý những vấn
đề phát sinh làm chậm trễ tốc độ cổ phần hoá tại nhiều doanh nghiệp. Yêu cầu
sửa đổi, bổ sung nghị định 28 CP mang tính chất cấp thiết, gắn liền với việc đẩy
nhanh tốc độ cổ phần hoá. Song việc tiến hành lại rất chậm: năm 1997 chỉ sửa
đổi nội dung thẩm quyền quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nớc thành công
ty cổ phần (Nghị định 25/CP ngày 26/03/1997) và phải đến tháng 6 năm 1998
mới có sự thay đổi hoàn toàn bằng nghị định 44. Dù vậy khi triển khai trên thực
tế NĐ 44 cũng đã bộc lộ không ít những hạn chế, có những nội dung cơ chế,
chính sách cha thực sự bám sát đời sống doanh nghiệp.
Chính sách đối với các DN sau khi thực hiện CPH, đặc biệt là về tài chính,
tín dụng, đất đai v.v cha đợc quy định rõ, nên các cơ quan quản lý Nhà nớc ở
trung ơng và địa phơng xử lý rất khó khăn và không kịp thời những vớng mắc
phát sinh cho DN. Đồng thời, cha tạo ra môi trờng thật sự bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế, DNNN vẫn đợc nhiều u đãi hơn và một số cán bộ quản lý ở
các ngành thờng coi những DN đã CPH là DN ngoài quốc doanh nên còn có ý
thức phân biệt đối xử. Việc quản lý Nhà nớc đối với DN đa sở hữu có vốn Nhà
nớc mỗi nơi vận dụng một khác, khi thì theo Luật DNNN, khi thì theo Luật
công ty trớc đây.
25