a.Phần mở đầu.
Trong công cuộc đổi mới những năm qua, nền kinh tế nớc ta có những
bớc tăng trởng ngoạn mục, thu hút sự chú ý của các nớc trên thế giới.
Nớc ta với diện tích tự nhiên hơn 330.000 km, hơn 10 triệu ha đất nông
nghiệp tập trung ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam bộ và hàng
chục triệu ha rừng, khí hâu nhiệt đới, nóng ẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của hệ thống sinh thái đa dạng, nớc ta có tiềm năng về cây
nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến
Do vậy cho nên nớc ta có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các
loại cây nguyên liệu nông sản cho công nghiệp chế iến nh: lúa, cà phê, cao
su, cà phê, bò sữa, hồ tiêu, chè, ngô, mía đờng, rau quả, chăn nuôi tuy
nhiên một thực tế đáng buồn là hầu hết các mặt hàng nguyên liệu nông sản
trong nớc hoặc không đảm bảo về số lợng, hoặc là không đáp ứng yêu cầu về
chất lợng, do đó tình trạng vừa thừa , vừa thiéu nguyên liệu vẫn xảy ra thờng
xuyên gây khó khăn cho sự phát triển của hai ngành sản xuất công nông
nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Đối với ngành nông nghiệp, làm thế nào đề góp phần chuyển đổi cơ cấu
nông nghiệp phát triển vùng nguyên liệu thay thế cho nhập khẩu. Bài toán
quyết định nhất cho nông nghiệp là sự chuyển đổi gắn với công nghiệp.
Đối với với ngành công nghiệp chế biến. Muốn sản xuất có lãi phải giải
quyết hàng loạt vốn để trong đó phát triển bền vững vùng nguyên liệu nông
sản là tiền đề cho sự phát triển ngành công nghiệp chế biến.
Tuy nhiên việc phát triển vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành công
nghiệp chế biến sao cho hiêu quả vẫn là vấn đề bức xúc đối với nền kinh tế
nói chung, ngành công nghiệp chế biến nói riêng, cũng nh các ban ngành,
các cấp có liên quan.
Xuất phát từ yêu cầu bức thiết đó mà em trọn đề tài "Tăng cờng liên
kết giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông sản ở Việt
Nam"
Trong quá trình thu thập và làm tiểu luận này em đợc TS. Nguyễn Đình
Hợi giúp đỡ tận tình. Em xin chân thành cảm ơn Tiến Sĩ
xét trên một số khía cạnh chủ yếu.
Một là: nông nghiệp phục vụ công nghiệp trớc hết phải kể đến năng lực
cung ứng lơng thực, nguyên liệu công nghiệp
Chính sách nông nghiệp và lơng thực qua các thời kỳ đều có những cải
tiến, nhng phải đến năm 1989 mới tạo ra bớc phát triển rõ rệt. Từ năm 1975-
1988 trong cả nớc sản xuất nông nghiệp đã không đảm bảo cung cấp đủ số l-
ơng thực, chất lợng lơng thực thực phẩm cần thiết cho công nghiệp. Toàn bộ
khu vực công nghiệp phải tiêu dùng lơng thực, thực phẩm theo định hớng co
hẹp. Nhu cầu tiêu dùng lơng thực của cả khu vực phi công nghiệp cha vợt
quá bốn triệu tấn/ năm
Ngoài lơng thực, nông nghiệp còn cung ứng cho công nghiệp các nông
sản làm nguyên vật liệu nh đậu tơng, lạc, mía, thuốc lá, bông, dừa quả, chè
bán, cà phê nhân, mủ cao su, hồ tiêu với mức tăng đáng kể qua các năm.
Bên cạnh đó, nông thôn cũng là thị trờng có nhiều tiềm năng của công
nghiệp bao gồm: thị trờng tiêu thụ vật t kỹ thuật, thị trờng hàng tiêu dùng, thị
trờng nguồn nhân lực Nhng do thu nhập và mức sống của nông dân hiện nay
nói chung còn thấp nên tiềm năng này cha dợc phát huy đầy đủ.
Hai là: Công nghiệp phục vụ nông thôn chủ yếu trên các mặt trang bị
kỹ thuật cho nông nghiệp, cung cấp hàng tiêu dùng cho nông thôn, phát triển
công nghiệp nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới"
Trong mấy chục năm qua tỷ lệ đầu t từ ngân sách nhà nớc cho nông
nghiệp qua các năm thờng xoay trên dới 20% phần lứon vốn đều đa đầu t cho
khu vực nông nghiệp quốc doanh và thuỷ lợi, do đó công nghiệp xây dựng có
vai trò quan trọng đối với nông nghiệp, nó giúp xây dựng các công trình thuỷ
lợi phục vụ cho tứói tiêu tông nông nghiệp
Ngoài ra nớc còn đầu t xây dựng các nhà máy sản xuất phân bón và các
nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu phục vụ cho công nghiệp.
Mặc dù việc trang bị công cụ sản xuất, nhất là công cụ cơ giới hoá khâu
làm đất năm cao nhất mới đạt 25%. Một số vùng có thời gian còn thiếu cả
công cụ thờng và công cụ cải tiến. Sau khi thực hiện nghị quyết 10 của BTC
sản xuất kinh doanh có hiệu qua hơn, ngợc lại nếu doanh nghiệp cũng có tác
động trở lại ngời sản xuất nguyên liêu, doanh nghiệp mà làm ăn có hiệu quả
thì giúp cho ngời sản xuất nguyên liệu bán đợc nhiều hàng với giá thành
chấp nhận đợc, từ đó làm tăng thu nhập của ngời sản xuất nguyên liệu. chính
vì vậy sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông sản có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Nếu tăng cờng liên kết giữa sản xuất nguyên liệu và
công nghiệp chế biến tốt thì sẽ góp phần công lớn vào sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng, giúp phát triển kinh tế n-
ớc nói chung.
2. Tiền đề lý luận và thực tiễn của việc tăng cờng liên kết giữa sản xuất
nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông sản.
2.1 Tiền đề lý luận.
Do lực lợng sản xuất xã hội phát triển dẫn đến phân công lao động xã
hội cũng phát triển theo. Xã hội loài ngời đã chải qua ba cuộc phân công lao
động lớn đó là: tách chăn nuôi khỏi trồng trọt, tách tiểu thủ công nghiệp khỏi
nông nghiệp và sự ra đời của thơng nghiệp thành một ngành độc lập. Chính
sự phân công lao động xã hội đó dần dần đã làm ra đời ngành nông nghiệp
và ngành công nghiệp độc lập với nhau, nhng để tồn tại và phát triển lâu dài
thì chúng ta phaỉ liên kết với nhau. bởi vì nông nghiệp là nơi cung cấp phần
lớn nguyên liệu cho ngành công nghiệp. có chức năng tiêu thụ các sản phẩm
đầu ra của sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm công nghiệp hàng tiêu dùng,
công nghiệp nặng ( máy móc).l
Do mối quan hệ giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến
nông sản xuất phát từ mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp cho
nên tiền đề lý luậ của liên kết giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế
biến nông sản cũng xuất phát từ sự phát triển của lực lợng sản xuất và phân
công lao động xã hội phát triển mà biểu hiện của phân công lao động xã hội
giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến là sự chuyên môn hoá
giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến. Chuyên mon hoá giữa
sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến là chuyên môn hoá theo giai
thu hoạch) của từng loại cây trồng, vật nuôi. Việc nghiên cứu sản xuất giống
mới, nhập khẩu giống mới vào sản xuất nông nghiệp cần phải thận trọng,
phải qua khảo nghiệm. Kiểm trả chặt chẽ và phải đợc khu vực hoá đối với
từng vùng sinh thái từng loại đất đai hoặc nhập khẩu các loại cây trồng, vật
nuôi không thích hợp sẽ gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông ghiệp.
Nhận thức và vận dụng các quy luật vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp
không có nghĩa là con ngời hoàn toàn lệ thuộc vào chúng và bất lực trớc tự
nhiên. Cùng với sự phát triển của khoa học và côngnghệ, con ngời ngày càng
có khả năng cải tạo tự nhiên, phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời sống. Vì
vậy, mỗi quốc gia bên cạnh việc thực hiện các giải pháp trên cần có chiến lợc
đầu t cải tạo, chinh phục thiên nhiên, phục vụ phát triển nông nghiệp toàn
diện theo hớng sản xuất hàng hoá, đặc biệt là những vùng có khả năng.
Do chịu ảnh hởng rất lớn của điều kiện tự nhiên sản xuất nông nghiệp
thờng gặp phải thiên tai, lũ lụt gây thiệt hại lớn đến kết quả thu hoạch. vì vậy
đòi hỏi nhà nớc phải nghiên cứu các chính sách bảo hiểm sản xuất, chính
sách bảo trợ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và chính sáhc hỗ trợ cho
nông dân khi có thiên tai nói riêng
Do đặc điểm của sản phẩm nông nghiệp nên để giảm tồn thất sau thu
hoạch và đảm bảo nâng cao chất lợng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nớc và xuất khẩu cần chú trọng đầu t cho cong nghệ sau thu hoạch nh
chế biến, bảo quản, vận chuyển, hệ thống kho chứa vv
2.2.2 Chu kỳ sản xuất nông nghiệp nói chung là dài và không giống
nhau giữa các loại cây trồng, vật nuôi.
Do đối tợng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sinh vật nên kết
quả sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào quy luật sinh trởng, phát dụng của
từng loại cây trồng, vật nuôi. Vì vậy trong nông nghiệp chu kỳ sản xuất nói
chung là dài và không giống nhạu giữa các loại cây trồng , vật nuôi. Đối với
những loại cây trồng ngắn ngày ( cây lơng thực, rau , đậu) hay những vật
nuôi chóng cho sản phẩm ( gia cầm) cũng phải từ 2 đến 3 tháng. còn đối với
những cây lâu năm ( cây công nghiệp, cây ăn quả các loại gia xúc lớn trâu,
các mùa nền mỗi loại cây trồng thờng có sự thích nghi nhất định với điều
kiện đó dẫn đến thời vụ gieo trồng và thu hoạch của các loại cây trồng cũng
rất khác nhau. Muốn hạn chế tính chất thời vụ cần lu ý, ở thời kỳ căng thẳng
cần đảm bảo đủ nhu cầu về công cụ sản xuất, tập trung sức lao động, tiền
vốn kịp thời. Cần có kế hoạch dữ trữ vật t, kỹ thuật; kế hoạch huy động sức
lao động và vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu trong lúc mùa vụ khẩn
trơng. Về phía nhà nớc và các ngành dịch vụ nông nghiệp ( tín dụng, vật t,
thuỷ nông) cần nghiên cứu thực hiện các chính sách, giải pháp, để đáp ứng
kịp thời nhu cầu vật t tiền vốn cũng nh các dịch vụ kỹ thuật; đáp ứng kịp thời
nhu cầu thời vụ của từng loại cây trồng.
2.2.4 Trong nông nghiệp, ruộng đất là t liệu sản xuất cơ bản hàng đầu
và đặc biệt không thể thiế, không thể thay thế đợc.
Ruộng đất tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm nông
nghiệp. Nó không chỉ là điều kiện vật chất để tồn tại ngành này mà còn tham
gia với vai trò là t liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp. Hiệu quả của sản
xuất nông nghiệp nói chung phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng ruộng đất. Mặt
khác, hiệu quả sử dụng ruộng đất lại phụ thuộc vào mức độ đầu t các t liệ sản
xuất khác ( vật t, giống, thủy lợi) đầu t vốn vào đơn vị diện tích đất đai sử
dụng và phụ thuộc vào việc giải quyết quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền
sử dụng ruộng đất, giải quyết quan hệ giữa ruộng đất và nông dân.
Ruộng đất tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp với t cách t
liệu sản xuất nhng nó có những đặc điẻm khác với t liệu sản xuất khác, ruộng
đất là tài nguyên thiên nhiên có giới hạn về diện tích, có vị trí cố định và chất
lợng đất đai không đồng đều giữa các vùng Những đặc điểm đó có ảnh h-
ởng lớn đến việc khai thác, sử dụng ruộng đất. Vì vậy, cần đợc nghiên cứu và
vận dụng một cách thích hợp vào thực tiễn phát triển nông nghiệp. Trong đó
cần đặc biệt quan tâm đến chính sách đầu t cho công tác phân vùng, quy
hoạch sử dụng ruộng đất, chính sách thuế sử dụng đất nói chung và đất nông
nghiệp nói riêng.
2.2.5 Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm vi không gian lớn, phức
kết giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến. Bởi vì:
Công nghiệp chế biến sẽ giúp bảo quản nông sản trong một thời gian
dài và nó có thể tạo ra nhiều các tác dụng khác nhau, cho nên nó làm tăng ía
trị của hàng hoá nông sản , đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng của xã hội và
tăng nhanh xuất khẩu. Nếu một ngành công nghiệp chế biến ở trình độ cao
thì mọi nguồn nguyên liệu đề trở nến có giá trị, không cs thứ nào bở phí, kể
cả loại phu, phến phẩm trong quá trình chế biến. Chẳng hạn nh công nghiệp
mía đờng hiện đại , nó sử dụng mía cây để ép lấy nớc từ thân cây mía để làm
ra đờng ăn, nhng trong quá trình ấy có rất nhiều phế phẩm là các vỏ cây mía,
vỏ cây mía khi trớc thì ngời ta bỏ đi cho nên tốn rất nhiều công sức để mang
bỏ chúng đi, còn ngày nay với trình độ công nghệ hiện đại ngời ta sử dụng
vở mía để ép thành các loại ván ép có thẩm mỹ và chất lợng có thể chấp nhận
đợc, vì vậy nó làm tăng thêm hiệu quả sản xuất kinh doanh lên. ở nớc ta
hiên nay công nghiệp chế biến đã bắt đầu phát triển nên nhiều loại nông sản
ở nớc ta hiên nay công nghiệp chế biến đã bắt đầu phát triển nên nhiều loại
nông sản trớc đay không đợc coi trọng, nhng nay có thể là những cây nông
nghiệp có giá trị kinh tế nh: sắn, các loại cây có bột khác, đặc biệt là các
loại cây công nghiệp nh: chè, cà phê, chăn nuôi bò lấy sữa, hồ tiêu, thuốc lá,
hạt điều.
Nhờ có sự ra đời của ngành công nghiệp chế biến cho nên ngời ta có thể
đầu t vào sản xuất hàng hoá nông sản với số lợng lớn nh ở nớc ta hiện nay
đã hình thành đợc một số vùng sản xuất hàng lớn nh chè ở Thái Nguyên, cao
su, hồ tiêu, cà phê ở Tây nguyên, cây ăn quả ở Nam bộ.
Nh vậy liên kết giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến tốt
thì nó góp phần vào sự nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
của nớc ta góp phần trực tiếp và to lớn vào tốc độ tăng trởng kinh tế của đất
nớc làm thay đổi quan hệ xuất nhập khẩu thay đổi cán cân ngoại thơng, làm
thay đổi nhanh bộ mặt kinh tế xã hội đất nớc
Chơng II
Thực trạng liên kết giữa sản xuất nguyên liệu và
- Chủ thể của hợp đồng kinh tế phải hợp phápháp luật
Chủ thể của hợp đồng kinh tế là các chủ thể có t cách pháp nhân, còn
bên kia là pháp nhân hay cá nhan có đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật và phải kí kết trong phạm vi nghề nghiệp kinh doanh đã ký
Pháp nhân phải là một tổ chức có đủ các điều kiện sau:
* Là một tổ chức thành lập một cách hợp pháp.
* Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng các tài sản đó.
* Có quyền quyết định một cách độc lập về các hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
* Có quyền tự mình tham gia các quan hệ pháp luật.
- Nội dung của hợp đồng kinh tế phải hợp pháp luật:
Theo quy định tại điều 12 pháp lệnh kinh tế thì hợp đồng kinh tế bao
gồm các điều khoản sau đây.
1. Ngày tháng năm ký hợp đồng
Tên, địa chỉ, tài khoản, ngân hàng giao dịch của các bên
Họ, tên ngời đại diện, ngời đứng tên đăng kỳ KINH DOANH
2. Điều khoản đối tợng của hợp đồng: tức là bên trao đổi, mua
bán, giao dịch về cái gì? công việc gì?
3. Điều khoản chất lợng
4. Điều khoản về giá cả
5. Điều khoản về bảo hành
6. Điều khoản về nhiệm thu, giao nhận
7. Điều khoản về phơng thức thanh toán
8. Điều khoản về trách nhiệm do vị phạm hợp đồng kinh tế
9. Điều khoản thời hạn có hiệu lực của hợp đồng
10. Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng
11. Các bên có quyền xây dựng những điều khoản thể hiện sự thoả
thuận về các vấn đề khác không trái quy định của pháp luật.
* Hình thức hợp đồng kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản và
các nhà sản xuất nguyên liêu. Đây là một hợp đồng đợc ký kết giữa doanh
phổ thông đợc trào bán, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lalạp có thể
chuyển nhợng cho ngời không phải là cổ đông nêú đợc sự chấp nhậ của Đại
hội cổ đông. Cổ đông dự định chuyển cổ phần không có quyền biểu quyết về
việc chuyển nhợng các cổ phần đó của luật này .
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lợng cổ đông tối thiểu là 3 và
không hạn chế số lợng tối đa.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo
quy định của pháp luật về chứng khoán.
- Công ty cổ phần có t cách pháp nhân kể từ ngày đựoc cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.
Là doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng, công ty cổ phần có đẩy đủ
các quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp cụ thể là
Công ty có các quyền sau:
- Chiếm hữu sử dụng, định đoạt các tài sản của công ty.
- Chủ đọng lựa trọng ngành, nghề khác, chủ động mở rộng quy mô và
ngành nghề kinh doanh.
- Chủ động tìm kiếm thị trờng, khách hàng và kí kết hợp đồng
- Lựa trọn hình thức và cách thức huy động vốn
- kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu
- Tuyển và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh.
- Tự chủ kinh doanh, chủ động áp dụng phơng pháp quản lý khoa học,
hiện đại để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không đợc pháp
luật quy định của bất kì cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào, trừ những khoản
tự nguyên đóng góp vì mục đích nhân đạo và công ích.
- Các quyền khác do pháp luật quy định.
* Công ty có nghĩa vụ sau:
- Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đắng kí.
- Lập sổ kế toán, hoá đơn chứng từ và lập báo cáo tài chính trung thực,
chính xác.
cổ phần, từ đó phát hành cổ phiếu và trái phiếu bán cho những ngời trong
công ty và những ngời ngoài doanh nghiệp theo tỷ lệ nhất định, đặc biệt là
bán cổ phiếu cho ngời nông dân cung cấp nguyên liệu đầu vào cho nhà máy.
- Tác dụng: Việc cổ phần hoá các nhà máy chế biến đó đã làm cho ngời
nông dân gắn bó với nhà máy, bởi vì một phần tài sản của doanh nghiệp cũng
là của họ, nếu nhà máy làm ăn có hiệu quả thu đợc nhiều lợi nhuận cao thì
họ cũng bán đợc các sản phẩm nguyên liệu là đầu vào cho nhà máy với giá
cả tốt, ngoài ra khi doanh nghiệp lam făn có lãi thì họ cũng đợc hởng một
phần lợi nhuận đó. Chình vì vậy việc liên kết giữa sản xuất nguyên liệu và
công nghệ chế biến thông qua việc hình thành các công ty cổ phần là rất có
hiệu quả, cần đựoc phát huy và mở rộng.
Thực tiễn những năm qua một số doanh nghiệp chế biến đã cổ phần hoá
đã làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiêụ quả hơn.
Đạt đợc điều đó chính là nhờ có cỏ phần hoá mà mối quan hệ giữa sản xuất
nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông sản gắn bó mật thiết với nhau, đó
là nhờ vào mối quan hệ lợi ích gắn bó với nhau mật thiết
2.Nhứng thành tựu đạt đợc.
2.1 Từ phía sản xuất nguyên liệu nông sản
2.1.1 Về công tác quy hoạch.
Trong những năm qua, công tác quy hoạch đã đợc chú trọng và thực
hiện đồng bộ hơn. Đã hình thành đợc một số vùng sản xuất nguyên liệu tập
trung gắn với công nghiệp chế biến. Nớc ta đã hình thành đợc các vùng sản
xuất hàng háo có quy mô lớn nh: vùng lúa đồng bằng Sông Cửu Long, vùng
cây ăn quả ở Nam Bộ, Bắc Giang) vùng chuyên canh cây công nghiệp ở Tây
Nguyên ( cà phê, cao su, tiêu, điều), Vùng lúa ở Đồng Bằng Sông Hồng,
vùng lúa ở Duyên Hải miền Trung
2.1.2. Sản lợng và chất lợng nguyên liệu:
Nhờ động lực to lớn của chính sách đổi mới thập lỷ 90 đã đánh dấu
một thời kỳ quan trọng của nông nghiệp Việt Nam chuyển mạnh từ nền sản
xuất t cấp , tự túc sang sản xuất hàng hoá. Liên tục trong 10 năm ( 1989-
thuỷ lợi tăng lên gần 3 triệu ha năm 1996, đảm bảo tới gần 80% diện tích
giao trồng.
2.1.4. Về công tác tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu.
Việc sản xuất quản lý vùng nguyên liệu ngày càng đợc tổ chức khoa
học luôn theo hớng kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ trong
đó đóng vai trò tiên phong phải kể đến 2 nông trờng Sông Mậu và Nông tr-
ờng Cờ Đỏ.
2.1.5 Về lợi ích của ngời dân:
Đời sống nông dân ở hầu hết các vùng đợc cải thiện rõ rệt. Thu nhập
bình quân hộ đạt hơn 10 triệu đồng/ năm, tăng 29,8% so với năm 1993. Hộ
đói nghèo ở nông thôn giảm 8,08% lên 20%. Tốc độ tăng thu nhập bình
quân hàng năm ở khu vực nông thôn trong 3 năm 1996-1999 là 6% thu nhập
bình quân đầu ngời trên năm 1999 so với năm 1992 đều tăng từ 3 đến 4,85
lần
2.2 Công nghiệp chế biến
Nhờ có sự liên kết có hiệu quả nên trong những năm qua có hàng loạt
các nhà máy chế biến nông sản ra đời với công nghệ và kỹ thuật hiện đại của
thế giới, chế biến nhiều các loại nông sản khác nhau nh: chè, cà phề, hạt
điều, rau quả, mía cây cho nên dã hình thành đợc nhiều vùng sản xuất nông
sản hàng hoá lớn có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà máy.
Nông sản hàng hoá lớn có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà máy chế
biến nông sản ra đời, với công nghệ và kỹ thuật hiện đại của thế giới, chế
biến nhiên liệu các loại nông sản khác nhau nh: chè, cà phê, hạt điều , ra qủa,
mía cây cho nên đã hình thành đợc nhiều vòng sản xuất nông sản hàng hoá
lớn có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà máy.
Nhờ vậy trong những năm qua chúng ta đã chế biến ra các sản phẩm
không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc và hàng năm chúng ta đã
xuất khẩu và thu về lợng ngoại tệ lớn cho đất nớc, làm giảm cán cân giữa
xuất và nhập khẩu. Nh năm 2000 chúng ta xuất khẩu 4,35 USD, năm 2001
đạt 4,379 tỷ USD, năm 2002 đạt 4,6 tỷ USD
là gần 1,2 tỷ đô la, năm 1995 là gần 2,5 tỷ đô la, năm 2001 là gần 4,4 tỷ đo
la ( theo liên giám thống kê 2000)
3. Hạn chế.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, việc thực hiện liên kết đó vẫn
còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện hợp đồng giữa doanh nghiệp và ngời sản
xuất nguyên liệu còn nhiều vấn đề bất cập, hợp đồng còn cha mang tính pháp
lý cao lên trong những năm vừa qua đã xảy ra nhiều hiện tợng vi phạm hợp
đồng làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, làm cho họ mất lòng tin
vào nhau. Ví dụ nh ở công ty Bông ó Đồng Lai liên vụ 2002 - 2003 có tình
trạng ngời nông dân vi phạm hợp đồng ký với công ty Bông Đông Lai. Ngay
khi vừa khởi động vụ thu hoạch bông ( 12/2002) từ thởng đã tranh mua quyết
liệt làm cho giá bông lên cao và nhân dân đã bán bông cho t thơng, mà
không bán ho nhà máy theo hợp đồng đã ký dẫn đến công nhân thì không có
việc làm hoạt động sản xuất nhà máy bị đình đốn.
Ngoài ra còn có trờng hợp vi phạm từ phía nhà máy nh tình trạng mấy
năm trớc do giá đờng đã ký làm cho công nhân phải đót bỏ mía, làm cho ng-
ời dân đã nghèo lại càng nghèo hơn.
Chình vì vậy những hạn chế trên cho nên làm ảnh hởng tới hoạt động
xuất khẩu nông sản của nớc ta, hoạt động xuất khẩu nông sản vẫn còn cha t-
ơng xứng với tiềm năng thế mạnh của nớc ta về phát triển nông nghiệp, làm
giảm tốc độ tăng trởng kinh tế
4. Nguyên nhân :
4.1. Nguyên nhân từ các cấp quản lý
- Trình độ tổ chức và thực hiện quy hoạch:
+ Cha gắn kết với quy hoạch với chính sách thực hiện quy hoạch, tạo ra
là tổng cho việc phát triển tự phát, kém bền vững, dẫn đến tình trạng vừa
thừa vừa thiếu nguyên liệu.
+ Trinh độ tổ chức và thực hiện các quy hoạch của các cấp quản lý còn
nhiều hạn chế
+ Do việc xử lý vi phạm hợp đồng của pháp luật cha dứt điểm, còn lúng
- Lâu nay có hiện tợng khi mấy cha xây dựng thì nông dân đã trồng tự
phát, ồ ạt tràn lan, không ai mua, sau khi có nhà máy, nông dân đã mỏi mệt
chuyển sang cây trồng khác, dự án sản xuất lại khan hiếm nguyên liêu.
4.3 Từ phía ngời nông dân.
- Do nhận thức từ phía ngời nông dân thấp kém về kiến thức thị trờng,
nông dân không có khả năng dự toán về nhu cầu, xu hớng phát triển của thị
trờng, mùa chủ yếu hành động mang tính tự phát là chủ yếu, ồ ạt trồng khi
giá nguyên liệu lên cao rồi lại ào ạt phá khi giá xuống, không theo quy định.
- Ngời nông dân còn cha quen với cung cách làm ăn mới là thông qua
hợp đồng khiến nhiều doanh nghiệp muốn thực hiện cũng khó tìm đối tác.
- Tỷ lệ lao động đợc đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn rất thấp, thực tế
này ảnh hởng rất lớn đến chất lợng nguyên liêu.
4.4 Ngoài ra còn những nguyên nhân khác
- Kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là hạ tầng phục vụ sản xuất tuy đã có
nhiều tiến bộ đáng kể, song so với yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn trong
giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn rất kém và lạc hậu.
- Nhìn chung cơ cấu kinh tế nông thôn hiên nay vẫn nặng nề về sản xuất
nông nghiệp độc cạnh ở nhiều vùng với năng suất và chất lợng nông sản cha
cao, độ đồng đều thấp, mức độ tập trung hàng hoá cha nhiều. Việc chuyển
đổi cơ cấu sản xuất tuy có tiến bộ một bớc, nhng chậm và không vững chắc.
Đặc biệt không ít nơi chuyển dịch thiếu định hớng quy hoạch manh mún,
mang tính tự phát.
- Lực lợng lao động ở nông thôn có trình độ thấp, phần lớn cha đợc đào
tạo nghề nghiệp chỉ có khoảng 3,5% lao động đợc đào tạo so với tổng số lao
động ở nông thôn. Chủ yếu vẫn là lao động thủ công, có bản năng kém và
chất lợng kém. Điều đó đã và đang là thách thức to lớn trong việc liên kết
giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến
- Sự thành công của 17 năm đổi mới, bên cạnh vịêc có cơ chế chính
sách đúng đắn phải thừa nhận yếu tố khoa học, công nghệ trớc hết là công
nghệ sinh học đã góp phần quan trọng cho sự thành công này. Song nhìn