thực trạng và hậu quả của hoạt động rửa tiền - Pdf 10

Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
Mục lục
Mở đầu
Nội dung

2
Chơng I: Lý luận chung về rửa tiền

2
1. Khái niệm rửa tiền

2
2. Chu trình rửa tiền

3
3. Các hình thức rửa tiền

6
Chơng II: Thực trạng và hậu quả của hoạt động rửa tiền

13
1. Thực trạng hoạt động rửa tiền ở Việt Nam và trên thế giới

13
2. Hậu quả của nạn rửa tiền

21
Chơng III: Giải pháp chống rửa tiền

25
1. Kinh nghiệm chống rửa tiền ở các nớc trên thế giới

Hoạt động rửa tiền đã xuất hiên từ rất lâu trên thế giới và càng ngày nhu
cầu rửa tiền càng tăng lên. Có hai xu hớng rửa tiền chính: thứ nhất là sự
dính líu ngày càng nhiều của các chuyên gia rửa tiền trong hoạt động rửa
tiền . Các tổ chức tội ác ngày càng có xu hớng chuyển giao nhiệm vụ rửa
tiền cho nhhững chuyên gia rửa tiền bởi vì những phơng pháp cần sử
dụng để lách luật và tránh sự phát hiện rất tinh vi và phức tạp. Các
chuyên gia rửa tiền không chỉ giỏi che giấu gốc gác phi pháp của số tiền
mà còn có thể sử dụng số tiền đó để đầu t vào bất động sản, cổ phiếu, trái
phiếu hay các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp khác. Thù lao trả cho các
chuyên gia rửa tiền ngày càng tăng từ 6%- 8% vào đầu thập niên 80 lên
đến 20% vào giữa thập niên 90. Chính sự trợ giúp của những chuyên gia
rửa tiền cho bọn tội phạm đã dẫn tới xu hớng thứ hai, đó là toàn cầu hoá
hoạt động rửa tiền. Xu hớng này bắt nguồn từ hai nhân tố: sự hội nhập
toàn cầu của các thị trờng tài chính và nỗ lực của bọn tội phạm nhằm
tránh sự phát hiện và tịch thu những tài sản bất minh bằng cách lợi dụng
những nớc thiếu pháp luật chống rửa tiền hoặc luật chống rửa tiền cha
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
3
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
phát triển và việc thực thi luật đó không nghiêm, đặc biệt là những nớc đ-
ợc xếp vào nhóm nớc nền kinh tế thị trờng mới nổi. Bằng cách quốc tế
hoá hơn nữa các hoạt động tội ác, những kẻ rửa tiền trên thực tế đang lợi
dụng xu hớng toàn cầu hoá để đầu t vào các hàng hoá và dịch vụ tài
chính hợp pháp.
Thông thờng có ba phơng thức để xử lý đồng tiền bất chính, đó là tích trữ
tiền mặt, vận chuyển tiền mặt qua biên giới và giao dịch chuyển tiền
thông qua hệ thống tài chính ngân hàng. Trong đó, đến 90% số tiền đợc
rửa thông qua hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng đơng nhiên trở thành
mục tiêu khoái khẩu của giới rửa tiền do các dịch vụ và công cụ thanh
toán đa dạng của nó nh chi phiếu, séc du lịch và nhất là hiện nay là sự

thờng đợc coi là rủi ro nhất bởi khả năng gây ra nghi ngờ là lớn nhất.
Việc chuyển những khoản tiền lớn thu đợc từ những buôn bán ma tuý
hoặc các hoạt động tội ác khác thờng liên quan đến việc chuyển lậu tiền
mặt từ nớc này sang nớc khác. Lợng tiền mặt chuyển lậu ngày càng tăng
do các quy chế theo dõi, giám sát việc chuyển tiền mặt của các tổ chức
tài chính và công ty thơng mại ngày càng trở nên chặt chẽ.
Sau bớc thâm nhập là bớc xoá dấu vết, bớc này thờng liên quan đến một
chuỗi các giao dịch nhằm che giấu nguồn gốc của những khoản tiền phi
pháp. Đây là bớc phức tạp nhất và về bản chất có tính quốc tế hoá cao
nhất. Trong bớc này, kể rửa tiền có thể bắt đầu bằng việc chuyển tiền
điện tử từ nớc này sang nớc khác, sau đó chia thành những khoản tiền
nhỏ hơn để đầu t vào các công cụ tài chính nh trái phiếu, cổ phiếu chi
phiếu du lịch và các chứng khoán khác Lệnh giao dịch có thể thực hiện
bằng máy tính cá nhân từ bất kỳ nơi nào trên thế giới và do đó thờng ít để
lại đấu vết cho việc kiểm toán. Hoặc cũng có thể đầu t vào thị trờng địa
ốc, các loại kinh doanh dịch vụ hợp pháp khác nh du lịch, giải trí, thành
lập các công ty trá hình tại các thiên đờng ngân hàng tài chính, chỉ cần
thuê tên các giám đốc ngời bản địa để che giấu lý lịch thật của chủ công
ty. Hàng hoá sẽ đợc bán lại với giá rẻ và khoản lỗ do bán hàng với giá rẻ
coi nh phí rửa tiền, tiền bán thu về thờng phải bằng chi phiếu, chuyển
khoản Hình thức đòi nợ và hoá đơn đúp là những mánh khoé hay
dùng. Trong hình thức đòi nợ, bọn tội phạm thờng gửi tiền ở nớc ngoài
để bí mật kiểm soát sau đó ném tiền vào các công ty đòi nợ trở lại. Còn
hình thức hoá đơn đúp tức là với việc chuyển tiền ra hoặc vào một nớc
một ngân hàng nớc ngoài thờng qui ớc giữ hai quyển sổ hoá đơn. Một
hình thức rửa tiền khác đợc phần lớn giới tội phạm a thích, đó là rửa tiền
qua sòng bạc. Tiền đợc đa đến sòng bạc để đổi thành các jeton để giả
chơi trò đỏ đen, sau đó các jeton này đợc đổi ngợc trở lại để lấy chi
phiếu, séc, số tiền này coi nh tiền đợc bạc và có thể rút tại ngân hàng của
sòng bạc. Nh vậy hình thái ban đầu của tiền đã đợc chuyển đổi. Sự

có thể sử dụng séc và các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt nhng
lại đặt vào tàI khoản một khoản tiền mặt lớn bất thờng.
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
6
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
Có sự tăng lên đáng kể về những khoản tiền mặt gửi vào của cá nhân hay
tổ chức kinh doanh mà không có nguyên cớ rõ ràng, đặc biệt nếu nh
những khoản tiền đó lại đợc chuyển ra ngoàI trong một thời gian ngắn
hoặc chuyển cho ngời đợc thụ hởng không có quan hệ thờng xuyên với
khách hàng.
Các khách hàng đặt tiền mặt làm nhiều lần, mỗi khoản đó không đáng là
bao nhng tổng số những khoản gửi vào đó lại là đáng kể.
Những tài khoản của một công ty mà trong đó những khoản tiền đặt vào
cũng nh rút ra đều dới dạng tiền mặt nhiều hơn là ghi nợ trên tài khoản
thờng có liên quan đến những hoạt động thơng mại nh séc, th tín dụng,
hối phiếu
Những khách hàng thờng xuyên chi trả hay nộp tiền mặt để chi trả cho
những hối phỉếu ngân hàng, chuyển tiền hay chi trả những công cụ tiền tệ
dễ mua bán trên thị trờng.
Các khách hàng tìm kiếm để đổi một lợng lớn những tờ bạc giá trị nhỏ để
lấy tờ lớn hơn hoặc thờng xuyên đổi tiền mặt ra những ngoại tệ khác.
Các chi nhánh có khối lợng giao dịch tiền mặt lớn hơn thờng lệ.
Những khách hàng có khoản tiền gửi bằng kỳ phiếu giả mạo hay những
công cụ lừa đảo khác.
Những khách hàng chuyển số lợng lớn tiền ra hay vào từ nớc ngoài với
lệnh trả bằng tiền mặt.
Những khoản tiền gửi bằng tiền mặt lớn sử dụng phơng thức gửi qua
đêm.
3.2. Rửa tiền thông qua việc sử dụng tài khoản ngân hàng :
Khách hàng muốn duy trì một số tài khoản tín thác hay những tài khoản

dụng nhiều két có đóng dấu để chuyển tiền vào và chuyển tiền ra.
Sử dụng văn phòng đại diện của công ty, tránh giao dịch với các chi
nhánh.
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
8
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
Tăng đáng kể tiền mặt gửi vào hay những công cụ dễ chuyển nhợng bởi
một công ty hay một doanh nghiệp chuyên môn, sử dụng các tài khoản
của đối tác hay tài khoản của công ty con cũng nh tài khoản tín thác, đặc
biệt nếu nh tài khoản tiền gửi đó lại đợc chuyển ngay giữa những tài
khoản của công ty đối tác hay tài khoản tín thác.
Những khách hàng từ chối thông tin mà trong những trờng hợp bình th-
ờng có thể cho khách hàng đợc đặt tiền hay có đợc những dịch vụ ngân
hàng khác đợc coi là có giá trị.
Sử dụng không hiệu quả những khả năng thông thờng của ngân hàng, có
nghĩa là tránh lãi suất cao cho những số d lớn.
Một số lợng lớn những cá nhân trả tiền vào cùng một tài khoản mà không
có một lý do thích hợp.
3.3 Rửa tiền thông qua giao dịch liên quan tới đầu t:
Mua các chứng khoán đợc lu giữ tại các tổ chức tài chính của khách hàng
đó.
Gửi tiền gối đầu hay cho vay gối đầu đối với các chi nhánh phụ, các phân
nhánh hay tổ chức tài chính nớc ngoài ở những nơi đợc biết đến nh
những khu kinh doanh thuốc.
Khách hàng yêu cầu dịch vụ quản lý đầu t (hoặc ngoại hối hay chứng
khoán) khi nguồn vốn không rõ ràng hay không phù hợp với tình trạng
thực tại của khách hàng.
Thanh toán số lợng lớn hay bất thờng số chứng khoán dới dạng tiền mặt.
Mua và bán chứng khoán với mục đích không xác định đợc hoặc trong
những trờng hợp bất bình thờng.

Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
10
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
Bất cứ một giao dịch nào với nhân viên mà trích ngang của ngời hởng
cuối cùng không đợc rõ ràng hoặc ngợc lại với qui trình thông thờng của
loại hình kinh doanh có liên quan.
3.6. Rửa tiền thông qua việc cho vay có bảo đảm hoặc không có bảo
đảm:
Khách hàng hoàn trả đợc những khoản nợ tồn đọng một cách đáng ngờ.
Yêu cầu vay bảo đảm bằng tài sản đợc giữ bởi một tổ chức tài chính hay
một bên thứ ba khi mà nguồn gốc của tài sản đó không đợc biết hay
những tài sản không phù hợp với tình trạng hiện tại của khách hàng.
Một khách hàng hay một tổ chức tài chính yêu cầu cung cấp hay chuẩn
bị vốn khi nguồn đóng góp tài chính của khách hàng vào giao dịch đó
không rõ ràng, đặc biệt là khi có vốn góp bằng tài sản.
Hệ thống tài chính ngày càng hoàn thiện và đa dạng các sản phẩm dịch
vụ của mình bao nhiêu thì giới tội phạm cũng tinh vi và lắt léo trong việc
sử dụng hệ thống này để rửa những đồng tiền bẩn này thành tiền hợp
pháp nhanh bấy nhiêu.
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
11
Hoµng ThÞ Thanh V©n TTCK42A
§Ò tµi: Röa tiÒn vµ chèng röa tiÒn
12
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
Chơng II: Thực trạng và hậu quả của hoạt
động rửa tiền.
1. Thực trạng hoạt động rửa tiền ở Việt Nam và trên thế giới:
Theo số liệu của của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), hàng năm hoạt động rửa
tiền chiếm tới 3-5% tổng số tiền trên thế giới, tức là có từ 590 đến 1500

dụ. Chính điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động rửa tiền của
bọn tội phạm. Cách đây 2 năm (năm 2000) tại Nhật Bản, các bộ trởng tài
chính các nớc G7 đã lên tiếng khuyến cáo các xứ sở thiên đờng ngân
hàng tài chính về các hoạt động dung túng nạn rửa tiền và kêu gọi mạnh
mẽ sự hợp tác quốc tế để chống lại vấn nạn trên. Tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (Organization for Economic Coperation and Development
OECD) cũng đã mạnh dạn lên danh sách đen 15 nớc và đảo quốc đợc
mệnh danh là thiên đờng ngân hàng tài chính
1. Bahamas
2. Cayman Islands
3. Cook Islands
4. Dominican Republic
5. Israel
6. Lebanon
7. Ltechtenstein
8. Marshall Islands
9. Nauru
10. Niue
11. Panama
12. Philipines
13. Nga
14. St Kitts and Nevis
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
14
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
15. St Vincent and the Grenadines
Chỉ đơn cử đảo quốc Cayman (Cayman Islands) với diện tích 259 km2,
dân số khoảng 36.000 ngời nhng do chính sách miễn hoàn toàn thuế trực
thu, do luật bí mật ngân hàng hấp dẫn nên đảo quốc nhỏ bé này đã có
tới 40.000 công ty đăng ký thành lập trong đó hơn 400 ngân hàng chuyên

khoản vãng lai đợc mở thông qua mang, họ không biết chủ sở hữu tài
khoản là ai, địa chỉ thực của họ ở đâu. Điều đáng lo ngại là hầu hết các
ngân hàng đều cho rằng những sách lợc và kinh nghiệm thực tiễn của họ
đủ để ngăn chặn việc rửa tiền thông qua hệ thống tài khoản vãng lai.
Nhiều ngân hàng trên thế giới hiện nay không hề biết họ đã phục vụ
những ngân hàng nớc ngoài không có trụ sở ở một nơi nào, hoạt động ở
những lĩnh vực không đợc phép, cha hề trải qua một sự thẩm tra nào của
các cơ quan hữu quan. Mặt khác, nhiều ngân hàng cũng không thể biết
rằng ngân hàng đối tác của họ không hề tiến hành việc kiểm tra và không
có những thủ tục tài chính sơ đẳng, có thể mở tài khoản mà không cần
đến một giấy tờ mở tài khoản nào, có thể nhận các khoản tiền ký gửi từ
những cá nhân mà ngân hàng không rõ nhân thân, hoặc tiến hành giao
dịch mà không cần tới quy trình chông rửa tiền. Sự kiểm soát của nhiều
ngân hàng hiện nay đối với việc rửa tiền thờng là lỏng lẻo và kém hiệu
quả. Một vài ngân hàng lớn có hệ thống kiểm tra hoàn thiện đợc tự động
hóa có thể kiểm soát, phát hiện những tài khoản khả nghi và hoạt động
chuyển tiền, nhng đó là ngoại lệ hơn là thông lệ. Đại đa số các ngân hàng
dựa vào sự kiểm tra qua sổ sách hoạt động mở tài khoản và giám sát một
cách có hạn sự chuyển tiền, mặc dù phần lớn các giao dịch ngân hàng
vãng lai bao gồm cả tiền đến lẫn tiền đi. Trong điều tra của mình, các
Nghị sĩ Linda Gustitus, Elise Bean và Robert Roach thuộc Tiểu ban điều
tra thờng trực ủy ban sự vụ Nhà nớc, Thợng viện Mỹ đã đa ra hàng loạt ví
dụ về rửa tiền thông qua các tài khoản vãng lai ở Mỹ và các ngân hàng n-
ớc ngoài nh:
* Hợp pháp hóa những khoản thu nhập bất chính thông qua ký quỹ
hoặc qua tiến hành chuyển những khoản tiền mà ngân hàng có độ rủi ro
cao biết hoặc phải biết là có dính lứu đến buôn bán ma túy, gian lận tài
chính hoặc các hoạt động bất hợp pháp khác.
* Có mu đồ đầu t lợi nhuận cao bằng cách khuyến khích các nhà
đầu t chuyển tiền vào các tài khoản vãng lai nhằm nhận lãi suất cao nhng

Trong hai năm 2000 và 2001 lợng vốn thất thoát ra nớc ngoài đã ra tăng
đến mức báo động mặc dù Trung Quốc đã ký hiệp ớc dẫn độ tội phạm với
40 nớc nhng không có gì bảo đảm là những kẻ bị tình nghi chuyển tiền
bất hợp pháp ra nớc ngoài rồi bỏ trốn sẽ đợc dẫn độ về Trung Quốc.
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
17
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
Tình hình rửa tiền ở Nga cũng rất nghiêm trọng. Theo số liệu của Bộ nội
vụ Nga, giữa thập kỷ 90 thu nhập của các nhóm tội phạm tại Nga là trên
2000 tỉ rúp. Dới sự kiểm soát của các cơ cấu ngầm, ở nớc này có hơn
40.000 chủ thể kinh tế, trong đó có hơn 400 ngân hàng, 47 Sở giao dịch
chứng khoán, gần 15.000 doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nớc, 42 %
tổng doanh thu bán hàng trên thị ttrờng hàng tiêu dùng là thuộc các chủ
thể không đăng ký. Khu vực kinh tế ngầm tại nớc Nga đã chiếm 40-60%
nền kinh tế đất nớc. Trong lĩnh vực hợp thức hoá nguồn thu nhập hiện có
không dới 3.000 nhóm tội phạm có tổ chức hoạt động. Phần lớn hoạt
động của các tổ chức tội phạm đợc hợp thức hoá bằng cách đỏi ra ngoại
tệ mạnh rồi chuyển ra nớc ngoài. Theo đánh giá của Ngân hàng trung -
ơng Nga, lợng tiền chuyển ra khỏi nớc Nga là khoảng 1 tỉ USD/tháng.
Theo các đánh giá khác, việc chuyển vốn bất hợp pháp ra nớc ngoài ở
Nga trong những năm cải cách là 100-300 tỉ USD. Kết quả là năm 1996
tình trạng chảy vốn đã cao gấp 10 lần so với đầu t trực tiếp nớc ngoài vào
Nga trong năm đó. Trong 5 năm qua ngân sách Nga đã bị mất 60 tỉ USD.
Điều hết sức đáng lo ngại là hiện có hơn 60.000 công ty hải ngoại do ng-
ời Nga thành lập.
Trên cơ sở của các nghiên cứu tơng ứng, các chuyên gia đã có đợc những
đánh giá về qui mô của nền kinh tế ngầm. Ví dụ,tỷ trọng kinh tế ngầm
trong GDP tại Australia là 4-12%, tại Anh là 1-15%, tại Đức là 2-11%, tại
Italia là 10-33%, tại Mỹ là 4-33%, tại Nhật là 4-15%.
Tơng quan giữa mức độ tội phạm và nhu cầu về tiền trong những năm

30-40% giá trị hợp đồng. Nh vậy ở đây dã có dấu hiệu của hoạt động rửa
tiền.
Trong bài phỏng vấn đăng trên báo Lao động ngày 29/5/2002, ông Vũ
Thế Vậc- Phó vụ trởng Vụ pháp chế Ngân hàng nhà nớc- cho biết trớc
đây đã có một số ngân hàng báo cáo về việc có những khoản tiền gửi trị
giá mấy chục ngàn USD đợc gửi vào ngân hàng và lại đợc chuyển tới một
tài khoản khác ngay ngày hôm sau. Các ngân hàng thơng mại nghi ngờ
có dấu hiệu rửa tiền nhng do cha có cơ sở pháp lý để kiểm tra, xử lý nên
vẫn nhận và chuyển tiền gửi nh bình thờng. Đặc biệt là thời gian gần đây
qua một số vụ án lớn xảy ra, các cơ quan quản lý nhà nớc và cơ quan bảo
vệ pháp luật đã phát hiện đợc nhiều hành vi của một số tổ chức và cá
nhân vi phạm các qui định về quản lý nhà nớc trên các lĩnh vực, trong đó
có tiền tệ và ngân hàng. Tiền bẩn thờng có nguồn gốc từ buôn lậu, đặc
biệt là buôn bán ma tuý, tham ô, bảo kê, cờ bạc, lừa đảo , thậm chí tiền
bẩn đến từ nớc khác. Thủ đoạn tẩy rửa tiền ở Việt Nam cũng rất đa
dạng gồm các hình thức nh đầu t bất động sản, mua cổ phần, mua vé số
trúng thởng của ngời khác, đầu t chứng khoán, góp vốn kinh doanh, cho
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
19
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
vay các công ty thiếu vốn hoặc làm ăn thua lỗ, đầu t vào các hoạt động
kinh doanh hợp pháp mà vụ án Năm Cam mới đây là một ví dụ điển hình.
Có thể thấy hoạt động rửa tiền ở Việt Nam đang trở thành một vấn nạn
đáng quan tâm, tuy nhiên hành lang pháp lý để xử lý loại tội phạm này
còn rất hạn chế. Hiện tại ở Việt Nam cha có bất cứ một văn bản pháp luật
nào qui định cụ thể loại tội danh rửa tiền, mà chỉ có điều 19 Luật các tổ
chức tín dụng (về các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp), điều 251
Bộ luật Hình sự 1999 (về tội hợp pháp hoá tiền,tài sản do phạm tội mà
có) và Nghị định 20 (về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng) là qui định một cách gián tiếp loại tội phạm này. Việc thiếu một cơ

nh những hoạt động nhằm thực thi luật pháp, và điều này sẽ dễ dàng gây
ra những vấn đề khó khăn cho khả năng thanh toán và hoạt động của
ngân hàng.
Làm mất đi sự kiểm soát tổ chức các chính sách kinh tế của chính phủ.
Nạn rửa tiền có thể tác động bất lợi đến việc thực thi chính sách tiền tệ
quốc gia, bởi mục đích của những kẻ rửa tiền là tái đầu t vào những nơi
mà âm mu của chúng ít bị phát hiện hơn là đầu t vào những nơi có tỷ suất
lợi nhuận cao. Chính điều này làm cho các chính phủ không thể xác định
đợc sự thay đổivề nhu cầu tiền tệ và sự biếnn đổi gia tăng của các nguồn
vốn, đi kèm với nó là sự mất kiểm soát chính sách kinh tế và hậu quả là
không thể có đợc một chính sách kinh tế lành mạnh. Mặt khác, rửa tiền
có thể gây bất lợi đến lãi suất và tỷ giá hối đoái, hậu quả càng nặng nề
hơn đối với các nớc gắn với đồng USD ở mức cao.
Rửa tiền làm giảm nguồn thu từ thuế của chính phủ, trực tiếp làm phơng
hại đến những ngời đóng thuế chân chính và gây tổn hại đến ngân khố
quốc gia.
ở những quốc gia đặc biệt là những quốc gia đợc mệnh danh là xứ sở
thiên đờng ngân hàng tài chính nằm trong danh sách đen của OECD,
nơi rửa tiền lý tởng cho bọn tội phạm, gặp phải nguy cơ tổn hại về danh
tiếng. Hầu hết các quốc gia đều không thể chấp nhận đợc việc tiếng tăm
và các công ty tài chính của họ bị ô uế, đặc biệt là trong nền kinh tế toàn
cầu hoá hiện nay. Niềm tin vào thị trờng và vào vai trò nổi bật của lợi
nhuận bị xói mòn do nạn rửa tiền và những tội phạm tài chính nh rửa
những khoản tiền bất chính, gian lận tài chính lan rộng, buôn bán những
thông tin mật và tham ô. Tiếng xấu từ những hoạt động nh vậy làm giảm
cơ hội hợp pháp và sự tăng trởng bền vững trong khi đó lại thu hút những
tổ chức tội phạm quốc tế. Hơn nữa, một khi đất nớc đã bị tiếng xấu về tài
chính thì việc xây dựng lại tiếng tăm là rất khó khăn và cần nguồn lực
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
21

qui tụ 26 quốc gia có tên là Lực lợng đặc nhiệm tài chính( Financial
Action Task Force-FATF). Tổ chức hoạch định chính sách liên chính phủ
này có trách nhiệm kiểm soát những mánh khoé và xu hớng rửa tiền,
giám sát hoạt động quốc nội và quốc tế, xác định các vấn đề nảy sinh của
việc rửa tiền.
Hiện nay thành phần của FATF gồm có 2 tổ chức khu vực- Uỷ ban Châu
Âu và Hội đồng hợp tác vùng Vịnh và 29 nớc , vùng lãnh thổ: Argentina,
áo, Australia, Bỉ, Brazil, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Hi Lạp,
Hồng Kông, Iceland, Italia, Nhật Bản, Luxemburg, Mexico, Hà Lan,
New Zealand, Nauy, Bồ Đào Nha, Singapore, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển,
Thuỵ Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Mỹ.
Để thiết lập một cơ cấu cho hoạt động chống rửa tiền, vào năm 1990,
FATF đã đa ra 40 điều khuyến nghị và Những điều phụ lục bao gồm
hệ thống t pháp hình sự và thực thi pháp luật, hệ thống tài chính và sự
điều tiết hệ thống đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chống rửa tiền.
Những khuyến nghị này đa ra các nguyên tắc hành động và cho phép các
nớc áp dụng chúng một cách linh hoạt tuỳ theo thực trạng và luật pháp
của nớc đó:
1.1. Thành lập lực lợng tài chính đặc nhiệm chống rửa tiền:
* Hình sự hoá việc rửa những khoản tiền thu đợc từ các tội phạm
nghiêm trọng( Điều 4) và ban hành những qui định về tịch thu các thu
nhập có từ hoạt động tội phạm(Điều 7).
Đề tài: Rửa tiền và chống rửa tiền
23
Hoàng Thị Thanh Vân TTCK42A
* Đòi hỏi các tổ chức tài chính phân loại tất cả các khách hàng, kể
cả những chủ sở hữu theo uỷ quyền và lập hồ sơ thích hợp( Điều 10-12).
* Đòi hỏi các tổ chức tài chính báo cáo về những giao dịch đáng
ngờ liên quan đến các cơ quan chính quyền có thẩm quyền( Điều 15) và
thực hiện các biện pháp kiểm soát nội bộ toàn diện(Điều 19).

hoạch định tài chính, các quan chức thực thi pháp luật và các nhà ngân
hàng. Những khoá đào tạo này bao trùm rất nhiều chủ đề: các loại hình
rửa tiền, tổ chức và vận hành cơ quan tình báo tài chính, thành lập hệ
thống toàn diện về phòng chống nạn rửa tiền, hoạt động và cấu trúc mạng
vi tính, các hệ thống phòng chống nạn rửa tiền của từng nớc và các qui
định. FINCEN cũng phối hợp chặt chẽ với 50 cơ quan tình báo tài chính
trên thế giới để giúp các nớc này thành lập các bộ phận tình báo tài chính
của riêng mình.
* Cơ quan Quản lý doanh thu nội bộ (IRS): IRS thuộc Bộ Tài
chính tập trung hoạt động đào tạo của mình vào kỹ năng điều tra liên
quan đến tội phạm tài chính và rửa tiền. Mục đích của những khoá đào
tạo này là giúp chính phủ các nớc thiết lập và hoàn thiện các luật lệ
chống rửa tiền, các hình thức tội phạm, thuế và tịch thu tài sản. Ngoài ra
IRS giúp điều tra những trờng hợp vi phạm những luật này và khuyến
khích mạng lới chống rửa tiền tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế.
* Cơ quan bảo mật: bộ phận bảo mật thuộc Bộ tài chính tham gia
vào công tác đào tạo các quan chức chính phủ và các quan chức thực thi
luật pháp về gian lận tài chính, điều tra các vụ in tiền giả và những tội
phạm khác có liên quan đến thơng mại điện tử. Trong năm 2000, bộ phận
bảo mật đã hỗ trợ thông qua việc đào tạo cho các tổ chức tài chính và
thực thi luật pháp tại Trung Quốc, Nigeria, Bulgari; cơ quan này cũng
cung cấp những bài giảng tại các học viện tài chính và ngân hàng của
Hungari và Thailand và tổ chức các lớp học đặc biệt tại Bulgari,
Colombia, Hy Lạp, Italia và các hội thảo do Interpol tổ chức.
* Cục Hải quan Liên bang (USCS): Cục Hải quan, Phòng điều tra,
Bộ phận điều tra tài chính thuộc Bộ Tài chính giúp hỗ trợ các chuyên gia
về điều tra các vụ rửa tiền theo cách truyền thống và rửa tiền lén lút,
USCS còn phổ biến những kinh nghiệmcho các nhân viên ngân hàng,
quan chức hoạch định và thực thi pháp luật. Trong năm 2000, USCS đã
chủ trì hoặc đồng chủ trì nhiều hội thảo về phòng chống tội phạm tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status