Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá mang lại cho nền kinh tế quốc tế nói chung và từng quốc gia
nói riêng những lợi ích to lớn không thể phủ nhận, đó là sự tăng trưởng xuất
khẩu, đó là sự giảm giá trong chi tiêu của người dân, là sự gia tăng tỉ lệ đầu tư
cùng với việc tiếp cận với nền khoa học tiên tiến dễ dàng hơn… Song không chỉ
có vậy, toàn cầu hoá cũng mang lại cho các quốc gia nhiều mối nguy, trong đó
có mối nguy hiểm tiềm tàng về cạnh tranh. Cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu
diễn ra khốc liệt và hoàn toàn không nhân nhượng đối với bất kì quôc gia nào.
Và thực tế là nhiều quốc gia đã trở thành một món ăn béo bở, bị xâu xé bởi các
tập đoàn kinh tế khổng lồ nước ngoài.
Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế
giới WTO, như vậy cạnh tranh và những ảnh hưởng mặt trái của toàn cầu hoá
đối với nền kinh tế nước ta không còn là lý thuyết. Việc cấp bách đối với nền
kinh tế non trẻ nước ta là xác định các sách lược giúp các doanh nghiệp non trẻ
trong nước đương đầu với những “gã khổng lồ” bên ngoài, bảo vệ được miếng
bánh thị phần mà bấy lâu nay doanh nghiệp trong nước còn nắm giữ. Với đề tài:
“Nghiên cứu tiềm năng phát triển thị trường bán lẻ hiện đại của Việt Nam” em
mong muốn đưa ra cái nhìn khái quát nhất về tiềm năng về thị trường hàng tiêu
dùng và thực trạng của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại nước ta nhằm tìm ra
những biện pháp hiệu quả nhất giúp các doanh nghiệp trong nước xác định được
vị thế của mình trên chính “sân nhà” từ đó tìm ra biện pháp hiệu quả đối phó với
các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài sắp xâm nhập vào thị trường nước ta trong
nay mai
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại Việt Nam
trong thị trưòng hàng tiêu dùng dựa trên số liệu sẽ được thu thập trong vòng từ
năm 2000 trở lại đây, khi mà hệ thống này bắt đầu hình thành và phát triển ở
nước ta. Dựa trên các phương pháp thu thập tài liệu, tổng hợp phân tích, dự báo,
… đề tài sẽ đi sâu làm rõ một số vấn đề sau:
Xem xét hoạt động phân phối hàng tiêu dùng nói chung và thực trạng hoạt
động của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại đồng thời chỉ ra những ưu điểm
như một Ấn Độ thu nhỏ với tình hình thị trường gần như tương đồng nhau. Thể
hiện ở 2 điểm cơ bản: Thứ nhất, Việt Nam là một thị trường rộng lớn với số dân
lên tới hơn 83 triệu người. Thêm nữa, hệ thống phân phối của Việt Nam đang ở
mức sơ khai, mới chỉ khai thác một phần rất nhỏ tiểm năng của thị trường. Một
điều kiện thuận lợi nữa là ở Việt Nam tốc độ mở cửa của thị trường khá nhanh.
Năm 2009 theo cam kết gia nhập WTO, thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam
chính thức mở cửa. Với những nhận định trên thị trường hàng tiêu dùng Việt
Nam quả là miếng bánh béo bở cho các đại gia phân phối nước ngoài.
Hiện tại qui mô tiêu dùng tại Việt Nam đã lên tới 41.5 triệu USD và
không ngừng tăng lên. Tỷ lệ tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng so
với mức chi tiêu cuối cùng đã tăng lên nhanh chóng qua các năm. Nếu năm 2000
mới chỉ đạt 68.5%, thì năm 2006 đã lên tới 85.4%. Tỷ lệ quĩ tiêu dùng cuối cùng
so với GDP của Việt Nam đang thuộc loại cao so với các nước trên khu vực
(trên 70%), so với 55.9% của Singapore, 58.2% của Malaysia,…Điều này chứng
tỏ tiêu dùng cuối cùng thông qua mua, bán trên thị trường đã tăng khá nhanh,
tính tự cấp, tự túc trong nền kinh tế đã được thay thế dần bằng tính thị trường.
II. Hệ thống phân phối hàng tiêu dùng tại Việt Nam.
1. Các thành viên trong hệ thống phân phối hàng tiêu dùng.
Cũng như hệ thống phân phối hàng hoá khác, hệ thống phân phối hàng tiêu
dùng cũng bao gồm 3 thành viên chính: nhà sản xuất, trung gian phân phối và
người tiêu dùng cuối cùng.
Nguyễn Thị Liên 3 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
1.1. Nhà sản xuất: là những người đầu tiên đưa hàng hoá vào lưu thông
trên thị trường, họ có thể là những người sản xuất trực tiếp hoặc những người
nhập khẩu hàng hoá. Trong thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam doanh nghiệp
trong nước bộ phận chủ yếu cung cấp hàng hoá cho thị trường (tỷ lệ nhập khẩu
hàng tiêu dùng trong năm qua chỉ là 8.1% trong tổng lượng hàng nhập khẩu).
Song khả năng bao phủ thị trường của các doanh nghiệp trong nước đang giảm
dần cùng với sự mở cửa của nền kinh tế.
tiêu dùng của nước ta đang tồn tại rất nhiều nhược điểm. Hệ thống phân phối
hiện nay có qúa nhiều cấp trung gian trong cùng một khâu (bán buôn, bán lẻ) và
quá nhiều đầu mối trên một khu vực địa lý. Bên cạnh đó, sự phân đoạn thị
trường giữa các thành viên trong hệ thống và giữa các thành viên trong cùng
một cấp độ kênh chưa hợp lý. Những nhược điểm trên làm mất khả năng kiểm
soát toàn bộ hệ thống phân phối, làm giảm tính liên kết của các thành viên. Do
vậy không tạo ra được sức mạnh chung trong việc nghiên cứu thị trường, tập
trung đơn đặt hàng, định hướng cho sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng. Khả năng
tự điều chỉnh của thị trường kém nhanh nhạy và các biện pháp can thiệp của Nhà
Nước kém phát huy được hiệu quả. Điều này dẫn tới hậu quả là tác động của thị
trường thế giới đến thị trường trong nước thường mạnh hơn so với các nước
khác, gây thiệt hại cho không chỉ một thành viên tham gia kênh mà toàn bộ
kênh. Với cam kết mở cửa thị trường hàng tiêu dùng vào năm 2009, sự xuất hiện
ồ ạt của các tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ tấn công trực tiếp vào hệ thống
phân phối của nước ta, đẩy nguy cơ phá vỡ hệ thống lên cao hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây, hệ thống phân phối Việt Nam đang có
những chuyển biến tích cực. Doanh nghiệp trong nước đã nhận định được nguy
cơ sắp tới và bước đầu có sự điều chỉnh. Một mặt, mỗi doanh nghiệp đang tự
hoàn thiện dần hệ thống phân phối của bản thân, hàng hoá đưa vào thị trường
ngày càng phong phú về mẫu mã và chất lượng hơn; các hình thức phân phối
được đa dạng hoá với chất lượng phục vụ cao hơn trước. Mặt khác, các doanh
nghiệp cũng khẳng định liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước là
điều kiện cần thiết cho cuộc chiến sắp tới.
Nguyễn Thị Liên 5 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
PHẦN II. ĐÁNH GIÁ VỀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN HỆ
THỐNG PHÂN PHỐI BÁN LẺ HIỆN ĐẠI CỦA VIỆT NAM.
I. Tổng quan về thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở Việt Nam.
Như đã nói ở trên, bán lẻ là hình thức phân phối gần nhất với người tiêu
dùng và thực tế đã chứng minh là chi tiêu của người tiêu dùng hầu hết thông qua
Đề án môn học
địa lý hẹp, khách hàng buộc phải tìm hiểu giá cả trước khi mua hàng với tâm lý
sợ bị mua “hớ”.
Hệ thống phân phối bán lẻ hiên đại - đối trọng của hệ thống bán lẻ
truyền thống: Hệ thống phân phối hiện đại, bao gồm nhiều loại hình như trung
tâm thương mại (TTTM), siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh là
loại hình phân phối còn rất non trẻ, mới chỉ khai thác được 16% thị trường đầy
tiềm năng này. Tuy nhiên hệ thống phân phối này đang thể hiện là một kênh
phân phối ưu việt nhất trong toàn kênh với sức tăng trưởng rất cao và sự hoàn
hảo trong dịch vụ khách hàng. Hệ thống này được dự đoán sẽ bùng nổ rất nhanh
chóng trong tương lai không xa.
BIỂU ĐỒ 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của cả nước
giai đoạn 2000 - 2006
Nguồn: Tổng cục thống kê
II.Thực trạng hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại hàng tiêu dùng ở Việt Nam.
Tại Việt Nam, đặc biệt là TP.HCM, bán lẻ hiện đại dưới hình thức siêu thị
tự chọn, các cửa hàng, trung tâm thương mại xuất hiện từ những năm 1994 và
phát triển mạnh trong những năm gần đây. Sau đây chúng ta sẽ xem xét kĩ hơn
về thực trạng phát triển của loại hình phân phối mới mẻ này trong bức tranh
phân phối tổng thể của Việt Nam.
1. Số lượng và sự phát triển của loại hình bán lẻ hiện đại ở Việt Nam.
Nếu như cuối năm 1995 nước ta mới chỉ có 12 siêu thị tại 6/64 tỉnh và
thành phố, thì đến 2005 số lượng này đã lên tới trên 200 siêu thị, 30 TTTM tại
Nguyễn Thị Liên 7 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
30/64 tỉnh và thành phố; khoảng 1.000 cửa hàng tiện lợi và hàng nghìn cửa hàng
chuyên doanh phân bố rộng khắp cả nước tuy quy mô chưa lớn, trình độ quản lý,
công nghệ, thiết bị kỹ thuật và phương thức kinh doanh chưa theo được chuẩn
mực quốc tế.
Tốc độ tăng trưởng hàng năm của kênh phân phối hiện đại này khoảng
nông thôn trong thời điểm hiện tại quả là một bài toán nan giải đối với các
doanh nghiệp bán lẻ hiện đại. Tính đến cuối năm 2005, cả nước có 9.063 chợ;
trong đó 6.788 chợ ở nông thôn và 2.275 chợ ở khu vực thành thị. Nhìn vào tỉ lệ
phân phối chợ giữa thành thị và nông thôn, chúng ta có thể nhận định rằng đối
với người dân nông thôn chợ vẫn là hình thức mua sắm chủ yếu. Người dân ở
khu vực này, đại đa số là nông dân, có yêu cầu về dịch vụ, về sự đa dạng hàng
hoá cùng với mức độ tinh tế của sản phẩm thấp hơn so với khu vực thành thị,
song cái mà họ đặt ra để làm tiêu chí hàng đầu cho quyết định mua hàng của
minh chính là giá cả. Đây lại chính là yếu điểm của kênh phân phối hiện đại so
với những cửa hàng bán lẻ truyền thống. Điều này cũng lý giải tại sao nông thôn
vẫn chỉ là một thị trường “đầy tiềm năng, có thể khai thác được” của kênh phân
phối hiện đại. Rõ ràng chính sách một giá (giá chung cho thành thị và nông
thôn) và cách tiếp cận “thành thị” là không phù hợp với cầu tiêu dùng nông
thôn. Các doanh nghiệp cần có các chiêu thức tiếp thị đặc biệt, nâng cao sức
cạnh tranh về giá nhằm khắc phục tình trạng không có kênh phân phối trên thị
trường rộng lớn này. Đây cũng là một bước để hoàn thiện và nâng cao sức cạnh
tranh cho các doanh nghiệp phân phối bán lẻ hiện đại Việt Nam.
Nguyễn Thị Liên 9 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá
thực tế phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 1993 – 2006.
Năm Tổng số Chia ra
Kinh tế
Nhà nước
Kinh tế
ngoài
Nhà nước
Khu vực
có vốn đầu tư
Sơ bộ 2006 100.0 12.4 83.6 4.0
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Nguyễn Thị Liên 10 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
3. Chất lượng dịch vụ, sự cạnh tranh giữa các loại hình bán lẻ hiện đại tại
Việt Nam
Bán lẻ hiện đại là cách gọi chỉ chung cho những phương thức bán hàng
khác biệt so với những phương thức bán hàng truyền thống của người dân Việt
Nam. Để xem xét chất lượng của loại hình bán lẻ này, chúng ta làm phép so
sánh với kênh phân phối truyền thống
Trước hết, về đầu tư: hệ thống cửa hàng, siêu thị, đại siêu thị nằm trong
chuỗi phân phối bán lẻ hiện đại được đầu tư rất lớn tới hàng trăm tỷ đồng. Trong
khi đó, để có một cửa hàng bán tạp hoá hoặc một chỗ bán hàng trong chợ, người
bán chỉ cần số tiền lên tới vài chục triệu, có khi, tại các khu miền núi, nông thôn,
con số đấy chỉ là mấy triệu. Với sự chênh lệch về đầu tư như vậy, cũng dễ hiểu
tại sao người tiêu dùng chúng ta vẫn thích vào siêu thị, trung tâm thương mại, dù
chỉ là ngắm đồ.
Về cơ sở hạ tầng: Các cửa hàng chuyên doanh, siêu thị,… thường được
nhà đầu tư lựa chọn địa điểm rất kĩ, thông thường là những địa điểm gần đầu
mối giao thông hoặc các trục đường chính nhiêu người qua lại và thường bố trí
chỗ để xe cho khách hàng, rất thuận tiện cho người dân mua sắm. Cửa hàng
được xây dựng qui mô, hoặc được thiết kế độc đáo mang phong cách riêng, và
tạo cảm giác sạch sẽ, thoải mái, ấn tượng cho người mua. Nhìn lại một khu chợ,
kể cả trong trung tâm thành phố, có thể cũng được xây dừng gần nơi đông dân,
song hầu hết đều lụp xụp, đường xá xuống cấp, bẩn thỉu, nhầy nhụa nhất là sau
khi mưa, cách bố trí hàng hoá cũng lộn xộn, không theo hệ thống làm giảm mĩ
quan và gây khó khăn cho người tiêu dùng.
Về hàng hoá: Bước vào một siêu thị, người tiêu dùng sẽ choáng ngợp
trước lượng hàng hoá dồi dào, đa dạng cả về mẫu mã và số lượng, hơn hẳn
lượng hàng trong các sạp hàng chợ, hoặc các cửa hàng tạp hoá. Điều đáng nói ở
áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại nước ta.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đặc biệt là internet đã làm
thay đổi cả thế giới. Và thương mại điên tử đang là một xu hướng tất yếu.
Amazon.com, ebay.com là các trang web thương mại điện tử (e-comerce) lớn nhất
thế giới. Các loại hàng hóa mà trước đây chỉ xuất hiện trên kệ của các cửa hàng
truyền thống giờ đây đã hiện diện trên các trang web này và được NTD sẵn sàng
mua (order) như họ mua ở các cửa hàng bán lẻ . Ở Việt Nam hiện nay, thương mại
điện tử vẫn chỉ đang ở dạng khai sinh, đã có nhiều trang web bán hàng trực tuyến
nhưng vẫn chỉ dừng lại ở mức thử nghiệm, thăm dò thị trường nhưng nó cũng đã
báo hiệu cho một xu thế mua sắm online ở Việt Nam.
Nguyễn Thị Liên 12 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
III. Đánh giá tiềm năng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại ở
Việt Nam.
1. Những điều kiện thuận lợi và cơ hội.
1.1. Xuất phát từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
- Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, môi trường kinh doanh của Việt
Nam có mức độ rủi ro thấp. Quĩ tiêu dùng của dân cư ngày càng cao, khả năng
chi tiêu của người dân đang tăng lên. Theo cách nói thông thường, người dân đã
chuyển từ “ăn no, mặc ấm” sang “ăn ngon, mặc đẹp”.
- Nhà nước bắt đầu có những quan tâm đúng đắn đến sự phát triển của loại
hình bán lẻ này. Hiện Bộ Thương mại đang đàm phán với Chính phủ Phần Lan
về khoản viện trợ 20 triệu Euro, hỗ trợ Việt Nam nâng cao kết cấu hạ tầng
thương mại. Đây là nguồn vốn ODA đầu tiên rót vào ngành dịch vụ phân phối
nước ta.
- Thói quen tiêu dùng trong dân cư đã có những chuyển biến thuận lợi. Tỷ
lệ dân cư thành thị có thói quen mua sắm tại các siêu thị, trung tâm bán lẻ ngày
càng cao. Khu vực phía Nam có đến gần 85% dân cư là khách hàng thường
xuyên của siêu thị.
- Các nghành kinh tế khác có tốc độ tăng trưởng nhanh, hỗ trợ cho hệ thống
lý, chưa có sự hợp tác lẫn nhau gây ra tình trạng phân bố không hợp lý, có khu
vực thì quá nhiều, có những khu lại hầu như chẳng có siêu thị nào được xây
dựng. Lấy một ví dụ điển hình: Đoạn đường Phạm Ngọc Thạch, Hà Nội với độ
dài gần 1km có tới 3 siêu thị được xây dựng gồm siêu thị Hà Nội Star Bow, siêu
thị Asean , ngay gần đó là 2 khu chợ Kim Liên và chợ Đông Tác.
- Trong cơ cấu thị trường Việt Nam, tỉ trọng người tiêu dùng nông thôn
còn khá cao (hơn 75% trên tổng số dân của cả nước). Mặt khác cầu có khả năng
thanh toán của khu vực này thấp và thói quen tiêu dùng hàng chợ, hàng rong vẫn
còn lớn. Đây là một thách thức to lớn trong chiến lược mở rộng thị trường của
các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại Việt Nam.
- Việc phát triển hình thức bán lẻ hiện đại cũng gặp phải rào cản tồn tại
trong chính thói quen mua sắm đặc thù của người dân Việt Nam. Có tới 90%
các bà nội trợ Việt Nam đi chợ mỗi ngày, với mục đích chính là nguyên liệu
thực phẩm tươi sống.
2.2. Xuất phát từ phía các doanh nghiệp.
- Tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp trong nước đang còn yếu. Hầu
hết doanh nghiệp trong hệ thống bán lẻ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập
trung vốn trung và dài hạn để mở rộng kênh phân phối là điều khó khăn.
- Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong hệ thống. Do đó, việc thực
hiện các chức năng trong quá trình quản trị thiếu hiệu quả và chưa đồng bộ.
- Hoạt động Marketing chưa được quan tâm đúng mức: Chưa có chiến
lược cho những phân khúc thị trường khác nhau, hoạt động quảng bá, khuyếch
trương thương hiệu vẫn chưa được trú trọng, hệ thống hậu cần chưa đồng bộ và
Nguyễn Thị Liên 14 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
kém hiện đại… hiện tại các doanh nghiệp đang bỏ ngỏ khu vực thị trường nông
thôn rộng lớn.
- Khả năng áp dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử
thấp. Điển hình là hình thức thanh toán điện tử hầu như chưa được thực hiện
trong hệ thống.
với bình quân tổng sản phẩm quốc gia/đầu người (GNP per capital) được nâng
từ mức 2.000 USD đến 10.000 USD, thì điều này có nghĩa là mức gia tăng chi
tiêu tuyệt đối trên sản phẩm tiêu dùng trong thời kỳ này là cao nhất. Nói một
cách khác đó là ''thời kỳ vàng'' cho ngành dịch vụ. TPHCM và Hà Nội hầu như
đã đạt được điểm khởi đầu của quy trình này,
Những cư dân nữ thành thị trẻ độc lập về tài chính: Thành phần các phụ
nữ làm việc và chọn lối sống độc thân để theo đuổi sự nghiệp riêng tại Việt Nam
chưa có một con số chính xác song cũng giống như nhiều quốc gia đang phát
triển khác, con số này chắc chắn sẽ tăng nhanh trong vòng mấy năm tới. Những
người phụ nữ tự tin và có đầu óc doanh nghiệp này là những người tự do và háo
hức được thử các thói quen tiêu dùng mới. Các sản phẩm chăm sóc cơ thể và
làm đẹp đã hiển nhiên được chú ý. Tuy nhiên, cũng có nhiều ngành công nghiệp
khác được ăn theo phân khúc này, “Thẻ tín dụng chỉ dành cho phụ nữ”, công
nghiệp thời trang và giải trí, sự bùng nổ các cơ sở spa và chăm sóc tóc là một
trong các thí dụ.
Những gia đình hạt nhân mới: trong cuộc sống hiện đại, gia đình hạt nhân
với 2 thế hệ đang dần chiếm ưu thế.
Nguyễn Thị Liên 16 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
Xu hướng lựa chọn kênh phân phối và thời gian mua hàng: Xu hướng
chung của người tiêu dùng là ngày càng tiếp cận các kênh phân phối hiện đại
như siêu thị và cửa hàng tự chọn. Các dịp mua sắm lớn chủ yếu vẫn tập trung
vào các ngày nghỉ Lễ, Tết Tuy nhiên, cũng có một xu hướng tiêu dùng mới
hình thành tại các đô thị, đó là nhu cầu mua sắm vào dịp cuối tuần tại các trung
tâm thương mại hiện đại. Mức tăng trưởng của hệ thống bán lẻ hiện đại luôn đạt
khoảng 20%/năm. 2/3 số người được hỏi khẳng định rằng trong tương lai sẽ mua
sắm ở khu thương mại hiện đại như Metro, Coop Mart, Zen Plaza hay Vincom
City Tower thường xuyên hơn.
Hướng thu thập thông tin: Phần lớn khách hàng khi mua hàng vẫn tham
khảo qua các nguồn thông tin từ báo chí, quảng cáo và bạn bè. Tuy nhiên, nhu
Trong các dòng sản phẩm đồ gia dụng, các nhãn hiệu Nhật Bản vẫn nhận
được mức độ tin dùng cao nhất. Nói chung, người Việt Nam rất ưa chuộng các
thương hiệu hàng điện tử có nguồn gốc xuất xứ từ Nhật Bản. Trong đó, Sanyo
đứng đầu về mức độ nhận biết trong dòng sản phẩm máy giặt và tủ lạnh, bỏ xa 2
thương hiệu Hàn Quốc khác là LG và Daewoo. Với sản phẩm thông dụng nhất
là tivi thì Samsung dẫn đầu thị trường về số lượng người dùng nhưng sự ưa thích
dành cho Sony lại cao hơn.
Tương tự, trên thị trường điện thoại di động, Nokia là sản phẩm được sử
dụng nhiều nhất trong số phản hồi, tuy nhiên, số đánh giá tốt trên số phản hồi lại
thuộc về Sony-Ericsson. Các thương hiệu Việt Nam hầu như không có chỗ đứng
trên thị trường vì chất lượng, mẫu mã và nhất là mức độ nhận biết rất kém. Chỉ
có 2 thương hiệu được nhận biết tốt ở dòng máy vi tính là CMS Thế Trung
(Thánh Gióng) và FPT Elead, nhưng mức độ tin dùng cũng không thật sự nổi
trội so với các loại máy vi tính khác.
Đối với các mặt hàng tiêu dùng, hầu hết mức độ nhận biết cao của người
tiêu dùng là thông qua các chiến dịch truyền thông, tiếp thị và khuếch trương
thương hiệu. Với 2 mặt hàng dầu gội và sữa tắm, mức độ nhận biết là không quá
chênh lệch giữa các nhãn hiệu. Điều này chỉ ra sự cạnh tranh quyết liệt cả trên
thị trường hóa phẩm lẫn trong các chiến lược quảng cáo của các nhãn hàng này.
Hai nhãn hiệu được nhận biết tốt nhất trên thị trường hóa phẩm - chất làm
sạch là P/S và OMO. Mức độ nhận biết cao cho P/S là do lịch sử lâu đời và chất
lượng tốt. OMO dẫn đầu thị trường xà phòng giặt về mức độ nhận biết.
Trong khi đó, VICO - Vì dân lại tạo nên mức đột phá trên thị trường về mức độ
nhận biết và sử dụng do rất thành công ở thị trường nông thôn. Số lượng phản
hồi cho VICO - Vì dân giải thích sự ưu ái cho nhãn hiệu này bởi giá rẻ mà giặt
vẫn trắng sáng.
Các nhãn hiệu hàng tiêu dùng thường xuyên lại mang tính nhận biết thấp và
không có thương hiệu nổi trội được nhận biết tốt, ngoại trừ những thương hiệu
đã khẳng định được vị trí trong ngành. Có thể lấy ví dụ từ trường hợp của
Vinamilk hay Kinh Đô. Vinamilk dẫn đầu thị trường về nhận biết các sản phẩm
Saigon Co-op Mart, dự định có một mạng lưới khoảng 20 siêu thị trong năm
2005, hầu hết các siêu thị đó đều tập trung xung quanh quanh TP.Hồ Chí Minh.
Những dây chuyền siêu thị trong nước khác, chẳng hạn như dây chuyền siêu thị
tư nhân Maximark đang có dự định mở rộng mạng lưới tương tự nhằm bảo vệ
thị phần của mình. Một số doanh nghiệp đã bước đầu xây dựng thương hiệu tại
các khu vực nông thôn. Mặc dù sức mua ở khu vực nông thôn hạn chế, thêm vào
đó là cơ sở hạ tầng nhìn chung nghèo nàn nhưng Saigon Co-op Mart vẫn có kế
hoạch mở rộng các chi nhánh đến những khu vực xa xôi. Tuy nhiên, trong vài
năm tới, thị trường bán lẻ ở khu vực nông thôn vẫn chưa phát triển.
Hoạt động của các nhà bán lẻ nước ngoài thời gian tới
Mặc dù Chính phủ vẫn nắm giữ kiểm soát chặt chẽ khu vực bán lẻ, theo đó
những Công ty hay tập đoàn kinh doanh bán lẻ nước ngoài phải được phép thiết
lập chi nhánh, nhưng những tập đoàn này vẫn tham vọng sẽ mở rộng được thị
phần của mình. Tập đoàn French Bourbon Group sáp nhập được coi là tập đoàn
bán lẻ lớn nhất hoạt động trên thị trường Việt Nam thông qua một loạt các hệ
thống siêu thị và cửa hàng lớn đa dạng về hàng hoá - dịch vụ (hiện nay, hoạt
động tại thị trường Việt Nam với thương hiệu Big C). Kế hoạch của tập đoàn
này là trong vòng 5 năm nữa sẽ mở rộng hơn nữa thị trường hoạt động bằng việc
đầu tư vào 5 trung tâm thương mại ở TP.Hồ Chí Minh. Tập đoàn này đã mở một
chi nhánh ở Thành phố Hà Nội – đó là Big C Thăng Long vào đầu năm 2005.
Siêu thị Metro của Đức với hoạt động mua bán thanh toán bằng tiền mặt, khâu
phân phối đã mở rộng hoạt động của mình trên khắp Việt Nam. Tập đoàn này đã
mở 2 siêu thị ở TP.Hồ Chí Minh, 1 siêu thị ở Hà Nội và 1 ở Cần Thơ. Đến năm
2007, kế hoạch của Metro là có 8 siêu thị hoạt động trên khắp Việt Nam, trong
đó có 3 siêu thị ở TP.Hồ Chí Minh, 2 ở Hà Nội và 1 siêu thị ở Cần Thơ, 1 ở Hải
Phòng và 1 ở Đà Nẵng.
Trên đây là kế hoạch của 2 đại gia bán lẻ hiện đang “làm mưa, làm gió”
trên thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam. Theo dự đoán, các tập đoàn kinh
doanh bán lẻ của quốc gia lớn khác, bao gồm một số tập đoàn từ Mỹ, sẽ tìm
kiếm lợi nhuận và một vị trí chắc chắn ở Việt Nam. Một loạt các tập đoàn đã có
Nguyễn Thị Liên 21 Lớp: KDQT 46B
Năm
2004 2005 2006 2007 2008 2009
Doanh số bán lẻ(triệu USD) 20.35
5
21.71
0
23.135 24.747 26.747 28.045
Mức tăng trưởng doanh số
bán lẻ (%)
10,0 3,3 5,8 5,9 6,0 6,1
Đề án môn học
II. Các giải pháp phát triển hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại Việt Nam.
1. Giải pháp từ phía nhà nước:
1.1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp:
Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một văn bản luật riêng biệt điều chỉnh
hoạt động phân phối vốn tiềm ẩn rất nhiều vấn đề phức tạp và đa dạng. Trong
bài viết này em xin đề cập đến pháp luật về cạnh tranh. Đây thực sự là vấn đề
cấp bách bởi chỉ còn 2 năm nữa Việt Nam chính thức chịu sự cạnh tranh của vô
số các đối thủ cạnh tranh hàng đầu. Nếu không có nguồn luật đủ công bằng và
minh bạch doanh nghiệp Việt Nam rất dễ bị bóp chết bởi các chiêu thức cạnh
tranh kém lành mạnh của các đại gia.
Các biện pháp cụ thể:
- Cụ thể hoá các hành vi hạn chế cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực bán lẻ (như qui định về: “kinh doanh cửa hàng bán lẻ lớn”, “doanh nghiệp
bán lẻ lớn”). Các hành vi kinh doanh không lành mạnh liên quan đến cửa hàng
bán lẻ lớn như trả lại hàng hoá một cách bất hợp pháp, chậm thanh toán cho nhà
cung cấp mà không rõ lý do, đưa ra các yêu cầu, ép buộc bất hợp pháp hoặc áp
đặt không công bằng đối với chi phí quảng cáo, xúc tiến bán…
- Nâng cao nhận thức cho các đối tượng tham gia kênh phân phối: nhà cung
với chất lượng phục vụ cao, giá rẻ, hàng hoá đa dạng, phong phú; cùng với sự
chuyển biến về thói quen tiêu dùng của người dân, các doanh nghiệp trong hệ
thống phân phối bán lẻ hiện đại Việt Nam hơn bao giờ hết phải nhanh chóng tìm
ra cho mình giải pháp tối ưu nhằm bảo vệ chính mình đồng thời khai thác được
thị trường đầy tiềm năng đang có những thay đổi thuận lợi trên. Sau đây tôi xin
đề xuất một vài biện pháp cho các doanh nghiệp nước ta:
2.1. Chiến lược liên kết: Giải pháp được coi là tối ưu nhất giúp cho các
doanh nghiệp trong nước tránh khỏi bàn thua ngay trên sân nhà là phải liên kết
với nhau. Sự liên kết không chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại mà
các doanh nghiệp này còn phải tạo ra mối liên hệ mật thiết với các nhà sản xuất,
các doanh nghiệp, những chủ tiệm tạp hóa, các sạp chợ cộng… cùng với ý thức
thay đổi trong phương thức kinh doanh nhằm tập hợp thống nhất thành một
khối, hình thành nên một kênh phân phối Việt đủ mạnh, tức là vừa có sức mạnh
tài chính vừa có nguồn nhân lực vững vàng… làm đối trọng bình đẳng đối với
các tập đoàn phân phối đa quốc gia. Liên kết thực sự là đối sách chiến lược, lâu
dài cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước không chỉ là doanh nghiệp bán lẻ
hiện đại. Từ 2 năm nay, Sài Gòn Co.op Mart đã nhắm đến chiến lược mở rộng
mạng lưới phân phối về các tỉnh và tăng cường liên kết với các nhà phân phối
trong nước khác như Strata, Vissan, Unilever. Đây là dấu hiệu đáng mừng cho
thấy doanh nhân Việt Nam đã bước đầu nhạy cảm với những biến động của môi
trường và có biện pháp đáp trả thích hợp.
Bên cạnh chiến lược liên kết dài hạn trên, các doanh nghiệp trong nước cần
có một chính sách hợp lý có thể áp dụng ngay giúp cân bằng áp lực cạnh tranh
Nguyễn Thị Liên 23 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
với các nhà đầu tư nước ngoài trong ngắn hạn. Bằng cách: lựa chọn các địa điểm
kinh doanh thuận lợi, tiến hành xây dựng và hoàn thiện phương thức kinh
doanh, lấy lòng tin của khách hàng trước khi các doanh nghiệp nước ngoài đổ
vào, buộc các doanh nghiệp này phải di dời ra những khu vực cách xa khu dân
cư. Nhằm kéo dài thời gian thích ứng cho doanh nghiệp trong nước.
Nguyễn Thị Liên 24 Lớp: KDQT 46B
Đề án môn học
KẾT LUẬN
Bán lẻ hiện đại thực sự là một hình thức kinh doanh mới mẻ trong nền
kinh tế nước ta với lịch sử hình thành chỉ gần 20 năm. Mặc dù thị phần thấp,
song tốc độ tăng trưởng của loại hình phân phối này lại là cao nhất trong thị
trường phân phối. Với ưu thế vượt trội về nhiều mặt và xu hướng chi tiêu của
người Việt, có thể khẳng định rằng sự phát triển và chiếm lĩnh thị trường của hệ
thống phân phối bán lẻ hiện đại trong tương lai không xa là một tất yếu khách
quan; khi mà đối trọng với nó chỉ là một chuỗi những cửa hàng kinh doanh
truyền thống qui mô cồng kềnh, độ thích nghi thấp. Tuy nhiên, bắt tay vào thực
hiện lộ trình cam kết khi gia nhập WTO trong vòng chưa đầy 2 năm nữa, chúng
ta không khỏi lo ngại trước nguy cơ “chết trẻ” của ngành phân phối đầy tiềm
năng này với sự xâm nhập của những “gã khổng lồ” phân phối của thế giới.
Nhận thấy tiềm năng phát triển của thị trường phân phối bán lẻ hiện đại
trong hệ thống phân phối hàng tiêu dùng là rất to lớn, đề án đã tập trung nghiên
cứu một cách tổng thể về quá thực trạng; thành tựu, hạn chế; đồng thời xem xét
cả tiềm năng phát triển hệ thống trong tương lai. Việc nghiên cứu sự phát triển
của loại hình bán lẻ hiện đại được xem xét gắn với thực trạng phát triển của thị
trường hàng tiêu dùng nói chung, và hệ thống phân phối bán lẻ truyền thống để
người đọc dễ dàng so sánh, đối chiếu, đưa ra nhận định chính xác nhất về loại
hình phân phối này. Trong đề tài, tác giả cũng mạnh dạn nêu ra một số giải pháp
hi vọng sẽ vạch ra hướng đi cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trên con
đường hội nhập.
Mong rằng, với đề tài chúng ta sẽ có được cái nhìn đúng đắn về tiềm năng
phát triển thị trường bán lẻ hiện đại Việt Nam.
Nguyễn Thị Liên 25 Lớp: KDQT 46B