hoàn thiện quy trình kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán và tư vấn tài chính (acca) thực hiện - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang có sự tăng trưởng đáng kể trong thời gian
qua, cùng với đó là cơ hội và điều kiện để phát sinh các ngành kinh tế. Kiểm toán
đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao vai trò
quản lý của Nhà nước đối với thực trạng kinh tế tài chính trong hơn 10 năm qua.
Kiểm toán còn thúc đẩy khu vực doanh nghiệp phát triển, hình thành hệ thống kiểm
tra, giám sát và cảnh báo tài chính đồng bộ, hiệu quả. Ngoài ra, kiểm toán còn góp
phần cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin tài chính cần thiết cho các đối tượng
quan tâm. Một yêu cầu cấp bách hiện nay đặt ra không chỉ cho những nhà chính
sách mà còn ở chính bản thân các công ty kiểm toán là phát triển một thị trường
kiểm toán năng động, hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh và ngày càng nâng cao chất
lượng các dịch vụ cung cấp .
Tuy các dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam ngày càng đa dạng nhưng kiểm toán
BCTC vẫn là hoạt động chủ yếu của các công ty. Một cuộc kiểm toán BCTC bao
gồm sự tổng hợp kết quả của nhiều chu trình kinh tế riêng biệt, trong đó chu trình
mua hàng- thanh toán là một bộ phận cấu thành nên BCTC, góp phần quan trọng
trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Hoạt động mua hàng-
thanh toán tạo đầy đủ các yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh và kết
quả của chu trình này còn ảnh hưởng đến nhiều chu trình khác như hàng tồn kho,
vốn bằng tiền… Chính vì thế, kết quả kiểm toán chu trình này có ảnh hưởng rất lớn
kết quả chung của một cuộc kiểm toán.
Với mục đích tìm hiểu quy trình BCTC nói chung và quy trình kiểm toán chu
trình mua hàng- thanh toán nói riêng, em đã thực tập tại Công ty kiểm toán và tư
vấn tài chính (ACCA). Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu lý luận và thực tiễn trong
thời gian thực tập, với sự hướng dẫn nhiệt tình của Ths. Phan Trung Kiên và sự giúp
đỡ của anh chị KTV ACCA, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện quy trình kiểm toán
chu trình mua hàng và thanh toán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty
kiểm toán và tư vấn tài chính (ACCA) thực hiện” làm luận văn tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm ba chương. Cụ thể
gồm những nội dung sau:

Quá trình mua hàng- thanh toán là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu của
hàng hóa qua quá trình trao đổi tiền- hàng giữa khách thể kiểm toán và nhà cung
cấp của họ. Chu trình được bắt đầu từ yêu cầu mua hàng của khách thể kiểm toán
(đơn đặt hàng) và kết thúc bằng việc thanh toán cho nhà cung cấp về hàng hóa hay
dịch vụ nhận được.
Trong mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh thì quá trình mua hàng cung cấp các
yếu tố đầu vào giúp cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được thực
hiện. Giá cả, chất lượng cũng như sự kịp thời của các nhân tố đầu vào có ảnh hưởng
quyết định đến các yếu tố đầu ra. Do đó, doanh nghiệp muốn đạt được hiệu quả
kinh doanh tối đa thì cần thiết phải tối thiểu hóa chi phí đầu vào. Muốn đạt được
điều này thì doanh nghiệp cần có biện pháp thực hiện có hiệu quả chu trình mua
hàng và thanh toán. Việc quản lý và thực hiện tốt chu trình này là điều kiện cần để
doanh nghiệp phát triển .
2. Chức năng của chu trình mua hàng và thanh toán
Quá trình mua vào của hàng hoá hay dịch vụ bao gồm những khoản mục như
nguyên vật liệu, vật tư, điện nước, sửa chữa và bảo trì ,… Chu trình này không bao
gồm quá trình mua và thanh toán các dịch vụ lao động hoặc sự chuyển nhượng và
phân bổ của chi phí ở bên trong tổ chức .
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
3
Luận văn tốt nghiệp
Chu trình mua vào và thanh toán gồm các quyết định và các quá trình cần
thiết để có hàng hoá, dịch vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chu trình thường được bắt đầu bằng việc lập một đơn đặt mua của người có trách
nhiệm tại bộ phận cần hàng hoá hay dịch vụ và kết thúc bằng việc thanh toán cho
nhà cung cấp về hàng hóa hay dịch vụ nhận được.
Có nhiều phương thức mua hàng khác nhau:
Phương thức mua hàng trực tiếp: doanh nghiệp mua hàng trực tiếp tại kho
hoặc các phân xưởng sản xuất của người bán và được chuyển quyền sở hữu.
Phương thức mua hàng theo hợp đồng: doanh nghiệp mua hàng theo hợp

2.2. Nhận hàng hoá hay dịch vụ
Đây là một điểm quyết định trong chu trình nghiệp vụ vì đây là thời điểm
bên mua thừa nhận khoản nợ liên quan đối với bên bán trên sổ sách của họ. Khi
hàng hoá nhận được, việc kiểm tra mẫu mã, số lượng, thời gian đến và các điều kiện
khác cần được kiểm soát thích hợp.
Việc tiếp nhận hàng hóa thường do một bộ phận hay một phòng đảm nhiệm
như một bằng chứng của sự nhận hàng và sự kiểm tra hàng hoá. Một bản sao được
gửi cho thủ kho và một bản khác gửi cho kế toán các khoản phải trả để thông báo.
Hàng hoá phải được kiểm soát một cách chặt chẽ từ lúc nhận chúng cho đến khi
chúng được chuyển đi để ngăn ngừa sự mất mát và lạm dụng. Nhân viên trong
phòng tiếp nhận, thủ kho và phòng kế toán phải độc lập với nhau. Cuối cùng, sổ
sách kế toán sẽ phản ánh việc chuyển giao trách nhiệm đối với hàng hoá khi hàng
hoá được chuyển từ phòng tiếp nhận qua kho và từ kho vào quá trình sản xuất hay
đưa đi tiêu thụ.
2.3. Ghi nhận các khoản nợ người bán
Việc ghi nhận các khoản nợ về hàng hoá, dịch vụ nhận được một cách đúng
đắn đòi hỏi việc ghi sổ chính xác và nhanh chóng. Vì việc ghi sổ ban đầu có ảnh
hưởng quan trọng đến BCTC và đến khoản thanh toán thực tế nên kế toán chỉ được
phép ghi vào các lần mua có cơ sở hợp lý theo số tiền đúng.
Trách nhiệm của kế toán các khoản phải trả là kiểm tra tính đúng đắn của các
lần mua vào và ghi chúng vào sổ nhật ký và sổ hạch toán chi tiết Các khoản phải
trả. Khi kế toán nhận được hoá đơn của người bán thì phải so sánh mẫu mã, giá, số
lượng, phương thức và chi phí vận chuyển ghi trên hoá đơn với thông tin trên đơn
đặt mua (các hợp đồng) và báo cáo nhận hàng (nếu hàng đã về). Thông thường các
phép nhân và các phép cộng tổng được kiểm tra lại và ghi vào hoá đơn. Sau đó, số
tiền được chuyển vào sổ hạch toán chi tiết Các khoản phải trả.
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
5
Luận văn tốt nghiệp
2.4. Xử lý và ghi sổ các khoản thanh toán cho người bán.

6
Luận văn tốt nghiệp
một), cùng với việc chỉ ra tên người cung cấp hàng, ngày của hoá đơn và khoản tiền
của các hoá đơn đó.
- Sổ hạch toán chi tiết nợ phải trả nhà cung cấp: danh sách các khoản tiền
phải trả cho mỗi người cung cấp hàng. Tổng số của tài khoản người cung cấp hàng
trong sổ hạch toán chi tiết phải bằng khoản tiền ghi trên khoản mục phải trả người
bán .
- Bảng đối chiếu của nhà cung cấp: báo cáo nhận được của nhà cung cấp
hàng (thường là hàng tháng) chỉ ra các hoá đơn chưa thanh toán vào một ngày đối
chiếu nhất định.
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
7
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1: Quy trình tổ chức chứng từ đối với nghiệp vụ mua hàng

Sơ đồ 2: Quy trình tổ chức chứng từ đối với nghiệp vụ thanh toán

Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
8
Ghi
sổ
Nhận
tiền và
thanh
toán
Chi
quỹ
Lập
phiếu

cầu
vật
liệu
hàng
hóa
Bộ
phận
kế
hoạc
h
Bộ
phận
cung
ứng
Cán
bộ
thu
mua
Trưởn
g bộ
phận
cung
ứng
Thủ
kho
Kế
toán
Đơn
đề
nghị

- TK 112: tiền gửi ngân hàng
- TK 113: thuế GTGT đầu vào
- TK 152,153,156,331
Sơ đồ 3: Quy trình hạch toán các nghiệp vụ thanh toán phát sinh trong
chu trình mua hàng và thanh toán theo phương thức trả chậm
4. Mục tiêu kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán
Mục tiêu của kiểm toán BCTC là xác minh và bày tỏ ý kiến về độ tin
cậy của các thông tin và tính tuân thủ các nguyên tắc trong việc lập và trình bày
BCTC. Do vậy, mục tiêu chung của chu trình mua hàng và thanh toán là đánh
giá xem liệu các số dư tài khoản có liên quan có được trình bày trung thực và
phù hợp với các nguyên tắc kế toán hiện hành hoặc được thừa nhận hay không.
Từ mục đích chung của kiểm toán có thể cụ thể hoá thành các mục tiêu đặc thù
sau:
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
9
Tiền mặt, TGNH Vật tư, hàng hoá
Phải trả người
bán
Vật tư, hàng hoá
Thu nhập tàichính
chính chính
Tài sản cố định
Chi phí SXKD
chi phí trích trước
Ứng trước tiền cho người bán
hoặc trả nợ người bán
Mua hàng nhập kho
Đầu tư tài sản cố định
Mua hàng hoá, dịch vụ xuất
dùng ngay không qua kho

xây dựng các thủ tục kiểm tra chi tiết các số dư và nghiệp vụ một cách tương
ứng.
II. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA HÀNG VÀ THANH
TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Khái quát về kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán BCTC là quá trình xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực và
hợp lý của BCTC cũng như tính tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán được
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
10
Luận văn tốt nghiệp
thừa nhận của BCTC. Kiểm toán BCTC là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán
bởi nó chứa đựng đầy đủ “sắc thái kiểm toán” ngay từ khi ra đời cũng như trong quá
trình phát triển.
Kiểm toán BCTC hướng tới công khai tài chính giữa các bên có lợi ích khác
nhau và từ đó nhu cầu thu thập bằng chứng đầy đủ và tin cậy được quán triệt trong
một quá trình thực hiện chức năng chung của kiểm toán.
Với kiểm toán BCTC có hai cách cơ bản để phân chia các BCTC thành các
phần hành kiểm toán: phân chia theo khoản mục hoặc phân chia theo chu trình.
Phân chia theo khoản mục là cách tiếp cận máy móc từng khoản mục hoặc
nhóm các khoản mục theo thứ tự trong Bảng khai vào một phần hành. Cách tiếp cận
này đơn giản song không hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau
nhưng có liên hệ chặt chẽ nhau.
Phân chia theo chu trình là cách tiếp cận thông dụng hơn căn cứ vào mối
liên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố
trong một chu trình chung của hoạt động tài chính.
Theo cách phân chia theo chu trình, kiểm toán Bảng khai tài chính
thường bao gồm những phần hành cơ bản sau:
Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền (tiêu thụ);
Kiểm toán tiền mặt ( tại két, tại ngân hàng hoặc đang chuyển);
Kiểm toán chu trình mua hàng – trả tiền (cung ứng và thanh toán);

số lượng lớn. Quy mô cụ thể của các trắc nghiệm cũng như trình tự và cách thức kết
hợp giữa chúng phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán của
KTV với mục đích có được bằng chứng đầy đủ và tin cậy với chi phí kiểm toán thấp
nhất.
Bước 3: Hoàn tất công việc kiểm toán: Kết quả các trắc nghiệm trên phải
được xem xét trong quan hệ hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ với các sự
việc bất thường, những nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập BCTC. Chỉ trên cơ sở đó
mới đưa được kết luận cuối cùng và lập báo cáo kiểm toán.
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
12
TIỀN
Huy động –
hoàn trả vốn

Mua hàng –
trả tiền
Tiền lương
và nhân viên
Bán hàng
– thu tiền
HÀNG TỒN KHO
Luận văn tốt nghiệp
2. Quy trình kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán
Khi tiến hành kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán, KTV cần tuân thủ

hạn. Kế hoạch kiểm toán còn trợ giúp KTV phân công công việc cho trợ lý kiểm
toán và phối hợp với KTV và chuyên gia khác về công việc kiểm toán”.
Đối với chu trình mua hàng và thanh toán, mục đích của giai đoạn này là
xây dựng được một chiến lược kiểm toán chung và phương pháp kiểm toán cụ thể
phù hợp với bản chất, thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán sẽ áp dụng.
Việc lập kế hoạch kiểm toán được thực hiện theo quy trình như sau:
Sơ đồ 6: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
14
Chuẩn bị kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện thủ tục phân
tích
Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và lập chương trình kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp
2.1.1. Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán được bắt đầu khi KTV và công ty kiểm toán thu nhận
một khách hàng. Trên cơ sở đó, các công việc cần thiết để chuẩn bị cho lập kế
hoạch kiểm toán được tiến hành như sau:
Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Nhằm đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tục khách
hàng thường xuyên có làm tăng rủi ro cho hoạt động của KTV hay làm hại đến uy
tín của công ty, KTV phải thực hiện các công việc sau:
- Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng;
- Tính liêm chính của Ban giám đốc công ty khách hàng;
- Liên lạc với KTV tiền nhiệm.
Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Thông qua việc phỏng vấn trực tiếp Ban giám đốc khách hàng hoặc dựa vào
kinh nghiệm của cuộc kiểm toán đã được thực hiện trước đó, KTV xác định người

và chu trình mua hàng – thanh toán nói riêng.
Mặt khác, qua các tài liệu này, KTV thấy được những vấn đề cần lưu ý:
những yếu kém trong việc ghi sổ các nghiệp vụ mua hàng – thanh toán hay sự kiểm
soát lỏng lẻo đối với chu trình này. Trên cơ sở của kế hoạch kiểm toán năm trước,
KTV sẽ dễ dàng hơn trong việc lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp
kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán cho năm hiện hành.
(c) Thăm quan nhà xưởng
Việc này giúp KTV tiếp cận với hệ thống KSNB, có sự hình dung về quá
trình sản xuất sản phẩm và phong cách kinh doanh của khách hàng để hình thành
nên những đánh giá về tính hợp lý chung. Chẳng hạn qua thị sát, KTV có thể đánh
giá chủng loại hàng hoá doanh nghiệp mua vào có còn phù hợp với nhu cầu sản
xuất hay đã lỗi thời, lượng hàng hoá còn tồn đọng trong kho là quá nhiều (gây ứ
đọng vốn) hay ngược lại quá ít (gây gián đoạn sản xuất).
2.1.3. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
16
Luận văn tốt nghiệp
Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho KTV hiểu được các
mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập các thông tin về nghĩa
vụ pháp lý của khách hàng giúp cho KTV nắm bắt được các quy trình mang tính
pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này đặc biệt là đối với
nghiệp vụ mua hàng – thanh toán. Những thông tin này được thu thập trong quá
trình tiếp xúc với Ban Giám đốc công ty khách hàng.
Ngoài việc xem xét các thông tin về nghĩa vụ pháp lý chung cho toàn bộ
cuộc kiểm toán BCTC như giấy phép thành lập và điều lệ công ty, các BCTC, báo
cáo kiểm toán, Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc,
KTV cần tập trung xem xét các hợp đồng và cam kết quan trọng đó là các hợp
đồng mua… Việc xem xét các hợp đồng giúp KTV tiếp cận với các nhà cung cấp
thường xuyên của khách hàng, hình dung được khía cạnh pháp lý có ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của đơn vị khách hàng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng

thực hiện các thủ tục kiểm toán.
Để đánh giá mức độ trọng yếu, trước hết KTV cần ước lượng mức trọng yếu
cho toàn bộ BCTC, sau đó phân bổ mức đánh giá này cho từng khoản mục trên
BCTC. Cơ sở để tiến hành phân bổ là: bản chất của các khoản mục, rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát được đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục, kinh nghiệm của
KTV và chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục.
Đối với chu trình mua hàng – thanh toán, các nghiệp vụ mua vào chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp và liên quan tới nhiều tài
sản như: tài sản cố định, hàng tồn kho, tiền mà hầu hết chúng đều trọng yếu.
Trên thực tế, việc ước lượng và phân bổ mức trọng yếu cho các tài khoản là
vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi sự xét đoán nghề nghiệp của KTV. Do đó để đảm
bảo tính thận trọng nghề nghiệp, các Công ty kiểm toán thường xây dựng sẵn những
căn cứ để xác định mức độ trọng yếu cho từng khoản mục trên BCTC.
Có thể khái quát các bước đánh giá tính trọng yếu theo trình tự sau:
Sơ đồ 6: Các bước trong quá trình đánh giá tính trọng yếu
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
18
Bước 1
Ước lượng sơ bộ về
tính trọng yếu
Bước 2
Phân bổ ước lượng ban đầu về tính
trọng yếu cho các bộ phận
Bước 3
Ước tính tổng số sai
trong bộ phận
B c 4ướ
Ước tính sai số kết hợp
Bước 5
So sánh sai số tổng hợp ước tính

- Ghi sổ thanh toán nhưng chưa trả tiền.
- Ghi sổ thanh toán cao hơn thực tế.
- Trả tiền kỳ sau nhưng ghi sổ thanh toán vào kỳ này.
 Số dư Nợ phải trả nhà cung cấp không hợp lý
- Phản ánh nợ phải trả không đầy đủ do cố tình ghi giảm nợ phải trả
người bán hoặc nhận hàng hóa hay dịch vụ mà không phản ánh.
- Phản ánh nợ phải trả người bán không có thật làm thay đổi các tỷ suất
tài chính cơ bản.
- Không phân loại và trình bày đúng nợ phải trả làm người sử dụng
BCTC hiểu sai khả năng thanh toán thực tế của đơn vị.
Trọng yếu và rủi ro là hai khái niệm quan trọng trong kiểm toán chu trình
mua hàng – thanh toán vì các khoản nợ phải trả luôn được đánh giá là trọng yếu.
Giữa trọng yếu và rủi ro có mối quan hệ tỷ lệ nghịch nghĩa là nếu mức trọng yếu
càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại. Do đó, trong giai đoạn lập kế
hoạch chu trình mua hàng – thanh toán, KTV cần phải đặc biệt quan tâm tới mối
quan hệ này khi xác định nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán. Tuy
nhiên, đây là thủ tục phức tạp đòi hỏi trình độ cũng như phán đoán của KTV.
2.1.6. Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi
ro kiểm soát
Theo VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, đoạn 02: “ KTV
phải có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của khách
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
20
Luận văn tốt nghiệp
hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có
hiệu quả.”
Trong chu trình mua hàng – thanh toán, tìm hiểu hệ thống KSNB của khách
hàng đối với các chức năng của chu trình cũng là vấn đề hết sức quan trọng. Theo
đó, KTV phải tìm hiểu các chính sách, thủ tục kiểm soát được áp dụng tại đơn vị
khách hàng đối với từng chức năng trong chu trình như đã trình bày trong phần

rủi ro kiểm soát. VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB, đoạn 28, chỉ ra rằng:
“Dựa trên sự hiểu biết hệ thống kế toán và KSNB, KTV phải thực hiện đánh giá ban
đầu về rủi ro kiểm soát đối với các cơ sở dẫn liệu cho từng số dư của tài khoản hoặc
các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu”.
Đánh giá rủi ro kiểm soát cho các tài khoản trong chu trình mua hàng và
thanh toán bao gồm các công việc :
- Nhận diện mục tiêu kiểm soát cho từng nghiệp vụ trong chu trình, và
xác định các loại sai phạm có thể xảy ra. Trên cơ sở đó, KTV tiến hành đánh giá rủi
ro kiểm soát đối với từng khoản mục.
- Đánh giá khả năng ngăn chặn sai phạm của hệ thống KSNB đối với
chu trình này. KTV cần phải nhận diện những hạn chế của hệ thống như sự vắng
mặt của các quá trình kiểm soát thích đáng mà điều này sẽ làm tăng khả năng rủi ro
của việc tồn tại các sai phạm trong chu trình.
- Đánh giá rủi ro kiểm soát: dựa vào các phán đoán bên trên, KTV tiến
hành đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu đối với từng mục tiêu kiểm soát của từng
loại nghiệp vụ trong chu trình. KTV có thể đánh giá rủi ro theo yếu tố định tính
thấp, trung bình, cao hoặc theo tỷ lệ phần trăm. Rủi ro kiểm soát được đánh giá là
cao khi KTV cho rằng hệ thống KSNB không đầy đủ và không hiệu quả. Ngược lại,
rủi ro kiểm soát được đánh giá là thấp khi KTV có đủ cơ sở để kết luận hệ thống
KSNB đối với chu trình được thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các
sai sót trọng yếu.
2.1.7. Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán
Sau khi đã có được những hiểu biết về hệ thống KSNB của đơn vị khách
hàng, đã xác định được mức trọng yếu và rủi ro…, đây là bước cuối cùng trong giai
đoạn lập kế hoạch. KTV sẽ đánh giá tổng thể hoạt động của đơn vị, phân tích, triển
Phạm Thị Lan Anh Kiểm toán 44
22
Luận văn tốt nghiệp
khai kế hoạch và soạn thảo chương trình kiểm toán cho chu trình. Trong thực tiễn
kiểm toán, để thiết kế chương trình kiểm toán cho chu trình, KTV căn cứ vào các

hợp lý và hợp pháp của chúng như có sự phê duyệt không, giá trị số lượng hàng
mua vào với số tiền cần thanh toán có khớp nhau không. Bên cạnh đó, KTV cũng
phải tính toán lại số tiền trên các chứng từ và tiến hành đối chiếu sổ chi tiết các
khoản phải trả, sổ nhật ký mua hàng để kiểm tra tính đúng đắn của các con số
ghi sổ. Qua đó đưa ra kết luận về độ tin cậy của các số liệu kế toán trong chu
trình mua hàng và thanh toán.
Trắc nghiệm phân tích:
Trắc nghiệm phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, tỷ suất quan
trọng, qua đó tìm ra những xu hướng biến động, những mối quan hệ có mâu
thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã
dự kiến. Trong thực tiễn kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán, KTV
thường sử dụng các trắc nghiệm phân tích là:
- So sánh số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mua vào năm nay với năm trước
hoặc với kế hoạch cung ứng.
- So sánh các khoản nợ phải trả từng nhà cung cấp năm nay với năm trước.
- So sánh các tỷ suất về khả năng thanh toán năm nay với năm trước, với
chỉ tiêu bình quân ngành để phát hiện những biến động bất thường.
Trắc nghiệm trực tiếp số dư:
Bản chất của trắc nghiệm này là cách thức kết hợp các phương pháp cân
đối, phân tích, đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và điều tra thực tế để xác định độ tin
cậy của các số dư cuối kỳ ở sổ cái ghi vào BCĐTK. KTV tiến hành kiểm kê vật chất
hàng tồn kho, đối chiếu các khoản phải trả với nhà cung cấp Tuy nhiên, trắc
nghiệm này có chi phí kiểm toán lớn nên số lượng trắc nghiệm trực tiếp số dư cần
thực hiện tuỳ thuộc vào kết quả trắc nghiệm độ vững chãi và trắc nghiệm phân tích.
2.2. Thực hiện kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán
Đây là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán phù hợp với đối
tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán.
2.2.1.Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
Các trắc nghiệm đối với chu trình mua hàng – thanh toán được chia thành 2
phần hành cơ bản: trắc nghiệm đối với các nghiệp vụ mua hàng và trắc nghiệm đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status