một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả công lao động trong công ty cổ phần xây dựng số 5 – vinaconex 5 - Pdf 10

Môc lôc
NguyÔn ThÞ Thu Trang 1 Líp QTNL K6
Lêi më ®Çu
Tiền lương là một trong những chính sách quan trọng của một quốc
gia, nó không chỉ là đòn bẩy kinh tế mà còn là tác động chính trị xã hội hết
sức nhạy cảm.
Tiền lương quan hệ mật thiết với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Khi
tiền lương được trả theo đúng sức lao động, thực hiện theo nguyên tắc tiền
lương, trả theo lao động có hưởng, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít
thì nó là động lực kích thích người lao động hăng say làm việc, không
ngừng phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động
làm cho người lao động gắn bó với doanh nghiệp hơn. Ngược lại, tiền
lương không đảm bảo cuộc sống cho người lao động thì không kích thích
quá trình sản xuất kinh doanh mà có thể còn kìm hãm sự phát triển kinh tế,
làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội.
Nhận thức được rõ vấn đề này, em đã chọn đề tài:” Một số giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác trả công lao động trong Công ty Cổ Phần
Xây Dựng Số 5 – Vinaconex 5”. Do kiến thức còn hạn chế, kinh nghiệm
điều tra nghiên cứu chưa nhiều nên việc thực hiện báo cáo không tránh
khỏi sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của thầy giáo hướng
dẫn, các cô chú, anh chị trong phòng tổ chức của công ty.
Em xin chân thành cảm ơn!
NguyÔn ThÞ Thu Trang 2 Líp QTNL K6
PhÇn I: TiÒn c«ng vµ tiÒn l¬ng trong doanh nghiÖp
Tiền lương luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng trong đời sống xã
hội và sản xuất của đất nước. Đối với hàng triệu người lao động làm công
ăn lương thì tiền lương là mối quan tâm hàng ngày của họ vì đây là nguồn
thu nhập chính nhằm duy trì và nâng cao mức sống, sức lao động của họ và
gia đình. Nó là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất, là
nguồn dự phòng đối với người lao động. Việc sử dụng đòn bẩy tiền lương
nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì một đội ngũ lao động có sức

Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao
động (hay còn gọi là thị trường lao động), sức lao động là hàng hoá. Do
vậy, tiền lương là giá cả của sức lao động được hình thành thông qua sự
thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, chịu tác động
mang tính quyết định của quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường
lao động phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật lao động.
Tiền lương phản ánh nhiều quan hệ kinh tế, xã hội khác nhau. Tiền
lương, trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động (mua sức lao động)
trả cho người lao động (người bán sức lao động). Đó là quan hệ kinh tế của
tiền lương. Mặt khác do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động mà
tiền lương không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã
hội rất quan trọng, liên quan đến đời sống và trật tự xã hội. Đó là quan hệ
xã hội.
Trong quá trình hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối
với các chủ doanh nghiệp , tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí
sản xuất – kinh doanh. Vì vậy, tiền lương luôn được tính toán và quản lý
chặt chẽ. Đối với người lao động , tiền lương là thu nhập từ quá trình lao
động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội
có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ. Phấn đấu nâng cao tiền lương
NguyÔn ThÞ Thu Trang 4 Líp QTNL K6
là mục đích của mọi người lao động. Mục đích này tạo động lực để người
lao động phát triển trình độ và khả năng của mình.
1.2 Tiền công.
Trả công lao động là một hoạt động quản lý nhân sự có ý nghĩa rất
lớn trong việc giúp cho tổ chức đạt được hiệu suất cao cũng như tác động
một cách tích cực tới đạo đức lao động của mọi người lao động. Tuy nhiên,
tác dụng của trả công lao động còn tuỳ thuộc vào khả năng chi trả và ý
muốn trả công của công y cho người lao độngtrong tương quan với sự đóng
góp của họ. Một cơ cấu tiền công hợp lý sẽ là cơ sở để xác định lượng tiền
công công bằng nhất cho từng người lao động cũng như là cơ sở để thuyết

hội, việc tăng tiền lương, thu nhập, mức sống phải dựa trên cơ sở tăng năng
suất lao động xã hội, tăng trưởng của nền kinh tế.
Giá trị sức lao động là căn cứ để xác định mức tiền lương, việc trả
lương cho từng cá nhân lại dựa trên kết quả lao động của họ. Người lao
động được trả lương không chỉ dựa trên “giá cả” của sức lao động mà còn
được trả thêm từ sự kết hợp giữa lao động của họ với các tài sản của doanh
nghiệp. Nói cách khác, tiền lương được trả dựa trên sự phân chia lợi ích
giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà Nước.
Thông qua chính sách tiền lương, Nhà Nước tham gia tích cực vào
các quá trình phân phối và được thể hiện thông qua hệ thống pháp luật, các
chÝnh s¸ch kinh tế - xã hội, khuyến khích lợi ích chính đáng, tính tích cực,
sáng tạo của họ, đồng thời hạn chế các tiêu cực.
=> Việc làm, an toàn lao động và an sinh xã hội là mối quan tâm của
người lao động. Do vậy, mức tiền lương cần phải tính đúng, tính đủ hao phí
cần thiết để duy trì cuộc sống ngay cả khi người lao động không còn sức
lao động.
2. Các nguyên tắc trả công lao động.
Tổ chức tiền lương là tổng hợp các biện pháp nhằm đảm bảo tiền
lương cho người lao động phù hợp với số lượng và chất lượng lao động.
NguyÔn ThÞ Thu Trang 6 Líp QTNL K6
Tiền lương có ảnh hưởng rất lớn đến sự thực hiện công việc của người lao
động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động của tổ chức. chính sách tiền
lương của tổ chức hải tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, cơ cấu
tổ chức. Đồng thời phải đáp ứng được các mục tiêu hợp pháp, kích thích,
thoả đáng, công bằng, bảo đảm và hiệu suất nhằm thu hút và gìn giữ những
người lao động giỏi, nâng cao sự hài lòng của người lao động khi thực hiện
công việc. Nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương là cơ sở quan trọng
nhất để xây dựng được một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính
sách thu nhập thích hợp trong một thể chế kinh tế nhất định. Ở nước ta, khi
xây dựng các chế độ tiền lương và tổ chức trả lương phải theo các nguyên

bằng và bình đẳng trong trả lương. Thực hiện tốt nguyên tắc này làm cho
tiền lương thực sự gắn bó với quá trình sản xuất kinh doanh, kích thích
người lao động hăng say làm việc, tránh được tình trạng bình quân trong
trả lương, thực hiện tốt công bằng xã hội, góp phần hạn chế mặt tiêu cực
của người lao động.
Trả lương phải đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động phải tăng
nhanh hơn tiền lương bình quân.
Năng suất lao động không ngừng tăng lên đó là một quy luật tất yếu.
tiền lương của người lao động cũng tăng lên không ngừng do tác động của
nhiều nhân tố khách quan. Giữa tăng tiền lương và tăng năng suất lao động
có liên quan chặt chẽ với nhau.
Xét các yếu tố, các nguyên nhân trực tiếp làm tăng tiền lương và tiền
lương bình quân là do trình độ tổ chứcvà quản lý sản xuất ngày càng có
hiệu quả hơn… Đối với tăng năng suất lao động, ngoài những yếu tố gắn
liền với việc nâng cao kỹ năng làm việc và trình độ tổ chức quản lý lao
động như trên thì tăng năng suất lao động còn do các nguyên nhân khác tạo
ra như đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật
trong lao động khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên
NguyÔn ThÞ Thu Trang 8 Líp QTNL K6
nhiên … Rõ ràng là năng suất lao động có khả năng khách quan tăng nhanh
hơn tiền lương bình quân.
Mặt khác, khi xem xét các mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất
lao động và tiền lương thực tế, giữa tích luỹ và tiêu dùng trong thu nhập
quốc dân ta thấy chúng có liên hệ với tốc độ phát triển của khu vực sản
xuất tư liệu sản xuất (Khu vực I) và khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng
(Khu vực II). Quy luật tái sản xuất mở rộng đòi hỏi khu vực I phải nhanh
hơn khu vực II. Do vậy, tổng sản phẩm xã hội (Khu vực I + khu vực II) có
tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của tổng san phẩm của riêng khu vực II.
Do đố, tổng sản phẩm xã hội tính theo đầu người tăng nhanh hơn tốc độ
tăng sản phẩm bình quân tính theo đầu người của khu vực II. Ta cũng thấy

với những người làm việc trong điều kiện bình thường. Sự phân biệt này
làm cho tiền lương bình quân trả cho người lao động làm việc ở những nơi,
những ngành có điều kiện lao dộng khác nhau cũng khác nhau. Để làm
tăng tính linh hoạt trong trả lương phân biệt theo điều kiện lao động, người
ta thường sử dụng các loại phụ cấp về điều kiện lao động để trả cho người
lao động ở những công việc có điều kiện làm việc rất khác nhau.
+ Ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nền
kinh tế bao gồm rất nhiều ngành khác nhau. Trong từng thời kỳ, từng giai
đoạn của sự phát triển của mỗi nước, một số ngành được coi là trọng điểm
vì có tác dụng rất lớn đến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Các
ngành này cần phải được ưu tiên phát triển. Trong đó, dùng tiền lương để
thu hút và khuyến khích người lao động trong các ngành có ý nghĩa kinh tế
quan trọng, đó là một biện pháp đòn bẩy về kinh tế và cần phải được thực
hiện tốt. Thực hiện sự phân biệt này thường rất đa dạng, có thể trong tiền
lương cũng có thể dùng các loại phụ cấp khuyến khích.
NguyÔn ThÞ Thu Trang 10 Líp QTNL K6
+ Sự phân bố theo khu vực sản xuất. Một ngành có thể được phân bố
ở những khu vực khác nhau về địa lý, kéo theo những khác nhau về đời
sống vật chất, tinh thần, văn hoá, tập quán. Những khác nhau đó gây ảnh
hưởng và làm cho mức sống của người lao động hưởng lương khác nhau.
Để thu hút, khuyến khích người lao động làm việc ở vùng xa xôi, hẻo lánh,
vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn phải có chính sách tiền lương
thích hợp với những loại phụ cấp, ưu đãi thoả đáng. Có như vậy thì mới có
thể sử dụng hợp lý lao động xã hội và khai thác có hiệu quả các nguồn lực,
tài nguyên thiên nhiên ở mọi vùng, miền của đất nước.
Tiền lương phụ thuộc vào khả năng tài chính.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ cách nhìn nhận vấn đề tiền lương là một
chính sách xã hội, bộ phận cấu thành trong tổng thể các chính sách kinh tế -
xã hội của Nhà nước có quan hệ với thực trạng tài chính quốc gia cũng như
thực trạng tài chính ở cơ sở.

kiện lao động nặng nhọc – độc hại – nguy hiểm, làm đêm, làm thêm giờ
phải cao hơn bình thường. mức trả do doanh nghiệp quy định trong khuôn
khổ quy định hiện hành của pháp luật lao động.
Tiền lương phải có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm và hiệu quả lao động. Muốn vậy, tổ chức trả lương phải sử
dụng đòn bẩy kích thích vật chất gắn liền với các tiêu chí tăng năng suất
lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả lao động.
Tiền lương phải đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho người lao động. Mức lương mà người lao động được nhận
phải dần được nâng cao do thâm niên công tác tăng lên hoặc do điều chỉnh
tiền lương, đảm bảo tốt hơn và thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của
cá nhân, gia đình người lao động.
Tiền lương được trả phải dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao
động và người sử dụng lao động được ghi trong hợp đồng lao động và kết
NguyÔn ThÞ Thu Trang 12 Líp QTNL K6
quả lao động của người lao động. Tiền lương phải do chính chủ sử dụng
lao động chịu trách nhiệm trả cho người lao động. Phải quy định rõ các
trường hợp khấu trừ lương trong khuôn khổ luật định. Không được cúp
lương, xử phạt kỷ luật lao động bằng cách trừ tiền lương.
Tiền lương phải được trả theo loại công việc, chất lượng và hiệu quả
công việc. Mức lương được trả cho người lao ®ộng trong doanh nghiệp có
thể dựa trên quy định trong hệ thống thang bảng lương của Nhà nước hoặc
theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động. Hình thức trả lương do người
sử dụng lao động lựa chọn và duy trì trong thời gian nhất định.
Tiền lương phải đơn giản, dễ hiểu và dễ tính. Tiền lương luôn là mối
quan tâm hàng đầu của mọi người lao động. một chế độ tiền lương đơn
giản, rõ ràng, dễ hiểu có tác động trực tiếp tới động cơ và thái độ làm việc
của họ, đồng thời làm tăng hiệu quả của hoạt động quản lý, nhất là quản lý
về tiền lương.
3. Vai trò của trả công lao động.

lượng cao, các công việc mà năng suất, chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào
máy móc, thiết bị hay các hoạt động tạm thời, sản xuất thử.
TL
TG
= ML x T
LVTT
Trong đó:
TL
TG
: là tiền lương thời gian
ML : mức lương tương ứng với các bậc trong thang
lương, bảng lương.
T
LVTT
: Thời gian làm việc thực tế.
1.2 Các loại lao động ứng dụng cho loại hình tiền lương này.
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những
người làm công tác quản lý. Đối với công nhân sản xuất thì hình thức trả
lương này chỉ áp dụng ở những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu
hoặc những công việc không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và
NguyÔn ThÞ Thu Trang 14 Líp QTNL K6
chính xác, hoặc vì tính chất của sản xuất nếu thực hiện trả công theo sản
phẩm sẽ không bảo đảm được chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu
quả thiết thực. Hình thức tiền lương này được áp dụng chủ yếu với:
- Công chức, viên chức.
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.
- Những người thực hiện quản lý, chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ
trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh.
- Công nhân sản xuất làm những công việc không thể định mức lao
động, hoặc do tính chất sản xuất nếu trả lương theo sản phẩm sẽ khó đảm

= ML x T
LVTT.
Trong đó:
TL
tg :
Tiền lương thời gian ‘
ML: Tièn lương cấp bậc
T
LVTT
: Thời gian làm việc thực tế của người lao động.
Có hai chế độ trả lương theo thời gian đơn giản đó là: chế độ trả
lương ngày và lương tháng.
-Chế độ trả lương tháng là chế độ trả lương tính theo mức lương
cấp bậc hoặc chức vụ tháng của công nhân viên chức.
Chế độ trả lương tháng được áp dụng chủ yếu đối với viên chức
làm việc trong khu vực Nhà nước.
Công thức tính:
Mức lương tháng = Mức lương cấp bậc hoặc chức vụ + Các khoản phụ
cấp (nếu có).
Lương tháng trả cố định hàng tháng theo thang, bảng lương Nhà nước
ban hành hoặc theo mức lương thỏa thuận được ghi trong hợp đồng lao
động. Lương tháng có thể trả lương cả tháng một lần, nhưng thường thì trả
làm hai kỳ trong tháng là đầu tháng và cuối tháng.
Ưu điểm: Chế độ trả lương này đơn giản, dễ hiểu, dễ tính, nhân viên
trong công ty có thể tự tính lương của mình.
Nhược điểm: của chế độ trả lương này còn mang tính chất bình quân,
không khuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên
NguyÔn ThÞ Thu Trang 16 Líp QTNL K6
vật liệu; không tập trung công suất của máy móc, thiết bị để làm tăng năng
suất lao động; chưa gắn liền tiền lương với hiệu suất công tác của mỗi

lương tuần và trả lương giờ. Đối với công việc có điều kiện lao động và
môi trường lao động bình thường thì giờ công quy định là 8 giờ/ ngày. Đối
với công việc có điều kiện lao động và môi trường lao động đặc biệt nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm thì giờ công quy định là 6 giờ/ ngày.
1.3.2 Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng.
NguyÔn ThÞ Thu Trang 17 Líp QTNL K6
+ Khái niệm: Chế độ trả lương này là sự kết hợp giữa chế độ trả
lương theo thời gian đơn giản với tiền thưởng nếu cán bộ công nhân viên
chức đạt được các chỉ tiêu và điều kiện thưởng quy định.
+ Điều kiện áp dụng: Chế độ trả lương này chủ yếu được áp dụng đối
với những công nhân phụ làm công việc phục vụ như công nhân sửa chữa,
điều chỉnh thiết bị… Ngoài ra, còn áp dụng đối với những công nhân chính
làm những khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá cao, tự động hoá hoặc
những công việc bộ phận sản suất hoặc những công việc chưa có điều kiện
trả lương theo sản phẩm hay những công việc đòi hỏi phải đảm bảo tính
chính xác cao, những công việc có trình độ cơ khí hóa, tự động hóa cao.
+ Tiền lương của người lao động được tính bằng cách lấy lưong trả
theo thời gian đơn giản (mức lương cấp bậc) nhân với thời gian làm việc
thực tế, sau đó cộng với tiền thưởng. Lương theoe thời gian đơn giản, trong
chế độ trả lương này không những phụ thuộc vào trình độ thành thạo và
thời gian làm việc thực tế mà còn gắn chặt với thành tích công tác của từng
người thông qua các chỉ tiêu xét thưởng đã đạt được
Công thức:
TL
tg
= ML x T
LVTT
+ Tiền thưởng
Chế độ trả lương này có nhiều ưu điểm hơn so với chế độ trả lương
theo thời gian đơn giản. Chế độ này không những phản ánh trình độ thành

tg.
Hoặc:
SL
CBCV
M
PCL
ĐG
+
=
-
Trong đó:
L
CBCV:
Lương cấp bậc công việc
PC: Phụ cấp
ĐG: Đơn giá
M
tg:
Mức thời gian
M
SL:
Mức sản lượng.
Nếu sản phẩm làm ca đêm và được hưởng phụ cấp làm đêm là 30% thì đơn
giá của sản phẩm làm đêm (ĐG
đêm
) là:
ĐG
đêm
= 1,3 x ĐG.
Điều kiện để xác định đơn giá chính xác: Muốn xác định đơn giá

NguyÔn ThÞ Thu Trang 20 Líp QTNL K6
+ Khái niệm: Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là chế
độ trả lương cho công nhân căn cứ vào số lượng sản phẩm (hay chi tiết sản
phẩm) đảm bảo chất lượng quy định và đơn giá tiền lương cố định.
+ Chế độ này được áp dụng rộng rãi đối với những người trực tiếp
sản xuất, kinh doanh trong các đơn vị kinh tế mà quá trình lao động của họ
mang tính độc lập tương đối, công việc có thể định mức lao động và kiểm
tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể, riêng biệt. Tiền lương của họ do
chính năng suất lao động cá nhân quyết định.
+ Công thức tính:
ĐG = (L
CBCV
+ PC) M
TG.
Hoặc:
SL
CBCV
M
PCL
ĐG
+
=
Trong đó:
L
CBCV :
Lương cấp bậc công việc
PC :Phụ cấp
M
tg
: Mức thời gian

đến nhau.
+ Công thức tính đơn giá:
SL
CBCV
M
)PCL(
ĐG

+
=
Hoặc:

+=
tgCBCV
M)PCL(ĐG
Trong đó:

+ :)PCL(
CBCV
Tổng số tiền lương và phụ cấp tính theo cấp
bậc công việc của cả nhóm công nhân.
NguyÔn ThÞ Thu Trang 22 Líp QTNL K6
Sau khi xác định được tiền lương sản phẩm tập thể người ta có thể áp
dụng các phương pháp khác nhau để chia lương sản phẩm tập thể cho từng
công nhân Có ba phương pháp chia lương sản phẩm tập thể đó là:
*Phương pháp dùng hệ số điều chỉnh:
Áp dụng phương pháp hệ số điều chỉnh chia lương cho từng công nhân tiến
hành theo ba bước:
Bước 1: Tính tiền lương thời gian thực tế của công nhân (nhóm)
Bước 2 : Tính hệ số điều chỉnh

doanh của mình nhằm loại bỏ những yếu tố bất hợp lý kìm hãm sự phát
triển và phát huy tối đa những yếu tố tích cực.
Tiền lương, tiền công liên quan đến đời sống của cán bộ công nhân
viên trong doanh nghiệp. Nếu tiền lương của họ đáp ứng, phù hợp với mức
sống, đảm bảo đời sống vật chất cũng như tinh thần của người lao động và
ngày càng tăng lên thì đây là một trong những động lực chính thúc đẩy họ
làm việc tốt hơn và họ sẽ có tinh thần trách nhiệm cao hơn trong công việc
cũng như ý thức phát triển doanh nghiệp. Ngược lại, nếu tiền lương của họ
thấp, không đáp ứng đủ những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống thì họ sẽ
không tập trung vào làm việc mà luôn tìm cách để có được điều kiện sống
tốt hơn và như vậy, công việc của họ sẽ không hoàn thành, không đáp ứng
được yêu cầu của chất lượng cũng như số lượng sản phẩm. Chính vì vậy,
các doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đến đời sống của cán bộ
công nhân viên trong doanh nghiệp. Khi mức sống của xã hội tăng lên thì
các doanh nghiệp cũng phải tìm mọi biện pháp cũng như cách thức làm
tăng mức sống của người lao động trong doanh nghiệp. Đó chính là vấn đề
tiền lương.
NguyÔn ThÞ Thu Trang 24 Líp QTNL K6
Tiền lương cũng là mục tiêu cuối cùng của người lao động. Người
lao động khi bỏ công sức của mình ra để cống hiến cho doanh nghiệp thì
mục tiêu cuối cùng của họ là nhận được những đồng tiền lương, tiền công
xứng đáng với sức lao động cũng như trình độ mà họ đã cống hiến. Nếu số
tiền lương tiền công mà họ nhận được phù hợp với những gì họ bỏ ra thì họ
luôn tìm cách phát huy, phấn khởi làm việc, tìm tòi sáng tạo còn ngược lại,
nếu tiền lương tiền công mà họ nhận được không xứng đáng với những gì
họ bỏ ra thì họ sẽ chán nản, tìm mọi cách để chống đối, thậm chí họ có thể
sẽ bỏ việc để tìm công việc khác có mức lương cao hơn.
Tiền lương là một công cụ hết sức quan trọng quyết định ý thức và
hiệu quả làm việc của mỗi người, quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Chế độ tiền lương mang nặng tính bình quân chủ nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status