vận dụng phương pháp thống kê phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp may xuất khẩu thanh trì năm 2003-2004 - Pdf 10

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: Vận dụng phương pháp Thống Kê phân tích hiệu quả sản xuất
kinh doanh của Xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì năm 2003-2004.
===================
Lời mở đầu
Trong xu thế hội nhập và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, hiệu
quả sản xuất kinh doanh là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại, mở
rộng và phát triển của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh. Với hệ thống thương mại
đã phát triển trên toàn cầu, giao lưu hợp tác buộc mỗi đơn vị, mỗi nước phải
cạnh tranh với toàn bộ phần còn lại của thế giới. Để tăng cường khả năng cạnh
tranh các đơn vị kinh tế luôn phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
mình, làm tốt công tác Marketing và không ngừng hoàn thiện nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Thống Kê được coi là một trong những công cụ sắc bén nhất để nhận thức
hiện tượng kinh tế xã hội, vì nó cho phép định lượng các chất, gắn định lượng
với định tính, phản ánh hiện thực khách quan, làm cơ sở để cho các quyết định
quản lý có căn cứ thực tế và hiệu quả. Quản lý là hoạt động dựa trên sự nhận
thức và vận dụng các quy luật thực tế khách quan, Thống Kê có bộ công cụ
phong phú để phân tích nhận thức và biểu hiện được bản chất, tính quy luật của
hiện tượng làm cơ sở cho việc ra các quyết định quản lý: kiểm kê, kiểm soát.
Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì luôn phải cập nhật
những thông tin về hoạt động sản xuất và tiêu thụ, Thống Kê là một công cụ ưu
tú vì vậy không thể thiếu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Chính vì vậy, sau thời gian thực tập ở Xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì,
dựa trên những kiến thức Thống Kê đã được học tại trường, đề tài em lựa chọn
là “ Vận dụng phương pháp Thống Kê phân tích hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì “
Bài viết gồm 5 phần:
• Lời mở đầu
• Chương I: Khái niệm, ý nghĩa của hiệu quả sản xuất kinh doanh
• Chương II: Hệ thống chỉ tiêu Thống Kê hiệu quả sản xuất kinh doanh

và nguyên tắc kinh tế cơ bản nhất là sự phân công lao động. Ông quy sự gia
tăng của cả sản lượng và chất lượng sản phẩm vào nguyên tắc phân công lao
động.
Theo Plato (427-327 trước CN) Thừa nhận chuyên môn hoá và phân công
lao động như nguồn gốc của hiệu quả và năng suất
Theo Aristotle ( 384-322 trước CN) phân phối công bằng tạo ra hiệu quả
kinh tế.
Các nhà kinh tế học thời kỳ trung cổ cho rằng hiệu quả kinh tế được tính
thông qua các chỉ về kết quả:
A.Smith trong tác phẩm “Tìm kiếm bản chất và nguồn gốc của sự giàu có
của các quốc gia” cho rằng hiệu quả được phản ánh thông qua tiền lãi và lợi
nhuận, lợi nhuận là tiền lời đối với tư bản hơn là thu nhập của doanh nghiệp.
Tiền lãi được xem là đại diện của lợi nhuận, tức là coi hiệu quả là kết quả đạt
được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu và lợi nhuận. Sức lao động của con
người trong mỗi quốc gia là nguồn gốc của sự giàu có và là vốn liếng đầu tiên
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
2
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
tạo ra mọi của cải cần thiết cho đời sống xã hội. Vì vậy để sản xuất có hiệu quả
cần một sự phân công lao động trong các tổ chức, các ngành trong một quốc gia.
Ogiephri ( nhà kinh tế người Pháp) cũng đồng quan điểm như vậy.
Trong bản dự thảo phương pháp tính hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của
viện nghiên cứu khoa học thuộc uỷ ban kế hoạch nhà nước Liên Xô cũ đã xem
hiệu quả kinh tế là tốc độ tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội. Như
vậy ở đây hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh hoạc nhịp độ tăng các chỉ tiêu đó. Rõ rang các quan điểm này
không hợp lý, Kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do chi phí tăng hay mở
rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả sản xuất mà có hai
mức chi phí khác nhau thì quan điểm này có chung một hiệu quả.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng, thuộc mọi lĩnh

dụng phân tích khác nhau.
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống hiệu quả là một phạm trù triết hcọ và
kinh tế phản ánh nhu cầu của quy luật kinh tế tiết kiệm thời gian, quy luật
nầyhọt động trong nhiều phương thức sản xuất vì vậy phạm trù này cũng tồn tại
trong nhiều phương thức sản xuất, ở đâu và lúc nào con người cũng muốn hoạt
động một cách có hiệu quả nhất. Trong nền kinh tế, hiệu quả là mục tiêu không
phải cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên xuất mọi hoạt động kinh tế.
Trong kế hoạch và quản lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu
giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định
(hoặc một kết quả nhất định với một chi phí nhỏ nhất)
Trong Thống Kê, hiệu quả kinh tế là các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế - kỹ thuật,
xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội.
Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vào việc tạo ra các lợi ích vật chất
nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội. Việc đạt tới mục tiêu kinh tế - xã hội (đạt
tới hiệu quả mong muốn ) là việc của kế hoạch, của lãnh đạo và quản lý Thống
Kê phục vụ cho công cuộc đó bằng sự phản ánh trạng thái của hệ thống mức độ
hiệu quả đã đạt được trong quá khứ, ở dạng các thông số kinh tế-kỹ thuật của hệ
thống sản xuất xã hội. Nhưng các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của hệ
thống kinh tế xã hội không phải tất cả đều là chỉ tiêu hiệu quả và việc pảhn ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực xã hội vào sản xuất sản phẩm của các chỉ tiêu
hiệu quả kinh tế cũng mang tính chất tương đối.
Ở dạng khái quát nhất, hiệu quả là các đặc trưng kinh tế - kỹ thuật xác định
bằng tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống. Với nền sản xuất xã hội
có thể nói cụ thể hơn ở phương diện Thống Kê: hiệu quả kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực của xã hội trong sản xuất thông qua các chỉ tiêu đặc
trưng kinh tế - kỹ thuật được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản
ánh kết quả đạt được về kinh tế với các chỉ tiêu phản ánh chi phí đã bỏ ra hoặc

nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này chỉ đứng trên
phương diện biến động theo thời gian. Hiệu quả sẽ cao khi có nhịp độ tăng các
chỉ tiêu đó cao. Tức là một đơn vị sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế khi
các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh tăng theo thời gian, ví dụ Lợi
nhuận của doanh nghiệp năm 2005 so với năm 2003 tăng 1.2 lần, tức là doanh
nghiệp đó đã sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên quan điểm này không
tính đến việc nếu chi phí sản xuất hoặc các nguồn lực được huy động tăng nhanh
hơn thì sao? Hơn nữa điều kiện sản xuất năm hiện tại khác năm trước, các yếu tố
bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có ảnh hưởng khác nhau, việc năm gốc
so sánh cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả so sánh. Nếu năm gốc bị mất mùa,
thiên tai, cấm vận… kết quả kinh tế đạt được thấp thì năm nghiên cứu có hiệu
quả cao, với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta có các mức hiệu quả khác nhau
của cùng một năm nghiên cứu.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là các chỉ tiêu được xác định bằng tỉ lệ so sánh
giữa kết quả và chi phí, định nghĩa này chỉ đưa ra cách xác lập các chỉ tiêu hiệu
quả chứ không toát lên bản chất của vấn đề. Nếu tỉ lệ so sánh giữa kết quả và chi
phí mà kết quả lớn lớn hơn chi phí tức là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có
hiệu quả.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức độ tăng kết
quả kinh tế, đây là cách hiểu theo biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái
niệm về hiệu quả kinh tế và cũng là mục tiêu phấn đấu của tất cả các đơn vị sản
xuất kinh doanh là giảm chi phí sản xuất, nâng cao kết quả
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh
trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh, theo cách
hiểu này hiệu quả sản xuất kinh doanh được quy về một chỉ tiêu tổng hợp cụ thể
nào đó, hay đây chính là hiệu quả cận biên của mỗi đơn vị chi phí ra.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: coi
hiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tức là muốn
đề cập đến mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi
phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Quan điểm này đúng

và mức tối đa về sản lượng, tỷ lệ so sánh đó càng gần 1 càng có hiệu quả, bằng 1
khi 2 mức độ bằng nhau.
Hiệu quả sản xuất còn được xác định theo chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối tức là:
Hiệu quả sản xuất = Kết quả - chi phí
Quan điểm này ít được thừa nhận do người ta cho rằng quan điểm này nhầm
lẫn giữa phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh với mô tả sự chêng lệch kết quả
và hao phí nguồn lực. Chênh lệch kết quả - chi phí luôn là số tuyệt đối phản ánh
mức độ đạt được một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả quá trình
sản xuất kinh doanh và không bao giờ phản ánh đượ trình độ lợi dụng các nguồn
lực.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế, vì vậy cần có một khái niệm bao quát tất cả các mặt và biểu hiện
của nó:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ
khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp, nó là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh
giữa kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí sản xuất kinh doanh ( hiệu quả
dạng thuận), hoặc ngược lại là quan hệ so sánh giữa chi phí sản xuất kinh doanh
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
với kết quả sản xuất kinh doanh (hiệu quả dạng nghịch). Các chỉ tiêu hiệu quả
sản xuất kinh doanh dạng thuận còn có thể được gọi là các chỉ tiêu năng suất,
dạng nghịch có thể được gọi là suất tiêu hao. Hiệu quả sản xuất kinh doanh biểu
hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai
thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản
xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Phát triển kinh tế theo chiều rộng là
huy động mọi nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn, bổ xung lao
động và kỹ thuật, mở mang nghành nghề, xây dựng thêm nhiều xí nghiệp, tạo ra
nhiều mặt hàng mới. Phát triển kinh tế theo chiều sâu là đẩy mạnh cách mạng

sinh môi trường…
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
-Hiệu quả an ninh, quốc phòng: sức mạnh kinh tế của một quốc gia góp phần
vào làm tăng thêm sức mạnh an ninh quốc phòng.
-Hiệu quả đầu tư: biểu hiện qua các dự án đầu tư hay thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, ngoài ra là các kết quả thu được từ các dự án đầu tư, dự án đầu tư
tăng thêm…
-Hiệu quả môi trường: các doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh có thể gây
ra các tác dụng ảnh hưởng đến môi trường, các ảnh hưởng này có thể là tích cực
hay tiêu cực, tuy nhiên nói đến hiệu quả môi trường thường là nhắc đến các ảnh
hưởng tích cực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, ví dụ như các doanh
nghiệp khi sản xuất kinh doanh áp dụng các công nghệ sạch…
2.2. Theo nội dung tính toán:
-Hiệu quả dạng thuận:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh tế =
Chi phí đầu vào
-Hiệu quả dạng nghịch:
Chi phí đầu vào
Hiệu quả kinh tế =
Kết quả đầu ra
2.3. Theo phạm vi tính: có thể chia thành
-Hiệu quả toàn phần (hay hiệu quả đầy đủ): tính chung cho toàn bộ kết quả
và toàn bộ chi phí của từng yếu tố hoặc tính chung cho tổng nguồn lực
-Hiệu quả đầu tư tăng thêm( hay cận biên): chỉ tính cho phần đầu tư tăng
thêm và kết quả tăng thêm của thời kỳ tính toán.
2.4. Theo hình thái biểu hiện:
-Hiệu quả ẩn: góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội

mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực
phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của xã hội và
nâng cao đời sống của loài người qua mọi thời đại. Nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội là một trong những yêu cầu khách quan của tất cả các hình thái kinh tế.
Để đảm bảo hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội cần đảm bảo sự tồn tại hữu
cơ cảu ba loại lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Xã hội
quan tâm đến GO, GDP vì vậy tăng GO và GDP là cơ sở để xác định hiệu quả
theo quan điểm xã hội. Ngoài ra chúng ta có thể phân tích hiệu quả kinh tế - xã
hội thông qua các chỉ tiêu:
Tăng thu ngân sách: mọi doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh đều phải có nhiệm vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước dưới nhiều
hình thức, nộp thuế là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của mỗi người, mỗi doanh
nghiệp: thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế đất, thuế VAT… Nhà nước sử dụng
những khoản thu này để chi cho các hoạt động phát triển của nền kinh tế quốc
dân và các lĩnh vực phi sản xuất, phân phối lại thu nhập…
Tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống cho người lao động: ngoài tạo
việc làm cho người lao động, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả góp phần
nâng cao mức sống cho người lao động. Xét trên giác độ kinh tế việc nâng cao
mức sống cho người dân được thể hiện qua các chỉ tiêu như: tăng thu nhập bình
quân đầu người, tăng đầu tư sản xuất, tăng phúc lợi xã hội…
Tái phân phối phúc lợi xã hội: sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế
giữa các vùng lãnh thổ và tầng lớp dân cư do các yếu tố chủ quan và khách quan
như: địa lý kinh tế, nguồn lực, tài nguyên… là khá phổ biến, hiệu quả kinh tế
góp phần xoá bỏ các cách biệt này, phân phối lại lợi ích xã hội
b. Một số nhà kinh tế cho rằng tiêu chuẩn hiệu quả là nội hàm của phạm trù
hiệu quả, là biểu hiện bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế. Nói cách khác họ
quan niệm tiêu chuẩn hiệu quả đồng nghĩa với nội dung hiệu quả. Tiêu chuẩn
hiệu quả kinh tế phản ánh ở dạng chung nhất phạm trù hiệu quả kinh tế. Tiêu
chuẩn hiệu quả kinh tế được biểu hiện gián tiếp thông qua một hệ thống chỉ tiêu.
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A

Ví dụ:
Chỉ tiêu hiệu quả Tiêu chuẩn hiệu
quả
Mức năng suất lao động bình quân (W)
W → Max
Hiệu năng của vốn sản xuất (H
NV
)
H
NV
→ Max
Mức tiền lương cho 1 đơn vị sản phẩm (TL)
TL → Min
Tiêu hao vật chất cho 1 đơn vị sản phẩm (NVN)
NVN→ Min
Giá thành 1 đơn vị sản phẩm (Z)
Z → Min
Những xu hướng động thái làm tiêu chuẩn cho các chỉ tiêu hiệu quả cũng chỉ
mang tính chất định tính Max hay Min mà không chỉ rõ được mức độ của xu
hướng đó, cần có tăng lên là được, còn cụ thể tăng bao nhiêu phần trăm thì
không định trước được. Xu hướng là Min nhưng giảm bao nhiêu thì không cần
biết, đó là chưa kể sự xác đĩnhu hướng Max, Min cần có ở trên chưa dựa vào cơ
sở phân tích khoa học các quy luật tác động nội tại quá trình sản xuất. Quan
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
10
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
điểm về hiệu quả nêu trên sẽ có ích trong việc nhận biết và phân tích hiệu quả
nếu tiêu chuẩn hiệu quả đề ra cho từng chỉ tiêu cụ thể có cơ sở khoa học. Nắm
được động thái các chỉ tiêu là điều rất quan trọng trong quản lý kinh tế, diễn
biến trong quá khứ và hiện tại sẽ giúp ích nhiều cho tương lai

hợp với từng lĩnh vực, đối tượng nghiên cứu. Trong kinh tế vi mô, việc xác định
tiêu chuẩn hiệu quả là mức trung bình toàn bộ hoặc từng ngành là tuỳ điều kiện,
giữa các ngành có sự khác biệt lớn về trình độ phát triển thì tiêu chuẩn hiệu quả
xác định riêng cho từng ngành để đánh giá các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sẽ
phù hợp hơn
3.2. Bản chất và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
a. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động
xã hội và tiết kiệm lao động lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối liên hệ mật
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
thiết của vấn đề hiệu quả. Chính việc khan hiếm nguồn lực và sử dụng chúng có
tính chất cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra
vấn đề phải khai thác tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được
mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải trú trọng các điều kiện nội tại,
phát huy nguồn lực của các nhân tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Yêu cầu
của nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt hiệu quả tối đa với chi phí
tối thiểu hay chính xác hơn là hiệu quả tối đa với chi phí nhất định, hoặc kết quả
nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi
phí tạo ra nguồn lực đồng thời cũng phải tính đến cả chi phí cơ hội - là chi phí
cho giá trị của việc lựa chọn tốt nhất bị bỏ qua hay giá trị của của việc hi sinh
công việc kinh doanh khác để thực hiện công việc kinh doanh này. Chi phí cơ
hội phải được hạch toán vào chi phí kế toán, và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để
thấy được lợi ích thực sự. Cách tính như vậy sẽ khó khăn cho các nhà kinh
doanh lựa chọn phương án tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn.
Phản ánh một cách toàn diện các khoản chi phí.
Biểu hiện của hiệu quả sản xuất kinh doanh là lợi ích mà thước đo cơ bản
của nó là tiền cụ thể hơn là phần lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là mục tiêu cơ
bản, số một chi phối toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.
b. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh: để đánh giá hiệu quả

doanh nghiệp trên cùng địa bàn
Chỉ khi nào đạt được 6 tiêu chuẩn trên thì chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh
doanh mới có vai trò nổi bật là mức doanh lợi hay tỷ suất lợi nhuận trên vốn
mới là chỉ tiêu thực và không tồn tại tình trạng lãi giả lỗ thật. Các doanh nghiệp
hoạt động không hiệu quả khi làm ăn thua lỗ từ 2 năm liên tục trở lên mà tổng số
luỹ kế nợ khó đòi, các khoản giảm giá tài sản đã chiếm trên 3/4 vốn sản xuất
kinh doanh và không có thị trường tiêu thụ ổn định. Như vậy nếu tiêu chuẩn
đánh giá dạng động đánh giá hiệu quả thông qua so sánh kết quả và chi phí của
hai kỳ khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá dạng tĩnh tức là đánh giá tại một thời
điểm nhưng có phạm vi thời gian và không gian rộng hơn, các chỉ tiêu đánh giá
không phải là của 1 năm mà phải qua một số năm kinh doanh. Tiêu chuẩn đánh
giá dạng tĩnh thể hiện không chỉ mối quan hệ nội bộ ngành mà cả với bên ngoài
tức là với Ngân hàng, Tín dụng, Bảo hiểm…
3.3. Quan điểm đánh giá về hiệu quả kinh tế và hiệu quả sản xuất kinh doanh
3.3.1. Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sản xuất kinh doanh nói riêng là một
chỉ tiêu tương đối, thời kỳ. Đó là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp vì vậy có nhiều
quan điểm đánh giá về nó:
-Quan điểm 1: là biểu hiện của lượng sản xuất ra hay chính là biểu hiện của
kết quả sản xuất: Sản lượng sản phẩm (q) có thể là sản phẩm hiện vật hoặc sản
phẩm hiện vật quy chuẩn, Giá trị sản xuất (GO), Giá trị gia tăng (VA), Giá trị
gia tăng thuần (NVA), Tổng sản phẩm sản xuất (GDP), Lợi nhuận (M)
-Quan điểm 2: là đại lượng so sánh giữa kết quả đạt được so với chi phí đã
bỏ ra để đạt được kết quả sản xuất kinh doanh đó, nói một cách tổng quát hiệu
quả sản xuất kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả của đầu ra so với
chi phí của đầu vào. Nó được biểu hiện dưới hai dạng, dạng so sánh tương đối
(dạng phân số)
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh tế = ≥ 1 hay
Chi phí đầu vào

Lao động bình quân
Năng suất lao động xã hội =
Giá trị gia tăng (VA)
-Hiệu suất đồng vốn: Chỉ tiêu được tính cho tổng số vốn nói chung và riêng
cho vốn cố định đã bỏ ra để có được kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả ( GDP,VA, M)
Hiệu suất đồng vốn =
Tổng vốn
Kết quả ( GDP,VA, M)
=
Vốn cố định ( vốn lưu động)
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
14
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
-Hiệu quả của một đồng chi phí: là hiệu quả đem lại từ một đồng chi phí
trung gian.
Kết quả (GDP,VA, M )
Hiệu quả 1 đồng chi phí =
Chi phí trung gian( IC )
-Thu nhập bình quân cho một lao động: là kết quả so sánh tổng thu nhập của
người lao động với tổng số lao động trung bình của năm đó
Tổng thu nhập
Thu nhập bình quân cho 1 lao động =
Tổng lao động
-Hệ số ICOR ( Hệ số gia tăng vốn - đầu ra ): là hệ số nói lên vốn sản xuất
được tạo ra bằng đầu tư, là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, tiết kiệm của nhân
dân và các công ty là nguồn gốc của đầu tư, hệ số này cũng phản ánh trình độ kỹ
thuật của sản xuất và là số đo năng lực của phần đầu tư tăng thêm. Đây là chỉ
tiêu khái quát mối quan hệ và tác động qua lại giữa vốn đầu tư với tăng trưởng
GDP

Việc nâng cao hiệu quả kinh tế còn góp phần làm giảm tốc độ lạm phát,
giảm nhịp độ tăng giá, bội chi ngân sách và giảm khó khăn về đời sống
*Như đã nói trên, hHiệu quả sản xuất kinh doanh có ý nghĩa thực tiễn vô
cùng to lớn, tác động đến sự tồn tại phát triển của các đơn vị sản xuất kinh
doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh tạo ra lợi thế, tăng sức mạnh cạnh tranh.
Dựa vào phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể giúp doanh
nghiệp đánh giá được lĩnh vực kinh doanh nào cần mở rộng, lĩnh vực nào cần
thu hẹp, lĩnh vực nào kém hiệu quả, nguyên nhân và biện pháp khắc phục.
-Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là sử dụng hợp lý hơn các yếu tố
của quá trình sản xuất kinh doanh, với chi phí không đổi nhưng tạo ra được
nhiều kết quả hơn. Như vậy phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ
làm giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh
- Tận dụng và tiết kiệm được các nguồn lực hiện có: Hiệu quả sản xuất gắn
với chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động chuyên sâu hơn, khi đó các
nguồn lực sẽ được sử dụng hiệu quả hơn cả về nhân lực, tài lực và vật lực.
- Thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo cơ sở cho việc thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất: Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh đơn vị sản xuất kinh doanh cần phải áp dụng các phương pháp quản
lý mới, các quy trình công nghệ mới, hiện đại và tiên tiến, điều này yêu cầu các
đơn vị phải luôn nghiên cứu, tìm hiểu, phát minh và cập nhật các tiến bộ trong
sản xuất và kinh doanh. Đơn vị nào tìm ra được phương pháp mới có hiệu quả
trong sản xuất kinh doanh, đơn vị đó sẽ giành được lợi thế, thu được nhiều lợi
nhuận và tạo ra ưu thế trong cạnh tranh. Vì vậy các đơn vị sản xuất luôn tìm
cách nâng cao công nghệ, thúc đẩy tiến bộ khoa học, điều này trực tiếp ảnh
hưởng đến quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá sản xuất của đơn vị nói
riêng và của đất nước nói chung. Dẫn đến thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao năng
lực sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm làm cho sản xuất
kinh doanh phát triển với tốc độ cao.
-Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng đồng nghĩa với nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho người lao động.

đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn tay nghề cần kiểm tra phân tích đánh
giá qua các kỳ thi nhằm hoạch định kế haọch huấn luyện, nâng cao chất lượng
theo thời gian. Thể hiện thông qua trình độ quản lý và trình độ lành nghề của lao
động, nNếu một đơn vị có bộ máy quản lý và phương pháp quản lý tốt, lao động
có trình độ chuyên môn cao thì sẽ có hiệu quả sản xuất cao. Các chỉ tiêu thể hiện
là bậc thợ bình quân, trình độ học vấn của lao động, thâm niên nghề nghiệp…
Đây là nhân tố quan trọng liên kết tất cả các nhân tố để có thể đạt hiệu quả sản
xuất kinh doanh cao nhất.
Lao động tác động vào hiệu quả sản xuất kinh doanh theo các góc độ: Số
lượng, chất lượng, tiền lương và năng suất lao động tác động vàoảnh hưởng đến
kết quả đầu ra. Thông qua các hoạt động: trực tiếp điều khiển máy móc thiết bị
tạo ra sản phẩm, sáng tạo ra những giải pháp kỹ thuật công nghệ, hoạt động chấp
hành nội quy làm việc. Lao độngCác nhà quản trị tác động vào quá trình tổ chức
sản xuất thông qua sự tác động quản lý, để có thể quản lý lao động trong sản
xuất kinh doanh phải đảm bảo các yêu cầu như nâng cao chất lượng chuyên môn
của đội ngũ công nhân viên, giúp họ có phong cách khoa học và tính kỷ luật cao,
nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động …Muốn vậy doanh
nghiệp cần phải đưa ra kế hoạch tuyển dụng hợp lý, đào tạo và có sự quan tâm
đúng mức đến người lao động, tạo cơ hội thăng tiến, tạo bầu không khí lao động
thoải mái để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
( các chế độ về quản lý, ưu đãi, giám sát, kiểm tra sản phẩm…)
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
17
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Con người là yếu tố cực kỳ quan trọng, quyết định thành công hay thất bại
trong mọi hoạt động . Kiểm tra, phân tích đánh giá con người thường xuyên
nhằm nâng cao giá trị văn hoá cá nhân và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
-Vốn kinh doanh: Là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật
chất và tài sản tài chính được chính các cá nhân và các tổ chức, các doanh

lao động được coi là chìa khoá của hoạt động sản xuất kinh doanh và có nhiệm
vụ liên kết các nhân tố, thông tin là cơ sở hướng dẫn hoạt động sản xuất kinh
doanh và ra quyết định. Sự kết hợp chặt chẽ của các nhân tố trên là điều kiện cơ
bản để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Công nghệ có
ảnh hưởng quyết định đến kết quả hoạt động của sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp có tạo ra sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ hay không là phụ thuộc
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
18
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
không nhỏ vào yếu tố công nghệ trong đó bao gồm cả tìm kiếm và chuyển giao
công nghệ.
-Vốn kinh doanh: Là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật
chất và tài sản tài chính được chính các cá nhân và các tổ chức, các doanh
nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận. Về bản chất nó là biểu hiện bằng tiền của các tư liệu sản xuất được sử
dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là điều kiện đầu tiên, tiên quyết,
quyết định cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Yêu cầu của sử
dụng vốn là không ngừng nâng cao hiệu quả đồng vốn được sử dụng trong quá
trình sản xuất, tức là làm thế nào để đồng vốn luân chuyển nhanh tạo ra lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Vốn kinh doanh được tạo ra
-Cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật: hiệu quả
sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, và ngược lại
việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng là một trong nhân tố quan trọng
để nâng cao hiệu quả sản xuất. Thực tế đã chứng minh bằng các cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật đã giúp cho sức sản xuất của con người trong thế kỷ XX tăng
gấp nhiều lần. Cơ sở vật chất càng phát triển càng thuận tiện trong việc áp dụng
các phương pháp sản xuất mới. Tiến bộ kỹ thuật trong doanh nghiệp là hệ thống
các cải tiến, đổi mới quy trình công nghệ nâng cao trình độ thành thạo và thích
ứng của người lao động với các trang thiết bị kỹ thuật và phương thức sản xuất
mới, hoàn thiện cách sử dụng nguyên vật liệu, trang bị các phương tiện quản lý

báo và dựa vào hệ thống thông tin của mình để nắm bắt, từ đó điều khiển các
hoạt động theo xu hướng và tác động có lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
nhằm đạt hiệu quả cao.
-Môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh: để cho hoạt động sản xuất
được phát triển, cần có một môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh thuận
lợi. Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, yêu
cầu cần có một môi trường pháp lý thuận lợi và an toàn để có thể khuyến khích
các đơn vị và thu hút đầu tư. Môi trường kinh doanh là điều kiện quan trọng để
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còn
trong cơ chế bao cấp, các đơn vị sản xuất dưới sự bảo hộ của nhà nước, lãi giả lỗ
thật đã làm giảm tính hiệu quả của các đơn vị sản xuất, mất tính cạnh tranh.
Chính vì vậy trong nền kinh tế thị trường mở hiện nay, để có thể nâng cao hiệu
quả cần phải đảm bảo cho môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh trong
sạch và thuận lợi, khuyến khích cạnh tranh công bằng. Vì vậy cCần phải tạo ra
môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp hoạt động mà vẫn phải đảm bảo
tính công bằng, hơn nữa 1 cơ chế chính trị xã hội ổn định, 1 hành lang pháp lý
thuận lợi sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam. Môi trường pháp lý ngày càng phải hoàn thiện hơn
nữa để tạo môi trường tốt cho hoạt động của các đơn vị kinh tế như việc ban
hành và áp dụng các đạo luật như luật doanh nghiệp, luật đầu tư…đã tạo động
lực lớn cho phát triển kinh tế. Nghiên cứu luật để giúp giúp doanh nghiệp và các
nhà quản trị thực thi pháp luật, hoạch định kế hoạch và nắm bắt cơ hội từ pháp
luật, ngăn chặn và hạn chế nguy cơ từ pháp luật, thiếu hiểu biết về pháp luật có
thể làm thiệt hại quyền lợi của doanh nghiệp.
-Chính phủ: là cơ quan hành pháp, hoạt động của chính phủ ảnh hưởng đến
các ngành kinh tế và từng doanh nghiệp theo mức độ và chiều hướng khác nhau.
Doanh nghiệp cần có thông tin thường xuyên về hạot dộng của chính phủ, nhất
là các chính sách nhằm nắm cơ hội hoặc ngăn chặn hạn chế các nguy cơ từ các
yếu tố này. Trong chừng mực nhất định doanh nghiệp có thể vận động hành
lang đối thoại với chính phủ để tạo cơ hội hay hạn chế nguy cơ nhất thời cho

ra cơ hội, hoặc tạo ra thách thức. Doanh nghiệp gặp nguy cơ khi nhà nước có kế
hoạch tăng mức thu thuế các ngành để bổ xung nguồn thu, có cơ hội khi chi
ngân sách có liên quan đến nhành nghề hoạt động, hàng hoá mà các tổ chức nhà
nước cần mua…
-Yếu tố khoa học kỹ thuật: trong thập niên vừa qua, tốc độ phát triển khoa
học kỹ thuật của thế giới diễn ra nhanh chóng, công nghệ mới thay thế công
nghệ cũ diễn ra liên tiếp, chu kỳ đời sống của sản phẩm ngày càng rut ngắn. Hầu
hết tất cả các ngành trong nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng của sự phát triển khoa
học kỹ thuật, tuỳ theo đặc điểm của mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp mà mức độ
ảnh hưởng là nhiều hay ít. Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp: sản phẩm, dịch vụ
mới ra đời tạo thị trường mới, thời gian sản xuất tạo ra sản phẩm của máy móc
thiết bị ngắn hơn, chất lượng cao hơn, hạn chế ô nhiễm môi trường. Nguy cơ:
các sản phẩm hiện tại nhanh chóng lạc hậu, chi phí đầu tư đổi mới gia tăng, con
người bị hụt hẫng về khả năng quản lý kỹ thuật (nếu không nâng cao trình độ
chuyên môn kịp thời). Do tác động hai mặt trên doanh nghiệp cần có hệ thống
thông tin nhạy bén để tận dụng được và ngăn chặn nguy cơ kịp thời, đặc biệt các
doanh nghiệp cần quan tâm đúng mức việc tận dụng công nghệ thông tin mới để
tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường hiện tại và tương lai.
-Yếu tố dân số và địa lý: Ảnh hưởng đến nguồn nhân lực và khách hàng của
các doanh nghiệp. Khi quyết định đầu tư, phát triển thị trường các ngành hàng
cụ thể, các nhà quản trị, các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu các đặc điểm cơ
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
21
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
bản về dân số để có cơ sở căn cứ quyết định xây dựng cơ sở sản xuất nơi nào có
các nguồn cung cấp lao động dồi dào, kỹ năng, chuyên môn phù hợp và thuận
tiện, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần người lao động. Quyết địnhcung cấp
các loại, quy mô đặc trưng sản phẩm phù hợp khu vực thị trường, quyết định các
hoạt động Marketing phù hợp.
Ngoài ra còn ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác như: Thị hiếu khách hàng,

quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp (lao động, vốn, vật tư, tài sản…) là căn
cứ để lập kế hoạch phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh cả về quy mô và cơ
cấu giúp cho các nhà quản lý có những thông tin cần thiết làm căn cứ khoa học
để xây đựng chiến lược sản xuất kinh doanh, phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh theo hình thức đã lựa chọn. Ngoài ra nó còn giúp cho lãnh đạo cấp trên
hiểu rõ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
12. Yêu cầu khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu Thống Kê đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh:
Sự cần thiết và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh tế tự nó đòi
hỏi phải xác định rõ ràng chỉ tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả làm cơ sở để đnhs giá
việc nâng cao hiệu quả này.
Mục đích của việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế là tìm ra các thước đo mà
chúng ta có thể sử dụng nó để so sánh, phân tích những hoạt động kinh tế nhằm
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
23
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
phát hiện những tiềm năng và kịp thời có biện pháp điều chỉnh các hoạt động
kinh tế hiện tại góp phần củng cố và phát triển nền kinh tế quốc dân.
Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu Thống Kê hiệu quả sản xuất kinh doanh cần
đảm bảo các yêu cầu sau:
- Xác định đúng bản chất, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh,
không được đồng nhất chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh -là một phạm trù
tổng hợp với các chỉ tiêu bộ phận biểu hiện từng mặt của nó. Chỉ dựa trên yêu
cầu này hệ thống chỉ tiêu được xây dựng mới có ý nghĩa nghiên cứu và có tác
dụng thiết thực trong công tác quản lý và phân tích Thống Kê.
-Phản ánh đúng thực chất khách quan về hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ, vì vậy đòi hỏi hệ thống chỉ tiêu khi xây dựng
phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, phản ánh đúng sự thật khách quan trên
cơ sở hạch toán đầy đủ các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó giúp nhà nước thấy được thực trạng

24
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
nhân quả và để tiến hành các phân tích sâu sắc hơn nhằm phản ánh đúng thực
trạng tồn tại khách quan hiệu quả sản xuất kinh doanh.
-Hệ thống chỉ tiêu phải phản ánh được hai mặt số lượng và chất lượng trong
sự thống nhất giữa chúng đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Do hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo nên bởi các yếu tố về số lượng của kết
quả và chi phí.
23. Nguyên tắc xây dựng:
Hệ thống chỉ tiêu phải xuất phát từ những mục tiêu mang tính chất đại diện
về mặt xã hội, từ lợi ích xã hội, ngành, doanh nghiệp và người lao động được kết
hợp hài hoà, xuất phát từ các yêu cầu của quản lý kinh tế và quản lý doanh
nghiệp yêu cầu thúc đẩy sản xuất kinh doanh của ngành và xã hội. Nguyên tắc
này bao hàm cả việc các chỉ tiêu kết quả,chi phí có thể có số đo khác nhau vì
mỗi số đo có một khả năng diễn đạt riêng, cho nên phải nghiên cứu chi tiết xem
số đo nào là thích hợp với việc đánh giá hiệu quả của một quá trình cụ thể. Mặt
khác việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cần có phương pháp
tính toán thật sự khoa học
-Tính thống nhất: Đảm bảo nhất quán giữa hệ thống chỉ tiêu tổng thể và chỉ
tiêu bộ phận, đảm bảo thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính của
các chỉ tiêu cùng loại., thống nhất về phạm vi thời gian, không gian và nội dung
kinh tế của các chỉ tiêu so sánh
-Tính hệ thống: Phải nêu được mối liên hệ giữa các mặt các bộ phận, giữa
hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan ( trong phạm vi mục
đích nghiên cứu). Trong hệ thống các chỉ tiêu Thống Kê xuất khẩu, có những chỉ
tiêu mang tính chất chung, các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận, các chỉ tiêu
mang nhân tố phản ánh toàn diện và sâu sắc đối tượng nghiên cứu
-Tính hiệu quả (kết quả): hiệu quả cả về mặt kinh tế và về mặt xã hội
-Tính khả thi: Căn cứ vào khả năng nhân tài vật lực cho phép để có thể tiến
hành thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu trong sự tiết kiệm nghiêm ngặt. Đòi hỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status