Lời nói đầu
I- Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia trên thế giới,
là điều kiện tồn tại, phát triển của con ngời và các sinh vật khác trên trái đất.
Trong quá trình sản xuất , đất đai là một yếu tố đầu vào không thể thiếu.
Tuy nhiên, đặc điểm của đất đai là một nguồn lực khan hiếm có nguồn cung
không thể mở rộng đợc. Do đó, vấn đề sử dụng đất đai nh thế nào cho có hiệu
quả cao nhất, phân bổ đất đai vào đợc những phơng án sử dụng đất mang lại
lợi ích ròng lớn nhất cho xã hội là một vấn đề đợc đặt ra cho tất cả các nớc.
Ngoài ra, việc bố trí đất đai còn có tính lâu dài. Do đó, những sai lầm trong
phân bổ nguồn lực này sẽ để lại những hậu quả dai dẳng mà nhiều năm sau
mới có thể khắc phục đợc, với những tốn phí của cải vật chất của xã hội không
nhỏ. Bên cạnh việc cải tạo, sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả là những tác
động huỷ hoại đất làm ảnh hởng đến môi trờng sống. Do đó, yêu cầu quản lý
chặt chẽ và sử dụng đất đai hợp lý để phát huy tác dụng tích cực và làm giảm
những tác động tiêu cực đến đất đai trở nên hết sức cần thiết.
Bắc Ninh là một tỉnh mới đợc tái lập năm 1997, nên trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, đi kèm với nó là xu hớng đô thị
hoá đang diễn ra mạnh mẽ làm biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu
nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến
trúc, xây dựng từ hình thức nông thôn ra thành thị. Quá trình đô thị hoá đặt ra
nhu cầu sử dụng đất đô thị ngày càng tăng, chuyển đổi một phần đất nông
nghiệp sang xây dựng mới hoặc mở rộng đô thị. Hiện nay, một trong những
vấn đề nổi cộm nhất trong xây dựng và phát triển đô thị là vấn đề sử dụng quỹ
đất cho xây dựng các công trình đô thị nh thế nào cho phù hợp với sự phát
triển chung của đất nớc.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (khoá IX)
khẳng định: Công tác quản lý và sử dụng đất đai hiện nay còn nhiều hạn chế,
yếu kém và nhiều vấn đề bức xúc. Tiềm năng đất đai cha đợc phát huy tốt; đất
đai cha đợc chuyển dịch hợp lý, hiệu quả sử dụng còn thấp. Đất sản xuất nông
nghiệp còn manh mún; rừng tiếp tục bị tàn phá, diện tích đất trống đồi núi
tỉnh đã có những biến động gay gắt mà công tác quản lý đất đai cha theo kịp.
Do đó, còn gây ra nhiều lãng phí, tiêu cực trong công tác này. Bằng cách chỉ
ra những điểm yếu trong công tác quản lý và sử dụng đất đai, đề tài sẽ đề xuất
những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện công tác này trong thời gian tới.
V- Kết cấu: Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, luận văn gồm 3 phần sau:
Ch ơng I. vai trò của đất đai đối với sự phát triển đô thị và sự
cần thiết phải tăng cờng công tác quản lý và sử dụng
đất đai trong quá trình đô thị hoá
Ch ơng II . Thực trạng về công tác quản lý và sử dụng đất đai
trong quá trình đô thị hoá ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn
1997- 2000
Ch ơng III: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý và sử
dụng đất đai trong quá trình đô thị hoá ở tỉnh Bắc
Ninh từ nay đến năm 2010
2
Chơng I
Vai trò của đất đai đối với sự phát triển
đô thị và sự cần thiết phải tăng cờng
công tác quản lý và sử dụng đất đai
trong quá trình đô thị hoá
I- Khái quát chung về đất đai trong quá trình đô thị hoá
1. Khái niệm và đặc điểm của đô thị hoá
1.1. Khái niệm
Đô thị hoá chứa đựng nhiều hiện tợng và biểu hiện dới nhiều hình thức
khác nhau. Vì vậy, đô thị hoá đợc tiếp cận từ nhiều góc độ:
Theo quan điểm vùng: Đô thị hoá là quá trình hình thành, phát triển các
hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, mở rộng các thành phố gắn liền
với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi nớc. Nói đô thị hoá cũng
có nghĩa là quá trình biến các khu vực nông thôn thành đô thị, biến các vùng
vốn dĩ là nghèo nàn, lạc hậu thành những vùng có mật độ dân c đông đúc, có
mô dân số.
1.3. Đặc điểm của đô thị hoá
Đô thị hoá mang tính xã hội và lịch sử: Thể hiện ở sự phát triển về quy
mô, số lợng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các
chùm đô thị.
Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế xã hội : Đô thị
hoá thể hiện ở quá trình mở rộng quy mô đô thị gắn với sự phát triển các
khu công nghiệp, khu chế xuất, hình thành các trùm đô thị, các vùng kinh
tế động lực từ đó tạo ra các trung tâm văn hoá phát triển theo. Sự thay đổi
này kéo theo một loạt các vấn đề có liên quan đến truyền thống văn hoá của
dân c trong vùng và một loạt các tình trạng đợc gọi là mặt trái của đô thị
hoá nh: dân số gia tăng tại các đô thị trật hẹp, các tệ nạn xã hội ngày một
tăng nhanh, tình trạng thất nghiệp tăng lên nhanh chóng
2. Đặc điểm, phân loại và vai trò của đất đai
2.1. Đặc điểm của đất đai
2.1.1. Đất đai có tính khan hiếm
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có giới hạn trên phạm vi
toàn cầu và từng quốc gia, có vị trí cố định không thể di chuyển đợc. Hơn nữa,
đất đai không thể sản sinh thông qua sản xuất. Tính cố định không thể di
chuyển đợc của đất đai, đồng thời quy định tính giới hạn về quy mô theo
không gian gắn liền với đất đai chịu chi phối bởi các yếu tố nh: Nguồn gốc
hình thành, khí hậu sinh thái, với những tác động khác của thiên nhiên. Vị trí
của đất đai có ý nghĩa về mặt kinh tế trong quá trình khai thác và sử dụng đất.
Những đất đai ở gần đô thị, gần đờng giao thông, các khu dân c đợc khai thác
triệt để hơn nhiều so với đất đai ở các vùng xa xôi, hẻo lánh, do đó có giá trị
lớn hơn.
2.1.2. Chất lợng đất đai có khả năng bồi dỡng và tái tạo đợc
Chất lợng đất đai đợc biểu hiện qua độ phì của đất, độ phì là một đặc trng
về chất gắn liền với đất, thể hiện ở khả năng cung cấp thức ăn, nớc cho cây
trồng trong quá trình sinh trởng và phát triển. Khả năng phục hồi và tái tạo của
nông nghiệp.
2.2.2. Đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp là đất đợc xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất
lâm nghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng hoặc đất để sử
dụng vào mục đích lâm nghiệp nh trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục
hồi tự nhiên, nuôi dỡng làm giầu rừng, nghiên cứu thí nghiệm lâm nghiệp.
2.2.3. Đất khu dân c nông thôn
Đất khu dân c nông thôn là đất đợc xác định chủ yếu để xây dựng nhà ở
và các công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn. Đất ở của mỗi hộ gia
đình nông thôn bao gồm đất làm nhà ở và các công trình phục vụ cho đời sống
của gia đình.
2.2.4. Đất đô thị
Đất đô thị là đất nội thành, nội thị xã, thị trấn đợc sử dụng để xây
dựng nhà ở, trụ sở cơ quan, tổ chức, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cơ sở
5
hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng an ninh và các mục đích
khác.
2.2.5. Đất chuyên dùng
Đất chuyên dùng là đất đợc xác định sử dụng vào mục đích không phải là
nông nghiệp, lâm nghiệp, làm nhà ở bao gồm: đất xây dựng các chơng trình công
nghệ, khoa học, kỹ thuật, hệ thống giao thông, thuỷ lợi, đê điều, văn hoá, xã hội,
y tế, giáo dục, thể dục thể thao, dịch vụ, đất sử dụng cho nhu cầu quốc phòng an
ninh, đất dùng thăm dò, khai thác khoáng sản, đá, cát, đất làm muối, đất làm đồ
gốm, gạch, ngói và các vật liệu xây dựng khác, di tích lịch sử, văn hoá, danh lam
thắng cảnh, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất có mặt nớc sử dụng vào mục đích
không phải là nông nghiệp.
2.2.6. Đất cha sử dụng
Đất cha sử dụng là đất cha có đủ điều kiện hoặc cha đợc xác định để sử
dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp, cha
xác định là đất khu dân c nông thôn, đô thị, chuyên dùng và Nhà nớc cha giao
ngày nay, là kết quả công sức lao động, chiến đấu hàng ngàn thế hệ ngời Việt
Nam trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nớc và giữ nớc. Từ sau Cách mạng
tháng 8 đến nay, các chính sách quản lý đất đai đợc Nhà nớc ban hành phù
hợp với từng thời kỳ cách mạng, là một trong nguồn lực đa đất nớc ta từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác.
Đất đai đảm bảo cung cấp lơng thực thực phẩm:
Đất đai là t liệu sản xuất đặc biệt, cùng với lao động sản sinh ra của cải
vật chất nuôi sống con ngời. Dù sản xuất công nghiệp và dịch vụ có phát triển
đến đâu cũng phải đảm bảo an toàn lơng thực thực phẩm. Dân số tăng nhanh,
lao động chuyển dần sang phi nông nghiệp, nông sản trở thành hàng hoá nên
yêu cầu lơng thực hàng hoá là rất lớn. Vì vậy, đất đai là một yêu cầu không
thể thiếu trong đời sống vật chất của con ngời.
Đất đai đảm bảo môi trờng sống:
Mọi hoạt động của con ngời trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đều có
liên quan tác động trực tiếp hay gián tiếp đến môi trờng sống làm trong sạch
hoặc gây ô nhiễm môi trờng. Do đó, phải tính đến các yếu tố kinh tế xã hội có
quan hệ tới môi trờng sống, kể cả ở tầm vĩ mô và vi mô để phát huy đợc những
mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực.
2.3.2. Đất đai đối với quá trình đô thị hoá
Đất đai là yêu cầu đầu tiên và cấp thiết đối với quá trình đô thị hoá đợc
thể hiện ở chỗ: Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành và phát triển đô
thị, đó cũng là quá trình tập trung dân số vào các đô thị. Quá trình đô thị hoá
gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, làm biến đổi sâu
sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ
cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ hình thức nông thôn sang thành
thị. Nh vậy, đô thị hoá hoá là hình thức mở rộng diên tích và quy mô của đô
thị trên cơ sở sáp nhập nhập các điểm dân c nông thôn hoặc sử dụng một diện
tích đất nông nghiệp cho xây dựng mới hoặc mở rộng đô thị, nên cần phải sử
dụng đất đai tiết kiệm trong quá trình này, tránh tình trạng sử dụng sai mục
đích sẽ không có biện pháp khắc phục hiệu quả.
ra một yêu cầu hết sức cần thiết là việc quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất sao
cho hợp lý và đem lại hiệu quả cao khi sử dụng.
Quy hoạch và đặt ra kế hoạch sử dụng đất nhằm mục đích sử dụng đất
đai theo đúng định hớng đã đặt ra để tránh tình trạng phát triển nhanh các
thành phần kinh tế gây áp lực đối với đất đai.
3.2. Sự gia tăng giá đất trong quá trình đô thị hoá
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn chế về số lợng và không có khả năng
tái sinh. Từ năm 1975 đến nay, việc đầu t cải tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật
đô thị và hạ tầng xã hội đều sử dụng ngân sách nhà nớc. Chính nhờ sự đầu t
này mà đất đô thị ngày càng có giá trị. Giá đất đô thị cao hơn đất nông thôn,
miền núi là vì đất đai có những đặc trng cơ bản khiến nó không giống với bất
kỳ một loại t liệu sản xuất nào. Chẳng hạn, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn
chế về số lợng và không có khả năng tái sinh; đất đai có vị trí cố định trong
không gian và không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con ngời. Giá
trị của đất đợc qui định bởi các điều kiện cơ sở hạ tầng, các tiện nghi khác đợc
bố trí trên mảnh đất đó. Vì thế, với hệ thống cơ sơ hạ tầng tốt hơn, tiện lợi hơn
đất đai nông thôn, đất đô thị tăng giá trở thành điều hiển nhiên. Đất đô thị
hiện nay có giá nh một hàng hoá đặc biệt trong quá trình đô thị hoá diễn ra
nhanh chóng và mạnh mẽ nh hiện nay. Nhng kèm theo đó là hàng loạt các vấn
8
đề khác sẽ nảy sinh nh đầu cơ, tích trữ đất đai, mua bán trao tay, chuyển đổi
mục đích sử dụng bất hợp pháp, nếu không có sự quản lý chặt chẽ thì sẽ làm
thất thoát nguồn lực đặc biệt này của quốc gia.
Đô thị hoá diễn ra thì việc sử dụng đất phải đợc thực hiện theo quy hoạch
và kế hoạch của nhà nớc. Hiện nay vấn đề nổi cộm nhất trong xây dựng và
phát triển đô thị ở nớc ta là vấn đề quỹ đất cho xây dựng các công trình đô thị,
liên quan đến vấn đề đền bù và giải phóng mặt bằng. Chính vì thế, chính phủ
đã định khung giá các loại đất, các tỉnh thành phố đã có quy định về khung
giá đất cụ thể, nhng ngời sử dụng đất vẫn không thoả mãn với giá mà nhà nớc
quy định mà tự đẩy giá đất lên cao hơn giá trị thực sự của nó trớc kia. Điều
và xây dựng. Ngời nông dân mất đất bắt buộc phải tìm kiếm một công ăn việc
9
làm khác so với công vịêc đồng áng trớc đây. Nhng quá trình chuyển từ nông
nghiệp sang công nghiệp lại đánh dấu bằng việc giảm bớt các ngành sử dụng
nhiều lao động sang các ngành sử dụng nhiều vốn. Do đó, tình trạng d thừa lao
động là không tránh khỏi. Nếu không có sự phát triển nhanh chóng các ngành
nghề dịch vụ để thu hút lợng lao động d thừa này, đồng thời nếu ngời nông
dân không đợc chuẩn bị sẵn sàng cho sự chuyển đổi cơ cấu việc làm đó, thì
nguy cơ thất nghiệp gia tăng nhanh chóng và sẽ là vấn đề khó có thể giải
quyết triệt để.
Tệ nạn xã hội diễn ra nhanh chóng: Cùng với quá trình đô thị hoá là sự
bất công của xã hội ngày càng tăng (mức chênh lệch thu nhập giữa 20% dân
số giàu so với 20% dân số nghèo là 30 lần năm 1960 và 60 lần năm 1992); sự
tàn phá môi trờng sinh thái và ô nhiễm ở thành phố, khủng hoảng xã hội, tan
rã gia đình ở đô thị, trẻ em lang thang, cơ nhỡ gia tăng. Vấn đề tệ nạn xã hội
nh nghiện hút, tiêm chích, cờ bạc, ăn chơi đua đòi của cuộc sống thành thị gia
tăng nhiều. Gây ảnh hởng đến đời sống sinh hoạt của nhân dân trong khu vực
thành thị.
II. Sự ảnh hởng của đô thị hoá tới tình hình sử dụng đất đai.
1. Luật sửa đổi bổ sung một số điều về Luật đất đai gây ảnh hởng lớn
đến vấn đề sử dụng đất đai
Quá trình đô thị hoá kéo theo rất nhiều yếu tố biến động, Chúng đều đợc
thay đổi và chỉnh lý để theo khớp với sự đô thị hoá. Trong đó Luật Đất đai là
luật phải thờng xuyên chỉnh lý và điều chỉnh theo sự biến động đó. Đây là yếu
tố quyết định rất nhiều đến việc sử dụng đất nh thế nào để đáp ứng đợc nhu
cầu phát triển của quá trình đô thị hoá và thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại
hoá đất nớc. Chính việc sửa đổi bổ sung một số điều này đã làm ảnh hởng đến
tình hình sử dụng đất đai, sử dụng đất đai nh thế nào còn phụ thuộc vào Luật
quy định ra sao? Vì vậy, khi sửa đổi bổ sung Luật Đất đai phải chú ýđể tránh
tình trạng thay đổi trong việc sử dụng đất .
triển đầy triển vọng. Nhng đồng thời với sự phát triển đó, tình trạng mất đất
nông nghiệp sử dụng vào một số mục đích khác ngày một gia tăng, điều đó
gây ảnh hởng không tốt đến công tác quản lý đất đai, cần phải thực hiện sự
phát triển đó theo quy hoạch sử dụng đất đai đã đợc Chính phủ phê duyệt.
3. Sự di dân từ nông thôn ra thành thị
Theo xu hớng hiện nay, quy mô đô thị ngày càng đợc mở rộng và biểu
hiện trớc hết là tăng quy mô dân số. Quy mô dân số đô thị tăng nhanh do tốc
độ đô thị hoá, đô thị hoá là quá trình biến đổi các vùng cha phải là đô thị
thành đô thị. Sự biến động của dân số đô thị là hiện tợng phổ biến vì đô thị là
nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho cuộc sống và sinh hoạt. Thu nhập ở đô thị
thờng cao hơn ở nông thôn, địa bàn đô thị có nhiều khả năng kiếm việc làm
hơn, chất lợng dịch vụ và phúc lợi xã hội tốt hơn. Dân c tìm mọi cách để đợc
nhập c vào đô thị, từ đó hình thành một dòng di dân từ nông thôn ra đô thị,
chính dòng ngời này đã gây ra những quá tải dân số ở các đô thị, làm mở rộng
đô thị ảnh hởng đến việc quản lý và sử dụng đất đai đô thị có nhiều phức tạp
nh: giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động mới gia tăng bằng việc bố
trí đất đai cho phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp, bố trí đất đai cho
việc gia tăng nhu cầu sinh hoạt và dịch vụ Tất cả đều phải đợc quản lý một
cách có kế hoạch và có ngời để điều hành công việc đó. Trong khi đó, con ng-
ời và trình độ quản lý thì có hạn mà sự đòi hỏi thì cứ tăng, đặt ra cho cán bộ
quản lý một câu hỏi hết sức khó khăn.
11
4. Sự thay đổi trong công tác quản lý hành chính
4.1. Biến động ranh giới các đơn vị hành chính
Đô thị hoá bằng việc mở rộng quy mô đô thị dới hình thức xây dựng các
thị trấn, thị xã, phờng, quận mới dẫn đến biến động ranh giới các đơn vị
hành chính cũng nh diện tích và dân số của đô thị.
4.2. Bộ máy quản lý hành chính thay đổi.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của đô thị nhỏ không còn phù hợp khi
quy mô đô thị ngày một gia tăng. Đồng thời với sự tác động mạnh mẽ đến
các doanh nghiệp nhà nớc là nòng cốt. Đầu t cải tạo mở rộng diện tích, nâng
cao chất lợng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng nhà. Ban hành và tổ
12
chức thực hiện cơ chế xây dựng và quản lý giá quyền sử dụng đất và giá một
số loại bất động sản gắn liền với đất.
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đất đai, việc thực hiện
quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, việc thực hiện các quyền, lợi ích và nghĩa
vụ của ngời sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất. Giải quyết các khiếu nại, tố
cáo và các tranh chấp về đất đai. Tổ chức hệ thống quản lý Nhà nớc về đất đai
từ Trung ơng đến cơ sở. Quản lý các hoạt động hành chính công và dịch vụ
công về đất đai.
1.2.2. Nhà nớc có chính sách tạo điều kiện về đất đai cho những ngời có nhu
cầu sản xuất.
Thực hiện chính sách đảm bảo nhu cầu đất đai cho những ngời trực tiếp
sản xuất nông, lâm, ng và làm muối. Đồng thời đẩy mạnh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, phân bố lại dân c phù hợp với yêu cầu
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc.
Để giải quyết một cách cơ bản việc làm và thu nhập cho ngời nông dân
không có đất, ít đất, hoặc có đất bị thu hồi để sử dụng vào các mục đích công
cộng, phát triển kinh tế xã hội, cần thực hiện tổng hợp các biện pháp phát triển
ngành nghề, đào tạo nghề để tạo việc, làm đổi mới cơ cấu sản xuất nông
nghiệp, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và những biện pháp hỗ chợ cần
thiết khác.
Đối với từng vùng đồng bào thiểu số, vùng cao cần có chính sách đảm
bảo đất sản xuất nông, lâm, ng nghiệp phù hợp với quy định pháp luật và điều
kiện của từng vùng. Có cơ chế quản lý để đồng bào giữ đợc đất, có cuộc sống
ổn định và làm giầu trên đất đợc giao.
Xây dựng quỹ đất công ích trong nông thôn để địa phơng sử dụng vào
mục đích công cộng tại các xã, hoặc bổ sung cho những trờng hợp có nhu cầu
thuê đất. Uốn nắn, sửa chữa những sai phạm, bổ sung những quy định phù hợp
thể về thu hồi đất đã giao, đất cho thuê mà không sử dụng, sử dụng sai mục
đích, xâm hại đất hoặc sử dụng nhng hiệu quả quá kém. Nhà nớc có trách
nhiệm rà soát lại đất đã giao cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ
chức đảng, đoàn thể, thu hồi diện tích nhà, đất không sử dụng, đất sử dụng sai
mục đích, trái pháp luật.
1.2.4. Giải quyết tranh chấp khiếu nại và tố cáo liên quan đến đất đai
Việc tranh chấp đất đai trớc hết cần hoà giải, nếu hoà giải không thành
thì đa ra toà án giải quyết. Nhà nớc quy định thời hiệu và thời hạn giải quyết
các khiếu nại không để kéo dài. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ơng là cấp giải quyết cuối cùng các khiếu nại đất đai trong phạm vi,
thẩm quyền của các cấp ở địa phơng. Việc giải quyết tố cáo về đất đai thực
hiện theo pháp lệnh về tố cáo.
Đất trớc đây của các cơ quan nhà nớc, các tổ chức thuộc hệ thống chính
trị mợn hoặc thuê, có đầy đủ giấy tờ hợp pháp thì trả lại, nhng không nhất
thiết là đất cũ, mà có thể trả bằng tiền hoặc đất nơi khác.
2. Nội dung của quản lý nhà nớc về đất đai
Quản lý nhà nớc về đất đai theo luật đất đai năm 1993 đợc chia ra thành
7 nội dung sau:
1. Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính.
- Điều tra, đo đạc, khảo sát: Là biện pháp kỹ thuật nhằm xác định số
lợng đất, diện tích tổng thể, diện tích của từng ngời sử dụng, vị trí của từng
diện tích đó, chất lợng, các đặc tính lý hoá, độ màu, độ thái hoá, độ bền
nhằm nắm đợc hiện trạng thực tế của đất đai để sử dụng có hiệu quả.
- Phân hạng đất: Là xác định tác dụng sử dụng của từng diện tích đất
cụ thể dựa trên cơ sở 6 loại đất đã đợc quy định thông qua đó Nhà nớc quy
định mức thuế qua giá trị sử dụng đất, quy định khung giá các loại đất.
14
- Các kết quả thu đợc tiến hành đánh giá đất đợc phản ánh trên bản đồ
địa chính, bản đồ địa chính có ý nghĩa rất lớn để Nhà nớc quản lý đất đai, nó thể
hiện vị trí và mô tả các thửa đất khác nhau sao cho không nhầm lẫn đợc.
định. Thời hạn cho thuê đất đợc xác định theo dự án đã đợc cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền phê duyệt nhng không quá 50 năm, đối với dự án cần thời hạn
thuê đất lâu dài thì căn cứ vào quy định của Uỷ ban thờng vụ Quốc hội, Chính
phủ quyết định thời hạn cho thuê đối với từng dự án, nhng không quá 70 năm.
- Chuyển quyền sử dụng đất: Trong thời hạn giao đất, hộ gia đình, cá
nhân đợc Nhà nớc giao đất ngoài quyền chiếm hữu, sử dụng học còn có thẩm
quyền chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng
đất.
15
- Thu hồi đất: là một biện pháp hành chính của cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền nhằm tớc quyền sử dụng đất của ngời sử dụng đất để Nhà nớc
giao cho ngời khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn
chiếm.
5. Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng
sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
- Uỷ ban nhân dân xã, phờng, thị trấn: Tổ chức đăng ký đất đai, xét
để trình UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên phạm vi hành
chính của địa phơng mình.
- Thống kê đất đai là việc tổng hợp các số liệu thu đợc từ quá trình
đánh giá và đăng ký sử dụng đất do UBND các cấp có trách nhiệm thực hiện
chỉ đạo và tổ chức thống kê đất đai, cơ quan quản lý đất đai có trách nhiệm
báo cáo kết quả thống kê, Chính phủ chỉ đạo chung. Việc thống kê, tổng kiểm
kê đất đai đợc tiến hành mỗi năm một lần. Hoạt động thống kê đất đai giúp
cho công tác quản lý đất đai chặt chẽ, phát hiện ra những vi phạm pháp luật,
những thiếu sót trong quản lý đất đai để Nhà nớc có kế hoạch, biện pháp xử lý
phù hợp, kịp thời.
- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND các cấp cấp cho
các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân thuê đất hoặc đợc Nhà nớc giao đất. Đây
đất đai trong nông nghiệp hoặc đất đai tại khu vực dân c đang sinh sống. Để
thực hiện đợc sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng hoặc của cả nớc thì sự
phát triển và mở rộng đô thị là một xu hớng tất yếu. Đô thị hoá mạnh làm cho
đất đai có biến động mạnh, chuyển mục đích sử dụng đất đai, đặc biệt là đất
đai trong nông nghiệp. Đất đai nông nghiệp đợc chuyển sang sử dụng làm đất
ở, đất phục vụ phát triển công nghiệp và dịch vụ, khu du lịch, khu vui chơi giải
trí Điều này đòi hỏi phải quản lý và sử dụng nh thế nào để tránh tình trạng
sai lầm khi chuyển đổi mà không đem lại hiệu quả hơn trớc. Đó là một việc
làm sai lầm mà khó có thể khắc phục.
Tăng cờng công tác quản lý và sử dụng đất đai sẽ có tác dụng giám sát
việc thực hiện quản lý đất đai và sử dụng đất đai tại các địa phơng chặt chẽ
hơn, thờng xuyên kiểm kê đất đai sẽ phục vụ tốt công tác quản lý đất đai ở cấp
trên.
Từ xa đến nay, đất đai vẫn là một trong những vấn đề quan trọng nhất của
cách mạng nớc ta, đợc Đảng và Nhà nớc ta quan tâm hàng đầu trong hơn 5
thập kỷ qua. Đây cũng là vấn đề phức tạp và nhạy cảm vì nó đụng đến mọi ng-
ời dân, mọi tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội và cả đến quan hệ quốc tế. Vấn
đề đất đai có ý nghĩa quan trọng bởi vì nó là t liệu sản xuất đặc biệt không thể
thay thế đợc của sản xuất nông nghiệp, đảm bảo nguồn thu nhập của hơn 80%
dân số nớc ta, tạo ra nguồn hàng hoá thiết yếu không gì thay thế nổi của toàn
xã hội với gần 80 triệu dân. Ngoài ra, còn là nơi tái tạo ra nguồn nguyên liệu
cho công nghiệp và hàng nông sản xuất khẩu. Trên thực tế mấy năm qua, nó
đã gián tiếp đem lại kim ngạch xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới cho đất
nớc.
Ngoài vai trò đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai còn là nơi từ khi con ng-
ời sinh ra đến khi qua đời cũng phải có chỗ để chôn cất, yên nghỉ vĩnh viễn. Đất
đai còn là điều kiện tiên quyết để thành lập các doanh nghiệp, cơ quan; Là điều
kiện để phát triển kết cấu hạ tầng; Là nguồn nguyên liệu để sản xuất ra các sản
phẩm từ đất, cát. Ngoài ra, đất đai còn ảnh hởng rất lớn đến môi trờng sinh thái.
Do đó, vấn đề quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, theo luật định có ý nghĩa đặc
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đặt ra.
Trong quá trình đô thị hoá đang mạnh mẽ, là sự phát triển nền kinh tế
theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự phát triển các khu công nghiệp,
cụm công nghiệp, phát triển ngành dịch vụ đều làm biến động đất đai ở một
khu vực nhất định, vì vậy cần phải tăng cờng công tác quản lý đất đai sẽ giúp
cho Chính phủ và Nhà nớc có thể quản lý gián tiếp, theo dõi tiến trình thực
hiện sử dụng đất đai theo quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội một
cách sát sao hơn, không sử dụng đất đai vào những mục đích sai quy hoạch
3.3. Tăng cờng công tác quản lý đất đai nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng đất.
Thực tiễn quản lý đất đai trong những năm qua ở nớc ta cho thấy, cùng
với việc chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chính sách giao đất ổn định lâu dài
cho ngời sử dụng và ngời sử dụng đất đợc hởng các quyền theo quy định của
pháp luật. Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, phát triển công nghiệp với
tốc độ nhanh, thì sự chỉ đạo quản lý nhà nớc còn thiếu chặt chẽ, hệ thống quản
lý nhà nớc về đất đai, quản lý bất động sản không bắt kịp tình hình. Luật Đất
18
đai chậm sửa đổi, bổ sung, tăng cờng đặc biệt là trong việc xác định khung giá
cho các loại đất để làm cơ sở cho việc giải quyết các quan hệ đất đai. Tình
trạng đó đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề cần phải đợc nhanh chóng bổ
sung và hoàn thiện, để đáp ứng kịp thời nhiệm vụ quản lý của nhà nớc. Tình
trạng khiếu nại, tố cáo xảy ra khá phức tạp, các công trình xây dựng, các dự
án đầu t bị chậm tiến độ, bị mất quá nhiều thời gian và công sức cho công tác
giải phóng mặt bằng. Để chấm dứt các tình trạng xảy ra nh trên thì việc quản
lý và sử dụng đất đai phải đợc tăng cờng hơn nữa để có hiệu quả trong việc sử
dụng đất. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai theo những quy hoạch và
kế hoạch của Chính phủ sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng đất vào những việc có
ích hơn trớc.
Tóm lại: Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá không thể thiếu
của mỗi quốc gia và đặc biệt trong quá trình đô thị hoá ngày càng mạnh mẽ
Sau khi hoà bình lập lại năm 1954, tỉnh Bắc Ninh nói chung và thị xã Bắc
Ninh nói riêng tiếp tục duy trì sự phát triển kinh tế suốt quá trình xây dựng
chính quyền nhân dân và chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Vào năm 1963, tỉnh
Bắc Ninh đợc sát nhập với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc, nhng thị xã Bắc
Ninh vẫn là một trung tâm kinh tế- xã hội quan trọng của Hà Bắc, nhất là
trong quan hệ giao lu với thủ đô Hà Nội.
Đến cuối năm 1996, tỉnh Hà Bắc lại đợc chia lại thành hai tỉnh Bắc Ninh
và Bắc Giang theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 (ngày 15-
11- 1996). Đến ngày 1- 1- 1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức đợc tái lập và đi vào
hoạt động.
2. Điều kiện tự nhiên
2.1. Vị trí địa lý và ranh giới hành chính
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm gọn trong châu
thổ Sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội. Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm gồm Hà nội- Hải Phòng- Quảng Ninh có mức tăng trởng
kinh tế cao, giao lu kinh tế mạnh.
- Phía Bắc giáp với Bắc Giang
- Phía Nam giáp với tỉnh Hng Yên và một phần của Hà Nội
20
- Phía Đông giáp với Hải Dơng
- Phía Tây giáp với Thủ đô Hà Nội
Với điều kiện vị trí nh vậy, Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế xã hội của tỉnh. Mặt khác, Bắc Ninh có các tuyến đờng giao thông
quan trọng nh quốc lộ 1A cũ, mới (đờng cao tốc), quốc lộ 18, quốc lộ 38, đ-
ờng sắt Hà Nội- Lạng Sơn và các tuyến đờng thuỷ nh sông Đuống, sông Cầu,
sông Thái Bình nên rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và hành khách giao
lu với các tỉnh trong cả nớc.
Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, sẽ có tác động
trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trởng kinh tế của Bắc Ninh về
mọi mặt, trong đó đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ du
xuất nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh. Đây là yếu tố quyết định đến việc bố trí, hình
thành cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng trên phạm vi toàn tỉnh. Tổng lu lợng
nớc mặt ở Bắc Ninh ớc khoảng 177,5 tỷ m
3
, trong đó lợng nớc chứa trong các
sông là 176 tỷ m
3
, còn lại là nớc chứa trong các ao hồ ruộng trũng Tuy có
vốn nớc mặt khá dồi dào, nhng xét về khía cạnh sử dụng đất thì tài nguyên nớc
mặt lại có đặc điểm riêng tác động đến sự phân bố hiện trạng sử dụng đất
hiện nay. Tình trạng đất đai nông nghiệp đợc chuyển đổi sử dụng vào phát
triển công nghiệp và các mục đích khác, do đó tài nguyên nớc mặt cũng là
một trong những mục tiêu thay đổi mục đích sử dụng đất.
Nớc ngầm: Tỉnh Bắc Ninh có trữ lợng nớc ngầm khá lớn, trung bình
400.000 m
3
/ngày, tầng chứa nớc cách mặt đất trung bình 3- 5m và có bề dày
khoảng 40m, chất lợng nớc tốt, có thể khai thác phục vụ tốt cho sản xuất và
sinh hoạt.
2.3. Khí hậu đối với việc sử dụng đất
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông
lạnh. Nhiệt độ trung bình năm 23,3
0
C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là
28,9
0
C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8
0
C (tháng1). Sự
chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1
truyền thống, quy hoạch các vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp chế
biến. Tất cả các chuyển biến quan trọng đó đều có ảnh hởng đến việc quản lý
và sử dụng đất đai trong tỉnh. Thay đổi mục đích sử dụng đất, làm chuyển đổi
hình thức sử dụng sao cho có hiệu quả hơn, phục vụ cho sự phát triển kinh tế
của tỉnh nói riêng và của cả nớc nói chung. Ngoài ra, tỉnh còn tiến hành một
số giải pháp đồng bộ nh mở rộng thị trờng, tạo vốn đầu t thông qua hoàn thiện
hệ thống tín dụng ngân hàng, xây dựng các chính sách kinh tế xã hội phù hợp
để khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh phát huy hiệu quả.
Bảng1: Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế- xã hội tỉnh
Bắc Ninh giai đoạn 1997- 2002
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
1997 1998 1999 2000 2001 2002
1. Tổng sản phẩm GDP (tính
theo giá ss năm 1994)
Tỷ đồng 1706.7 1840.5 2125.7 2472.6 2865.4 3249.2
- Nông- Lâm nghiệp Tỷ đồng 762.6 810.9 865.6 947.0 970.2 1031.0
- Công nghiệp XDCB Tỷ đồng 417.3 473.9 669.5 867.9 1053.6 1298.5
- Dịch vụ Tỷ đồng 526.8 555.7 590.6 657.7 814.6 919.6
2.Cơ cấu tổng sản phẩm %
- Nông- Lâm nghiệp % 44.7 44.1 40.7 38.3 34.2 31.7
- Công nghiệp XDCB % 24.5 25.7 31.5 35.1 37.1 40.0
- Dịch vụ % 30.8 30.2 27.8 26.6 28.7 28.3
3. Bình quân lơng thực/ngời kg 372.9 396 437.9 487.5 519.8 562.3
4. GDP bình quân đầu ngời USD 278.7 297.6 341.5 398 460.2 528.9
5. Tỷ lệ đói nghèo % 10.4 9.3 8.2 7.2 6.1 5.2
Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu T Bắc Ninh
Hình 1: Cơ cấu GDP tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997- 2002
23
hạn chế. Chính vì vậy, việc khai thác và sử dụng đất đai hợp lý và đạt hiệu quả
kinh tế cao là yêu cầu rất quan trọng, giải quyết vấn đề này sẽ đóng góp rất
nhiều vào công cuộc xây dựng đất nớc và thực chất chính là giải quyết mối
quan hệ giữa lợi ích của nhà nớc và lợi ích của cá nhân, giữa mục tiêu quản lý
và mục đích sử dụng đất.
4. Tiềm năng đất đai và khái quát về tình hình sử dụng đất đai của tỉnh
Bắc Ninh
4.1. Khái quát chung
Qua nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, thực trạng
phát triển kinh tế xã hội và hiện trạng sử dụng đất, có thể khái quát hoá tiềm
năng đất đai tỉnh Bắc Ninh nh sau:
24
Năm
%
Bảng2: Tiềm năng đất đai ở Tỉnh Bắc Ninh năm 2002
Đơn vị: ha
Loại đất
Tổng diện
tích
Phân theo đơn vị hành chính cấp huyện
Thị xã
B.Ninh
Yên
Phong
Quế Võ
Th.
Thành
Tiên Du Từ Sơn Gia Bình Lơng Tài
1. Tổng diện tích
2. Đất nông nghiệp
0.00
1937.04
721.58
965.16
10827.63
7219.67
254.95
1938.46
769.96
644.56
6151.72
4179.17
4.30
1210.09
583.21
174.95
10764.81
6273 23
65.70
1637.92
681.34
2106.19
10127.73
6339.52
0.00
161.42
703.99
1464.80
Nguồn Sở Địa Chính Bắc Ninh
Theo bảng thống kê trên ta thấy với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
Đất đai để phát triển nông nghiệp nhằm bố trí lại cơ cấu mùa vụ, giống
cây trồng, thị trờng tiêu thụ để tăng diện tích gieo trồng khoảng 15.500ha;
25