Mục lục
Lời nói đầu
Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá
Chơng I: Thực trạng xuất khẩu của Việt nam trong thời gian từ năm 1991 -2001
I. Đánh giá chung về tình hình của Việt nam đối với sản xuất và tiêu dùng gạo
trong thời gian qua .
1. Về tình hình sản xuất
2. Về tình hình tiêu dùng
II. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt nam từ năm 1991 đến nay
1. Số lợng và kim ngạch xuất khẩu
2. Chất lợng và chủng loại gạo xuất khẩu
2.1. Chất lợng gạo xuất khẩu
2.2. Chủng loại gạo xuất khẩu
3. Thị trờng và giá cả
3.1. Thị trờng xuất khẩu gạo của Việt nam
3.2. Giá gạo xuất khẩu
4. Thuế và hiệu quả xuất khẩu gạo
4.1. Chính sách thuế xuất khẩu gạo
4.2. Chính sách quản lý xuất khẩu gạo
5. Công tác thu mua và tổ chức xuất khẩu gạo
5.1. Công tác thu mua
5.2. Tổ chức xuất khẩu
6. Hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt nam trong một số năm qua
7. Đơn vị và khả năng cạnh tranh của Việt nam trong xuất khẩu gạo
II. Những tồn tại trong hoạt động xuất khẩu gạo và nguyên nhân của những
tồn tại này
1. Những tồn tại chính
2. Nguyên nhân
2.1. Nguyên nhân chủ quan
2.2. Nguyên nhân khách quan
Chơng II : Một số mô hình về sản lợng, số lợng gạo xuất khẩu của nớc ta và một
6. Cải tiến tổ chức quản lý và cơ chế điều hành xuất khẩu gạo của Việt nam
6.1. Hệ thống tổ chức xuất khẩu gạo
6.2. Cải tiến công tác quản lývà điều hành của Nhà nớc về hoạt động xuất khẩu
gạo
6.3. Quản lý chất lợng gạo xuất khẩu
6.4. Chế độ thởng phạt trong xuất khẩu
7. Hoàn thiện hệ thống thông tin về tình hình mặt hàng gạo trên thị trờng thế giới
B) Các biện pháp vi mô
1. Hoàn thiện tổ chức quản lý sản xuất trong các Doanh nghiệp chế biến xuất
khẩu lúa gạo
2. Đẩy mạnh tiếp thị xuất khẩu và mở rộng thị trờng xuất khẩu
3. nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công nhân viên .
Kết luận và kiến nghị
Phụ lục
Lời nói đầu
Từ xa xa, trong suốt quá trình lịch sử xây dựng và phát triển đất nớc, Việt
nam chủ yếu dựa vào nền kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt nam giữ vị trí
quan trọng với 80% dân số và 73% lực lợng lao động xã hội làm nông nghiệp và
. . . chúng ta không thể có con đờng nào khác là phải xây dựng một nền nông
nghiệp mạnh và phát triển bền vững (cả về kinh tế, xã hội và sinh thái), dựa vào
công nghệ cao từng bớc Hiện đại hoá vơn lên trong cạnh tranh ngay cả trên thị tr-
ờng trong nớc và nớc ngoài (trích bài Nói chuyện của phó thủ tớng Nguyễn
Công Tạn tại hội nghị báo cáo sinh viên về giải quyết việc làm và tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp, thông tin công tác t tởng số 7/2001) và nông nghiệp Việt
nam trong thế kỷ XXI phải phấn đấu trở thành nền nông nghiệp có tỷ trọng hàng
hoá cao mức xuất khẩu cao" (Nghị quyết của chính phủ số 09/2001/NQ-CP)
Hoạt động ngoại thơng có vai trò rất lớn trong sự phát triển thần kỳ của một
số nớc nh Nhật bản, các nớc NICs . . . và là các vấn đề tốt để hội nhập vào xu thế
phát triển nền kinh tế thế giới .
2
3
4
Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá
Đối với mỗi nớc, mỗi quốc gia nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hoá thì rất
cao nhng khả năng sản xuất các loại hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng (về số l-
ợng) thì không thế đáp ứng đợc nhu cầu này và chính vì vậy mà họ phải trao
đổi (xuất - nhập khẩu) các hàng hoá mình có để đổi lấy cái mình không có để
phục vụ cho nhu cầu đó . Mặt khác nếu nh chúng ta không nhập khẩu những
hàng hoá mà mình không sẵn có và việc sản xuất lại gặp nhiều khó khăn thử
hỏi có thể sản xuất đợc những loại hàng hoá đó một cách có hiệu quả hay
không . Xuất phát từ vấn đề nh vậy đã thúc đấy hoạt động ngoại thơng phát
triển và từ khía cạnh đó các nhà học thuyết về kinh tế đã lý luận về lợi ích thu
đợc từ ngoại thơng của mỗi quốc gia tham gia vào hoạt động trao đổi ngoại th-
ơng . Dựa trên cơ sở về lợi thế so sánh của mỗi quốc gia để quyết định việc sản
xuất hay mua bán sản phẩm .
Đối với nớc ta, tuy nền kinh tế còn nhiều khó khăn, hạn chế và yếu kém so
với nhiều nớc đang phát triển cũng nh các nớc phát triển hiện nay, nhng để
hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, cũng nh việc tham gia vào phân công lao
động quốc tế thì việc hoạt động ngoại thơng là vấn đề cần thiết cho sự phát
triển kinh tế nớc nhà . Trên cơ sở đó, việc sản xuất và xuất khẩu gạo là một
vấn đề mà Nhà nớc đang quan tâm . Đối với vấn đề này thì nớc ta có nhiều khả
năng và lợi thế so với các nớc khác, để đạt đợc những mục tiêu cho sự phát
triển kinh tế và tạo điều kiện cho công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đ-
a đất nớc tiến lên xã hội chủ nghĩa theo con đờng mà Đảng và Nhà nớc đã
vạch ra và lựa chọn thì vấn đề này đòi hỏi phải đợc quan tâm đúng mực vì
không những nó cung cấp đầy đủ lơng thực thực phẩm cho việc tiêu dùng nội
địa mà còn mang về nguồn ngoại tệ cho đất nớc . Những thuận lợi của vấn đề
này đợc thể hiện thông qua một số mặt sau .
+ Với nớc ta việc sản xuất lúa nớc đã có từ rất lâu trong lịch sự phát triển
của đất nớc do đó việc sản xuất lúa nớc là không thể thiếu đợc trong nền kinh
6
Chơng I :
Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt nam trong
thời gian từ năm 1991 - 2001
I. Đánh gía chung về tình hình của Việt nam đối với
sảnxuất và tiêu dùng gạo trong thời gian qua .
1. Về tình hình sản xuất
Từ năm 1991 chúng ta đã giải quyết đợc vấn đề lơng thực, đủ ăn và bắt đầu
tham gia vào thị trờng lúa gạo thế giới.
Sản lợng lúa bình quân thời kỳ 1987-1991 đạt 17,2652 triệu tấn ; thời kỳ 1992-
1996 đạt 22,504 triệu tấn; thời kỳ 1997-2000 đạt 28,61 triệu tấn và năng suất lúa
trong thời kỳ này cũng liên tục tăng : 1987-1991 là 29,8 tạ/ ha ; năm 1992-1996 là
34,3 tạ/ha; năm 2000 đạt 40,8 tạ/ha và năm 2001 khoảng 42,62 tạ/ha . So sánh với
một số nớc trên thế giới, tốc độ tăng năng suất lúa của Việt nam tơng đối cao .
Sản lợng lúa cả nớc đạt 32,7 triệu tấn, tăng 1,31 triệu tấn so với năm 2000 (lúa
đông xuân tăng 1,46 triệu tấn, lúa hè thu giảm 214 nghìn tấn và lúa mùa tăng
khoảng 69 nghìn tấn ). Nguyên nhân chính của việc tăng sản lợng lúa năm 2001
là tăng năng suất, còn diện tích tăng không đáng kể. Tổng diện tích lúa cả năm
đạt 7673,3 nghìn ha, chỉ tăng 0,26% (20 nghìn ha) so với năm 2000, Trong khi đó
các tỉnh phía Nam đạt 5083,5 nghìn ha giảm 21 nghìn ha (chủ yếu lúa hè thu và
lúa mùa), các tỉnh phía Bắc đạt 2589,8 nghìn ha, tăng 41 nghìn ha (1,61%) .Năng
suất lúa bình quân cả năm ớc đạt 42,62 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so với năm 2000,
miền Bắc đạt 46,5 tạ /ha (tăng 2,2 tạ / ha ), miền Nam đạt 40,5 tạ/ha (tăng 1,29
tạ/ha, nguyên nhân năng suất tăng do cơ cấu giống lúa của các tỉnh niềm Bắc thay
đổi nhanh theo hớng tăng tỷ lệ diện tích các giống lúa lai, lúa thuần có năng suất
cao, chủ yếu trong vụ đông xuân .
Vụ đông xuân, cả nớc gieo cấy 3012 nghìn ha, tăng 4,26% so với vụ đông
xuân trớc, trong đó các tỉnh phía Bắc đạt 1162 nghìn ha, tăng 3,64%; các tỉnh phía
Nam đạt 1850 nghìn ha và tăng 4,66% . Theo báo cáo chính thức của các địa ph-
ơng, năng suất đạt 51,66 tạ/ ha, tăng 2,8 tạ/ha, sản lợng lúa vụ đông xuân đạt
+ Thuỷ lợi hoá : Tuy còn nhiều khó khăn song Nhà nớc đã đầu t cơ sở vật chất
xây dựng hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp . Việc tập trung đầu t
khai thác vùng Đồng Tháp Mời, tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hu và bán đảo Cà
Mau đã tạo ra kết quả to lớn trong sản xuất lúa. Tính đến năm 2001 diện tích đất
canh tác đợc tới đạt trên 7 triệu ha và diện tích đợc tiêu khoảng 1 triệu ha .
+ Đ a các giống mới vào sản xuất : Đây là tiền đề tăng năng suất lúa trong
những năm qua . Tỷ lệ giống mới trong sản xuất chiếm khoảng 90% và đợc bố trí
phù hợp với điều kiện sinh thái khác nhau .
+ Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ : Vấn đề chuyển đổi cơ cấu mùa vụ là một trong
những yếu tố cơ bản đảm bảo cho diện tích và sản lợng tăng vững chắc trong suất
những năm qua, đồng thời đóng vai trò quyết định để tăng tổng sản lợng trong cả
nớc . Vùng đồng bằng sông Hồng nổi lên với trà lúa xuân muộn, nhiều tỉnh đa tỷ
lệ lên đến 60 - 70 % diện tích. Phát triển vụ lúa hè thu ở Miền Trung, tránh ma
bão và đảm bảo thu hoạch an toàn .ở đồng bằng sông Cửu Long cũng thay đổi và
đi dần vào ổn định với xu hớng tăng dần diện tích chỉ gieo cấy một vụ lúa mùa .
+ Lĩnh vực bảo vệ thực vật cũng đạt đ ợc những thành tích nhất định : áp dụng
thành công biện pháp phòng chừ tổng hợp (IPM), sử dụng giống chống chịu, biện
pháp canh tác . . .
Những chơng trình khuyến nông có ý nghĩa quan trọng trong chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật cho nông dân và tạo ra phơng thức dịch vu sản xuất mới ở nông thôn
hiện nay
Ba là : Do tác động đồng bộ của nhiều cơ chế, chính sách mới về đầu t, tín
dụng, vật t nông nghiệp và khuyến nông đã tạo ra động lực thúc đẩy phát triển sản
xuất, xây dựng kinh tế nông thôn và đóng vai trò rất quan trọng trong thành tích
sản xuất lơng thực thời gian qua .
8
2. Về tình hình tiêu dùng
Sản lợng lúa tăng nhanh, đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc . Trong
thời gian từ 1991 -2000, tiêu dùng gạo đã tăng khoảng 3% .Con số này lớn hơn
2,1% tăng dân số /năm trong cùng thời gian này .
1994
1996
1998
san luong
san luong tieu
dung noi dia
Cùng với việc tăng sản lợng và d thừa trong nớc, sự phát triển của ngành
gạo phụ thuộc vào nhịp độ tăng trởng trong xuất khẩu gạo .Vì thị trờng trong nớc
không thể tiêu thụ hết sản lợng gạo tăng lên, giá gạo sẽ giảm đi, trừ khi nhu cầu
về gạo ở ngoài nớc tạo ra một lối thoát cho việc tăng lên của sản lợng gạo .Nếu
xuất khẩu gạo không đợc phép mở rộng, nông dân sẽ không có động cơ tăng cờng
sản xuất mặc dù các chính sách vê lúa gạo vẫn khuyến khích sản xuất nông
nghiệp . Chính vì vậy, phát triển ngành gạo trong tơng lai phụ thuộc vào xuất khẩu
.
II. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt nam từ năm 1991 đến Nay
1. Số lợng và kim ngạch xuất khẩu .
Trong thời gian vừa qua, do sản xuất tăng nhanh và ổn định, mức lơng thực
bình quân nói chung và lúa gạo nói riêng liên tiếp đợc cải thiện, Việt nam không
những tự túc đợc lơng thực trong nớc, mà còn d thừa lơng thực để xuất khẩu .Năm
1991 đã đánh dấu một bớc ngoặt lớn đối với nền kinh tế và ngoại thơng nớc ta
.Việt nam xuất hiện trên thị trờng gạo thế giới với vị trí là nớc xuất khẩu thứ ba,
sau Thái Lan và Mỹ .Nhng trong một số năm gần đây sản lợng gạo xuất khẩu của
Việt nam tăng tơng đối và đã vơn lên đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo
chỉ sau Thái Lan .
Bảng số lợng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt nam
Năm Số lợng (ngàn
tấn)
Kim ngạch
(triệu USD)
Tốc độ phát triển liên hoàn (%)
Xuất khẩu gạo đã và đang đạt đợc thành tựu đáng kể, sản lợng xuất khẩu nhìn
chung ngày càng tăng, tuy một vài năm có giảm do các yếu tố biến đổi . Chẳng
hạn năm 1992 so với năm 1991 giảm cả về số lợng và kim ngạch do thị trờng
Đông Âu bị mất và năm 2001 sản lợng giảm 1,05 triệu tấn gạo do lợng gạo còn
tồn lại của những năm trớc của các nớc và một số nớc nhập khẩu gạo lớn nh
Indonexia, Bangladesh và Philippin lại giảm lợng nhập khẩu vì sự đợc mùa của
các nớc này .
Trong quá trình thực hiện xuất khẩu gạo từ năm 1991 đến nay có một số sự
kiện đáng lu ý ở đây là :
Một là : Vào năm 1992 lợng gạo xuất khẩu của Việt nam giảm và đạt mức
thấp nhất, kéo theo kim ngạch cũng ở mức thấp nhất so với các năm khác do giá
cả thị trờng trên thế giới giảm và một nguyên nhân đã trình bầy ở trên là do thị tr-
ờng Đông âu bị mất . Khi đó Pakíttăng đã thay thế nớc xuất khẩu gạo thứ ba của
Việt nam trên thị trờng thế giới . Tuy nhiên ngay năm sau, nớc ta đã nhanh tróng
giành lại vị thế đó của mình với mức xuất khẩu 1,9 triệu tấn, tăng gần 90% so với
năm trớc .
Hai là : Trong năm 1996 mặc dù xuất khẩu gạo của Việt nam đã đạt 2,044
triệu tấn, vợt tất cả những năm trớc đó nhng vị trí thứ ba lại một lần nữa bị ấn Độ
chiếm lĩnh (từ 1 triệu tấn gạo ấn độ tăng đột ngột lợng xuất khẩu gạo lên hơn 4,2
triệu tấn )
Ba là : Trong năm 1997 đẩy mạnh xuất khẩu gạo tới mức lớn hơn . Lần đầu
tiên, kể từ năm 1991, khối lợng gạo xuất khẩu của Việt nam vợt mức 3 triệu tấn
một năm, gấp rỡi năm 1996 và gấp 3 lần năm 1992 .
Bốn là : Vào năm 2000 và năm 2001, tuy rằng việc xuất khẩu gạo của nớc ta
vẫn đứng ở vị trí là nớc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới nhng có một số
11
vấn đề đáng lu ý là : năm 2000 tuy khối lợng gạo đạt kỷ lục đối với xuất khẩu gạo
ở nớc ta từ năm 1991 đến nay và khối lợng gạo xuất khẩu của năm 2000 tăng gần
20% so với năm 1999 nhng kim ngạch xuất khẩu lại giảm và chỉ bằng 99,6% năm
1999 lý do là do gía gạo giảm đến mức thấp nhất từ trớc đến nay ; trong khi đó
Bộ giống lúa chất lợng cho xuất khẩu của nớc ta hiện nay khá phong phú, tuy
nhiên chúng ta vẫn thiếu những giống có giá trị cao trên thị trờng gạo thế giới (giá
từ 700-1000 USD/tấn). Để khai thác tiềm năng xuất khẩu gạo của đất nớc, việc tổ
chức, quy vùng sản xuất, nghiên cứu chọn tạo nhằm tìm ra các giống lúa tốt là
một trong những khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định hiệu quả kinh tế của
ngành xuất khẩu lúa gạo nớc ta .
Đối với vụ lúa mùa, giống lúa cao sản IR45 (NN43) hiện nay là giống lúa điển
hình đạt chất lợng xuất khẩu, khách hàng chấp nhận, nông dân thích trồng vì dễ
cấy, chịu phèn và mặn tốt có khả năng cao thời gian sinh trởng ngắn (140 -145
ngày)
12
ởđồng bằng sông Cửu Long, giống lúa ngắn ngày X21 và giống lúa lai hệ 3
dòng HR1 đạt chất lợng xuất khẩu, lại có u thế canh tác, năng xuất cao (6-10
tấn/ha ), chịu rét thích ứng với nhiều loại đất phèn, nặm và kháng phèn tốt .
Chất lợng gạo xuất khẩu gồm nhiều tiêu thức nh hình dáng, kích cỡ, mùi vị, tỷ
lệ thức, tạp chất . . . nhng trong đó tỷ lệ tấm đóng vai trò quan trọng, thờng đợc
quan tâm tới . Dới đây chúng ta xem bảng phản ánh chất lợng gạo xuất khẩu của
Việt nam trong mấy năm qua và bảng tiêu chuẩn phân loại của viện nghiên cứu
lúa quốc tế (IRRI) 1980 .
Bảng chất lợng gạo xuất khẩu của Việt nam
(% so với tổng số lợng xuất khẩu trong năm đó )
Năm/phẩ
m cấp
Cao Trung
bình
Thấp Tốc độ tăng liên hoàn chất lợng
gạo xuất khẩu (%)
Cao Trung
bình
Thấp
Hạt trung bình
5 D 6
Hạt ngắn D < 5
Hạt thon dài D/R > 3
Hạt thon trung bình
2 D/R 3
Hạt hơi thon D/R < 2
Độ bạc bụng ( 4 loại - điểm )
Điểm 0 Không có vết đục trong gạo
Điểm 1 Vết đục chiến ít hơn 10% diện tích hạt
Điểm 5 Vết đục chiếm từ 11 -20 % diện tích hạt
Điểm 9 Vết đục chiếm hơn 20% diện tích hạt
Trong mấy năm gần đây, chất lợng gạo của Việt nam đã tăng lên, gạo phẩm
cấp cao chiếm 40% tổng số gạo xuất khẩu . Tốc độ tăng của gạo phẩm cấp cao
hàng năm là không ổn định . Từ năm 1991-1995, tốc độ tăng bình quân hàng năm
là 0,53 lần (53%/năm) . Từ năm 1996-1998, tốc độ này giảm xuống còn 0,14 lần
(14%/năm) nhng tốc độ của cả giai đoạn xuất khẩu lại tăng lên gần 0,27 lần
(27%/năm) . Trong khi đó tốc độ tăng của gạo trung bình và thấp là 0,19 lần
(19%/năm), tăng chậm hơn tốc độ tăng của gạo phẩm cấp cao .
14
Có thể nói rằng gạo phẩm cấp cao của ta xuất khẩu cha nhiều, đa phần chỉ là
gạo loại trung bình và các loại gạo khác . Do đó, kim ngạch thu về thờng không
cao . Riêng năm 1999, gạo cấp cao của Việt nam xuất khẩu tăng vợt , chiếm 53%,
đã góp phần làng tăng giá gạo xuất khẩu, khiến kim ngạch đạt 1016 triêu USD,
tăng 11,35%, mặc dù sản lợng chỉ tăng gần 3% so với năm 1998 .
Tóm lại, chất lợng gạo xuất khẩu của Việt nam trong mấy năm qua tăng lên rõ
rệt; các loại gạo 5% tấm tăng từ 0,3 lên 30% trong tổng lợng gạo xuất khẩu . Cả
hai cấp gạo có tỷ lệ tấm thấp (5% và 10%) hiện nay chiếm từ 53 - 60% tổng lợng
xuất khẩu . Còn gạo có tỷ lệ tấm cao 35 - 45% đã giảm mạnh từ 92% nay chỉ còn
chiếm 5% tổng lợng gạo xuất khẩu .
Thái Lan những năm qua vẫn đẩy mạnh xuất khẩu gạo đặc sản (mali) với giá cao,
gấp 1,5 lần loại gạo tốt "Thái 100B" và khoảng 2,5 - 3 lần so với đặc sản, với giá
702 USD/tấn vào thị trờng Tây Âu . Theo FAO, năm 1997 xuất khẩu gạo đặc sản
của Thái Lan đặt khoảng 400 triệu USD, thị trờng chủ yếu là Mỹ, Hồng Kông,
Tây Âu và Xingapore . Theo đánh giá của ngời tiêu dùng, gạo đặc sản mali của
Thái Lan không có hơng vị thơm gon độc đáo nh gạo đặc sản Tám Xoan ở vùng
15
đồng bằng sông Cu Long cuả Việt nam . Về giá trị kinh tế , xuất khẩu gạo đặc
sản sẽ bảo đảm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, thị trờng tơng lai, lại a chuộng
chủng loại gạo quí hiếm này . Vấn đề chính ở đây vẫn là khả năng phát triển sản
xuất trong nớc để có thể thoả mãn đợc nhu cầu của thị trờng nớc ngoài .
3. Thị trờng và giá cả xuất khẩu .
3.1. Thị trờng xuất khẩu gạo của Việt nam
Thái Lan và Mỹ là những nớc xuất khẩu gạo truyền thống từ nhiều thập
niên nay . Do vậy họ đã thiết lập đợc mối quan hệ lâu dài và ổn định về thị trờng
và khách hàng tiêu thụ bằng một hệ thống chính sách củ thể đối với từng khu vực
và từng nớc tiêu thụ của mình .Việt nam chỉ là nớc xuất khẩu gạo lớn kể từ năm
1991 . Từ thực tế đó , việc thâm nhập và mở rộng thị trờng của Việt nam trong
những năm đầu đã gặp không ít gian nan vì thờng đụng đến những khu vực thị tr-
ờng quen thuộc của các nớc xuất khẩu truyền thống , đặc biệt là Thái Lan .
Bảng : Thị trờng xuất khẩu của Việt nam trong 3 năm điển hình (%)
Các khu vực tiêu thụ / năm 1991 1993 1996
Châu á 50,0 44,6 79,0
Trung Đông 0,0 10,5 10,0
Châu phi 49,0 35,5 10,0
Châu mỹ 0,9 15,1 09,0
Châu âu 0,01 04,8 02,0
Thị trờng khác 0,09 0 0
Nguồn : Bộ Thơng Mại
Qua bảng cho thấy ngay từ năm 1991, thị trờng xuất khẩu chủ yếu của Việt
Lợng gạo xuất đi các nớc Châu Âu nh Thụy sỹ, áo, Anh, Hungary, Tây ban
Nha đạt 3,7 % tổng lợng gạo xuất khẩu, trong khi đó năm 1999 là 3%
Lợng xuất khẩu gạo của Việt nam đạt trên 4 triệu tấn trong hoàn cảnh thị
trờng nhiều biến động là cố gắng lớn của các doanh nghiệp Việt nam . Điều này
cho thấy, chính sách giao quyền tự chủ kinh doanh cho các nhà xuất khẩu và tăng
đầu mối xuất khẩu gạo của chính phủ là đúng đắn và hiệu quả .
Năm 2000 lợng gạo xuất khẩu đi Trung Đông cũng tăng lên, chiếm 12%,
còn lợng xuất đi Châu phi lại giảm đi .
Năm 2000, gạo xuất khẩu với tỷ lệ gạo phẩm cấp cao giảm đi đáng kể so
với năm 1999, trong khi đó gạo phẩm cấp thấp tăng lên, chứng tỏ gạo phẩm cấp
thấp và trung bình cũng có thị trờng không nhỏ, đây cũng là lợi thế cạnh tranh
xuất khẩu gạo của Việt nam .
Năm 2001 lợng gạo xuất khẩu của Việt nam đạt mức 3,5 triệu tấn giảm so
với năm trớc 1,05 triệu tấn là do một số thị trờng nhập khẩu gạo lớn nh Indonexia,
17
Bangladesh, philippin . . . giảm lợng nhập khẩu do có sự khôi phục lại mất mùa
của hai năm trớc đó .
Đến đầu năm 2002 này Việt nam dự tính xuất khẩu 4 triệu tấn tăng so với
3,5 triệu tấn năm 2001 nhng vẫn còn thấp so với năm 2000 (4,55 triệu tấn) ngay
trong tháng 01 Việt nam đã xuất khẩu đợc 150000 tấn gạo tăng 128% so với cùng
kỳ năm trớc . Để đặt đợc khối lợng gạo xuất khẩu nh dự kiến thì vấn đề thị trờng
là yếu tố hết sức quan trọng .
3.2. Giá gạo xuất khẩu
Giá cả là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của một nền kinh tế trên thị tr-
ờng . Thực tế giá cả phụ thuộc nhiều yếu tố : quan hệ cung cầu, điều kiện khí hậu
thời tiết (những biến cố về khí hậu), thời vụ, yếu tố chính trị xã hội . . . Trong đó,
yếu tố chi phối nhiều nhất và quan trọng là chất lợng phẩm chất gạo . Cụ thể nh,
trong trợng hợp của Mỹ tuy khối lợng xuất khẩu gạo của Mỹ không dẫn đầu nhng
khả năng chi phối đối với thị trờng gạo thế giới của Mỹ vẫn rất lớn . Mỹ cạnh
tranh và chi phối xuất khẩu bằng chất lợng u việt so với gạo Thái lan vì Mỹ có lợi
1996 338 250 314 24
1997 362 285 342 20
1998 242
1999 268.5
2000 227
Nguồn : FAO - Facsimil Transmission
BOT - OMIC Bang kok
Bộ Thơng mại
Giá gạo xuất khẩu 5% tấm trung bình năm 2000 chỉ có 228 USD/tấn, giảm
56 USD/tấn so với năm 1999 . Giá gạo xuất khẩu phẩm cấp thấp (25% tấm) cũng
giảm khá nhiều so với năm trớc, chỉ đạt 205 USD/tấn, giảm 45% USD/tấn .
Xu hớng giảm giá gạo xuất khẩu năm 2000 không chỉ đối với gạo xuất
khẩu của Việt nam mà còn ảnh hởng nhiều đến gạo xuất khẩu của Thái Lan . Năm
2000, giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Thái Lan chỉ đạt 239 USD/tấn giả 60
USD/tấn so với năm 1999 . Tơng tự gạo 25% tấm của Thái Lan giảm xuống mức
215 USD/ tấn .
Năm 2001 do cung tăng, cầu giảm đã buộc các nớc xuất khẩu gạo nh Thái
Lan, Việt nam, Trung Quốc phải giảm giá đáng kể để đẩy mạnh bán ra . Ngay
trong 10 tháng đầu năm 2001 giá gạo các loại của Thái Lan đã giảm 19-22% còn
163 USD/tấn, FOB (25% tấm) và 193 USD/tấn, FOB (100%loại B) . Giá gạo Việt
nam giảm 16%, còn 185 USD/tấn, FOB (5% tấm) và 159 USD/tấn (25% tấm) .
Trong khi đó, giá gạo Pakistan giảm hơn giá gạo Thái Lan và Việt nam do đồng
rupi Pakistan suy yếu so với USD .
Nhìn chung, mức chênh lệch giữa giá gạo của Thái Lan và Việt nam trong
mấy năm vừa qua có xu hớng giảm dần . Nhng để tăng khả năng cạnh tranh hơn
nữa, trong điều kiện thị trờng hiện nay với xu thế ngày càng khó khăn thì vấn đề
quyết định là cải tiến giống, công nghệ chế biến để nâng cao lúa gạo hàng hoá .
4. Thuế và hiệu quả xuất khẩu gạo
4.1. Chính sách thuế xuất khẩu gạo .
Trớc ngày 01 tháng 07 năm 1996 gạo xuất khẩu của nớc ta không bị đánh thuế
ợc, cái mất của việc đánh thuế xuất khẩu gạo
4.2. Chính sách quản lý xuất khẩu gạo
Gạo là lơng thực cơ bản và truyền thống của nớc ta . Đó là mặt hàng rất
nhậy cảm với sự ôn định chính trị trong nớc . Do đó sự ổn định cung-cầu gạo trên
thị trờng thế giới là rất quan trọng . Vì vậy năm 1991 khi mới có xuất khẩu gạo
Nhà nớc ta đã dùng hạn ngạch để kiểm soát điều tiết lợng gạo xuất khẩu .
Hạn ngạch xuất khẩu gạo có thể điều chỉnh giá thóc ở thị trờng nội địa khi
khống chế lợng gạo xuất khẩu . Tuy nhiên, nếu khống chế lợng gạo xuất khẩu một
cách thích hợp sẽ là một trọng những cơ sở để ổn định mặt bằng giá cả nói chung
trên thị trờng nội địa . Hơn nữa trong hoàn cảnh Nhà nớc đang có chủ trơng tự do
hoá ngoại thơng, chống tranh bán ở thị trờng nớc ngoài, thì việc sử dụng hạn
ngạch xuất khẩu gạo là công cụ hợp lý nên tiếp tục áp dụng trong một thời gian
nữa . Vấn để ở đây là cần dự đoán tơng đối chính xác sản lợng thu hoạt thóc hàng
năm để giao hạn ngạch phù hợp với yêu cầu để đảm bảo cân đối sát cung-cầu ở
thị trờng nội địa . Đồng thời cũng hoàn thiện cơ chế giao hạn ngạch sao cho giảm
đến mức thấp nhất các lộn xộn trong mua bán hạn ngạch, chạy trọt hạn ngạch nh
thực tế đã xẩy ra trong những năm qua .
20
Nông
dân
sản
xuất
lúa
gạo
Doanh nghiệp
t nhân
Các chủ nhà
máy say sát
nhà t nhân
Nông dân thu
nhng vẫn còn ít .
5.2. Tổ chức xuất khẩu
Từ năm 1991, năm đầu tiên nớc ta xuất khẩu gạo đến năm 1999 cơ chế điều
hành đợc áp dụng với từng giai đoạn nh sau :
* Năm 1991 cha có cơ chế rõ ràng .
* Năm 1991-1992, với chủ trơng mở rộng để tiêu thụ lúa hàng hoá nên có
nhiều công ty tham gia xuất khẩu, vì thời gian này sản xuất nông nghiệp ở các
tỉnh phía nam phát triển mạnh, trong khi chúng ta lại thiếu bạn hàng và thị trờng
tiêu thụ .
* Năm 1993-1996 do xu hớng chung là giá thị trờng giảm mạnh, các công ty l-
ơng thực ở các địa phơng kinh doanh xuất khẩu gạo bị lỗ, không làm đợc . Các
tỉnh đề nghị khâu cung ứng, tạo chân hàng tức là khâu thu mua, xay sát, chế biến,
vận chuyển nội địa, còn việc xuất khẩu chủ yếu thuộc doanh nghiệp khối trung -
ơng đảm nhiệm . Năm 1993 có hơn 40 đầu mối xuất khẩu gạo, những đầu mối
này cạnh tranh với nhau trong việc bán gạo, giá giảm gây ảnh hởng xấu cho việc
thoa thuận . Một số tổ chức thiếu kinh nghiệm cũng xuất khẩu gạo, do đó việc ký
hợp đồng của họ không đạt yêu cầu, một trong số họ lại không thực hiện hợp
đồng . . . Từ năm 1994 chính phủ quyết định hạn chế đầu mối xuất khẩu gạo, Bộ
Thơng Mại đa vào hoạt động xuất khẩu gạo của tất cả các đầu mối trong bốn năm
qua, đặc biệt là trong hai năm gần đây Bộ Thơng Mại đề nghị với Bộ Nông
Nghiệp và Bộ Kế Hoạch và Đầu T , Hiệp hội xuất khẩu lơng thực và chỉ ra các
đầu mối đợc cấp giấy phép nếu đáp ứng đợc nguyên tắc sau đây :
+ Chỉ cho phép phát triển xuất khẩu gạo cho một tỉnh có số lợng lớn hơn
200000 tấn gạo một năm và cho phép hai tổ chức xuất khẩu gạo của một tỉnh có
số lợng lớn hơn 600-700 ngàn tấn một năm .
+ Đối với công ty không có giấy phép xuất khẩu trực tiếp, nhng có khả năng
thu mua gạo và khả năng chế biến . . . có thể hợp tác với các đầu mối đầu xuất
khẩu .
* Đến năm 1997, tình hình tiêu thụ trở lại thuận lợi, việc kinh doanh xuất khẩu
gạo có lời, mặc dù vậy lại phát sinh tình trạng mua ép giá nông dân và xuất hiện
6. Hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt nam trong một số năm qua.
Qua ba năm xuất khẩu gạo (1997-1999) của Việt nam, ta thấy xuất khẩu
với số lợng lớn nhng hiệu quả còn cha cao do có nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan nhng đặc biệt phải chú ý tới sự lên xuống của giá gạo trên thị trờng
thế giới diễn ra rất phức tạp, liên tục giảm đặc biệt là gạo có phẩm cấp thấp
Hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo của Việt nam trong ba năm 1997-1999
đợc thể hiện thông qua bảng sau :
Đơn vị : nghìn đông/tấn
Hạng mục /năm 1997 1998 1999
I. Giá thành xuất khẩu một
tấn gạo
1. Giá mua tại mạn tầu 2200 2260 2590
2. Bao bì 52 56 60
3. Chi phí quản lý kinh
doanh
55,8 60 63,6
4. Chi phí giao dịch ký hợp
đồng
23,5 25 27,6
5. Lãi vay ngân hàng (1,2%
tháng x 1,5% tháng )
43,11 43,21 49,4
6. Thuế doanh thu và thúê
xuất khẩu
25,6 26,5 27,6
23
7. Phí bảo hiểm + Phí vận
tải 29USD +3,5 USD
385,15 391,62 442,5
Tổng giá thành xuất khẩu 2785,16 2861,17 3260,7
vững chắc .
Nh vậy, nớc xuất khẩu gạo hiện nay Việt nam cần quan tâm nhất là Thái
Lan . Xem xét khả năng cạnh tranh giữa Việt nam và Thái Lan trong xuất khẩu
gạo nh ở bảng sau .
Bảng so sánh khả năng cạnh tranh của Việt nam và Thái Lan
trong xuất khẩu gạo
Những tiêu thức cơ
bản
Đơn vị
tính
Việt
nam
Thái
Lan
So sánh
Việt nam /Thái Lan
I. Trong sản xuất
1. Diện tích lúa
năm 1997
Triệu ha 7,02 9,02 Việt nam bằng 77,8 %
24
2. năng suất lúa
năm 1997
Tạ / ha 37,6 23,6 Việt nam gấp 1,6 lần
3. Sản lợng lúa
năm 1997
Triệu tấn 26,4 21,1 Việt nam vợt 25,1%
4. Mức tăng sản l-
ợng 1997/1991
% 39 95 Việt nam bằng 41,5%
2. Lợng xuất khẩu
năn 1997
Triệu tấn 3,02 5,3 Việt nam kém bằng
57%
3. Mức tăng năm
1997/1991
% +112 - 13,1 Việt nam hơn (gấp 2,3
lần )
4. Thị phần thế
giới năm 1991
% 10,2 43,9 Việt nam kém chỉ
bằng 23.2%
5. Thị phần thế
giới năm 1997
% 15,5 27,5 Việt nam kém chỉ
bằng 56,1%
6. So sánh thị phần
1997/1991
% +52 - 37,5 Việt nam hơn (vợt
90% )
7. Giá xuất khẩu USD/tấn 245 320 Chênh lệch 75
25