Lời nói đầu
Nền kinh tế thế giới đang biến động mạnh mẽ với xu thế hội nhập khu vực
và toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cùng
với sự thúc đẩy mạnh mẽ của nhu cầu phát triển kinh tế làm tăng thêm sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong mọi lĩnh vực nổi trội hơn bao giờ hết.
Điều này buộc các nớc phải thi hành chính sách mở cửa. Quá trình hợp tác và
thâm nhập kinh tế giữa các quốc gia ngày càng phát triển. Trớc tình hình thế
giới nh vậy, Việt Nam không thể không mở cửa nền kinh tế, phát triển quan hệ
đối ngoại nhằm mở rộng thị trờng, tiếp thu các thành tựu về khoa học công
nghệ trên thế giới để phát triển kinh tế trong nớc. Khi phát triển quan hệ đối
ngoại, chúng ta không thể không nhắc tới nớc Mỹ.
Mỹ là quốc gia giầu và mạnh nhất trên thế giới hiện nay. Cùng với Tây Âu
và Nhật Bản, Mỹ là một trong ba trung tâm kinh tế của thế giới. Hiện nay, Mỹ
đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển. Bên
cạnh đó, Mỹ còn đóng vai trò đầu tàu trong nhiều tổ chức kinh tế và chính trị
trên thế giới, nh Tổ chức thơng mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF),
Ngân hàng thế giới (WB). Thị trờng Mỹ với dân số khoảng 260 triệu ngời, thu
nhập bình quân đầu ngời trên 33000 USD là thị trờng tiêu thụ lớn nhất trên thế
giới. Vì vậy, hầu hết các nớc trên thế giới đều tìm cách thâm nhập vào thị trờng
khổng lồ và đầy tiềm năng này.
Việt Nam và Mỹ trớc đây từng là kẻ thù của nhau, nhng từ đầu thập kỷ 90
tới nay trớc tình hình bối cảnh thế giới nhiều thay đổi, hai nớc đã nỗ lực không
ngừng trong việc hàn gắn quá khứ, bình thờng hóa quan hệ. Quá trình bình th-
ờng hóa quan hệ giữa hai nớc đã thúc đẩy quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai n-
ớc ngày càng phát triển. Từ mức quan hệ thơng mại gần nh là con số không, đến
năm 2001, kim ngạch thơng mại giữa hai nớc vợt con số 1 tỷ USD.
Ngày 11/12/2001, Quốc hội Mỹ đã chính thức phê chuẩn Hiệp định thơng
mại Việt Mỹ. Đây là cột mốc quan trong trong thơng mại hai nớc và cũng là
cơ hội lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, một trong
những trở ngại đối với các doanh nghiệp Việt Nam là việc các doanh nghiệp
dụng còn có luật riêng của mỗi bang. Mặc dù luật Liên bang và luật ở các bang
có thể khác nhau, nhng thẩm quyền của mỗi luật đã đợc quy định rõ ràng trong
Hiến pháp Mỹ. Trong lĩnh vực ngoại thơng, Hiến pháp Mỹ có quy định về các
điều luật tối cao, điều luật xuất nhập khẩu, và điều khoản thơng mại đề
cập đến mối liên hệ giữa các bang và Liên bang trong hoạt động quản lý thơng
mại quốc tế.
Điều khoản tối cao: điều khoản này quy định nếu luật các bang có các quy
định xung đột trực tiếp với các quy định tơng tự của luật Liên bang thì luật Liên
bang sẽ đợc áp dụng nếu Quốc hội quyết định nh vậy.
Điều khoản xuất nhập khẩu: Điều khoản này ngăn cấm Chính phủ Liên
bang đánh thuế xuất khẩu và ngăn cấm chính quyền các bang đánh thuế xuất
nhập khẩu. Điều khoản này đợc đề ra do những nguyên nhân sau: thứ nhất,
chính phủ Liên bang cần có một tiếng nói thống nhất trong hoạt động đối ngoại;
thứ hai, thuế nhập khẩu là một nguồn thu quan trọng cho ngân sách Liên bang;
thứ ba, ngăn cản các bang ven biển có những quy định cản trở hoặc có các
khoản thuế đánh vào hàng hoá đang vận chuyển vào các bang.
Điều khoản thơng mại: Điều khoản này trao cho chính quyền Liên bang
quyền lực tối cao đối với các hoạt động thơng mại có yếu tố nớc ngoài và ngăn
cấm các bang đánh thuế, có các hạn chế hoặc gây ra các gánh nặng không thích
hợp đối với hoạt động xuất khẩu. Chính quyền các bang, theo điều khoản này,
cũng bị hạn chế rất nhiều trong việc hạn chế nhập khẩu. Tuy nhiên, các bang
vẫn có thể thực thi các hạn chế nhập khẩu trong trờng hợp để bảo vệ an toàn và
sức khỏe cộng đồng.
1.2. Luật điều tiết hoạt động xuất khẩu
1.2.1. Các luật hỗ trợ xuất khẩu và triển khai hiệp định thơng mại
Điều 301 - luật thơng mại 1974 là luật quan trọng nhất của Mỹ để thực hiện
quyền của các công ty Mỹ trong khuôn khổ các hiệp định song phơng và đa ph-
ơng đã ký, thúc đẩy việc tiếp cận thị trờng nớc ngoài cho hàng hoá và dịch vụ
3
cấp phép xuất khẩu những mặt hàng đợc sử dụng hai mục đích. Bộ ngoại giao cấp
phép xuất khẩu các mặt hàng và dịch vụ quốc phòng theo quy định của Luật kiểm
soát xuất khẩu vũ khí, trong khi một số loại vật t, thiết bị hạt nhân nhất định lại do
Uỷ ban kiểm soát hạt nhân cấp phép theo quy định của Luật năng lợng nguyên tử.
Luật về quyền hạn kinh tế trong tình trạng khẩn cấp quốc tế (IEEPA) đợc
thông qua năm 1977, cho phép Tổng thống đợc quyền phong tỏa tài sản nớc
4
ngoài tại Mỹ, cấm vận thơng mại và tiến hành các biện pháp cần thiết khác để
đối phó với những đe dọa bất thờng hoặc đặc biệt đối với an ninh quốc gia hay
lợi ích kinh tế của Mỹ.
1.3. Luật điều tiết hoạt động nhập khẩu
1.3.1. Hạn chế nhập khẩu
Điều 201 Luật thơng mại Mỹ, đợc sửa đổi và bổ sung năm 1988, đã quy
định về các bớc thực hiện các biện pháp bảo vệ ngành công nghiệp trong nớc
khỏi sự biến động gây thiệt hại lớn đối với nền kinh tế ở Mỹ.
Tiêu chuẩn để hạn chế nhập khẩu: Theo điều 201, việc hạn chế nhập khẩu đ-
ợc tiến hành khi mà hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ tăng đến mức gây thiệt hại
nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các ngành sản
xuất trong nớc hay các loại hàng hóa cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa nhập
khẩu. Việc hạn chế nhập khẩu đợc tiến hành theo yêu cầu của Tổng thống Mỹ
trên cơ sở các khuyến nghị của Uỷ ban Thơng mại quốc tế. Các biện pháp hạn
chế nhập khẩu trên chỉ có hiệu lực tạm thời và dùng để tạo cho các ngành công
nghiệp trong nớc có đủ thời gian để lấy lại khả năng cạnh tranh của mình.
Theo Luật thơng mại bổ sung năm 1988, trên cơ sở đề nghị của Uỷ ban th-
ơng mại, Tổng thống Mỹ sẽ tiến hành hạn chế nhập khẩu nếu Tổng thống Mỹ
cho rằng biện pháp này sẽ mang lại các lợi ích kinh tế và xã hội. Các biện pháp
mà Tổng thống dùng để hạn chế nhập khẩu bao gồm:
- Tăng thuế, mức tăng cao nhất là lên 50%;
- Sử dụng thuế hạn ngạch, tức thuế xuất sẽ tăng cao hơn sau khi nhập một
chấp nhận và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận. Các vòng đàm phán
Urugoay dựa trên Bộ luật tiêu chuẩn này thiết lập Hiệp định về hàng rào kỹ
thuật đối với thơng mại. Hiệp định mới này yêu cầu loại bỏ các hàng rào thơng
mại dới hình thức tiêu chuẩn hàng hóa, các hoạt động kiểm định hay các thủ tục
đánh giá mức độ phù hợp của hàng hóa.
2. Một số quy định trong chính sách nhập khẩu của Mỹ
2.1. Quy chế thơng mại bình thờng-NTR (hay còn gọi là quy chế tối huệ
quốc-MFN) của Mỹ
Quy chế tối huệ quốc (Most Favoured Nation MFN) áp dụng ở Mỹ từ
năm 1930 theo Luật thuế năm 1930 (Tariff Act 1930) là một điều khoản quy
định ở các hiệp định thơng mại quốc tế, mà các nớc tham gia ký kết hiệp định
cam kết dành cho nhau sự đãi ngộ thơng mại không thấp hơn sự u đãi cao nhất
mà nớc đó dành cho một nớc khác. Trong chính sách thuế quan của Mỹ, MFN
có nghĩa là các sản phẩm của các nớc đợc Mỹ đãi ngộ tối huệ quốc sẽ chiếm
mức thuế thấp hơn nớc không đợc Mỹ dành cho chế độ MFN đó. (Thể hiện ở
cột số 1 và cột số 2 trong danh bạ thuế quan HTS của Mỹ).
Từ tháng 6 năm 1998, nhân điều chỉnh sắc luật liên quan đến hoạt động của
Cục thuế liên bang Mỹ (IRS), Quốc hội Mỹ đã quyết định thay đổi tên gọi của
chính sách Tối huệ quốc (MFN) thành khái niệm Quan hệ thơng mại bình thờng
(Normal Trade Relations-NTR).
6
2.2. Hàng rào thuế quan của Hoa Kỳ
2.2.1. Danh bạ thuế quan thống nhất (The Harmonised Tariff Schedule- HTS)
Danh bạ thuế quan thống nhất của Mỹ chia hàng hoá thành khoảng 5000
mục (Heading) và tiểu mục (Subheading) theo trình tự: từ những loại hàng
hoá đơn giản, sản phẩm nông nghiệp tới các loại hàng hoá chế tạo tinh vi.
Danh bạ này còn chia thành 22 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực thông thờng bao quát
một ngành công nghiệp. 22 lĩnh vực lại đợc chia thành các chơng nhỏ, mỗi
chơng lại bao gồm một loại hàng hoá, nguyên vật liệu hay sản phẩm của
Giá của hàng hoá tơng tự (Similar merchandise)
Giá trị khấu trừ (Deductive value)
Giá trị tính toán cơ bản (Computed value)
a). Giá trị giao dịch
Giá trị giao dịch của hàng hoá là giá trị thực tế thanh toán hoặc phải thanh
toán cho hàng hoá khi hàng hoá đợc bán để xuất khẩu vào Mỹ, cộng với các
khoản sau nếu các khoản này không có trong giá bán:
- Chí phí đóng gói (bao gồm container, bao bì và chi phí lao động đóng
gói) do ngời mua chịu.
- Tiền hoa hồng bán hàng do ngời mua chịu: Hoa hồng bán hàng do ngời
mua chịu sẽ là một phần của giá trị giao dịch nhng hoa hồng mua hàng thì lại
không đựơc tính vào giá này. Hoa hồng bán hàng là hoa hồng trả cho đại lý
của ngời bán, những ngời đại diện cho ngời sản xuất hoặc đại diện cho ngời
bán.
- Giá trị của các khoản trợ giúp của ngời mua cho ngời bán: Ngời nhập
khẩu thờng cung cấp một số hình thức trợ giúp cho ngời sản xuất nớc ngoài rồi
sau đó mua hàng của họ. Nếu sự trợ giúp này dẫn đến sự giảm giá bán hàng hoá
hay sử dụng các hàng hoá của ngời sản xuất trên nớc Mỹ thì phần giá trị trợ
giúp sẽ đợc tính vào giá trị giao dịch. Sự trợ giúp này thờng bao gồm: nguyên
vật liệu thô và các máy móc sử dụng để sản xuất hàng hoá xuất khẩu; khuôn rập
hay khuôn đúc; mẫu mã, đồ án do những công ty nớc ngoài hay những ngời
không sống trên nớc Mỹ thực hiện.
- Chi phí trả cho nhãn hiệu hay bản quyền mà ngời mua phải chịu nh là
một điều kiện khi mua hàng hoá: Ngời nhập khẩu thờng phải trả các khoản phí
cho việc sử dụng bản quyền, nhãn hiệu hay mẫu mã của hàng hoá trên nớc Mỹ.
Nếu việc trả các khoản phí này là điều kiện cho việc nhập khẩu hàng hoá vào
Mỹ thì chúng sẽ đợc tính vào giá trị giao dịch.
Giá trị giao dịch sẽ không bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm, phí môi giới
hải quan, chi phí vận chuyển nội địa sau khi nhập khẩu, các dịch vụ liên quan
đến phát sinh trong việc gửi hàng từ nớc xuất khẩu đến địa điểm nhập khẩu ở
định giá trị.
Đợc sản xuất bởi cùng một nhà sản xuất với hàng hóa nhập khẩu.
Thuật ngữ hàng hóa tơng tự có nghĩa hàng hóa đó:
Đợc sản xuất ở cùng một quốc gia và cùng một ngời sản xuất nh hàng
hóa nhập khẩu.
Giống về đặc điểm và linh kiện cấu tạo so với hàng hóa nhập khẩu.
Có thể thay thế nhau trong buôn bán với hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên,
trong hai điều kiện trên thì điều kiện cùng nhà sản xuất có thể không bắt buộc
tuyệt đối.
9
c. Giá trị khấu trừ
Nếu giá trị giao dịch của hàng hoá nhập khẩu, hàng hoá giống nhau, hàng
hoá tơng tự không thể xác định đợc, thì Phòng Hải quan sẽ sử dụng giá trị khấu
trừ cho hàng hoá đang đợc định giá nếu ngời nhập khẩu không có ý định sử
dụng giá trị khấu trừ từ trớc.
Giá trị khấu trừ là giá bán lại của hàng hóa nhập khẩu đó trên thị trờng Mỹ
sau khi cộng trừ một số hạng mục nhất định. Để tính giá trị khấu trừ, thuật ngữ
hàng hóa liên quan đợc sử dụng. Hàng hóa liên quan nghĩa là hàng hóa giống
hệt hay tơng tự đang đợc định giá. Thông thờng, giá trị khấu trừ đợc tính toán
bắt đầu từ một giá đơn vị sau đó đợc tính toán bằng việc cộng thêm hoặc trừ vào
giá này để ra giá trị khấu trừ.
Giá đơn vị: Có 3 loại giá đơn vị đợc sử dụng để tính giá trị khấu trừ. Tùy
thuộc vào thời gian và điều kiện hàng hóa liên quan đợc bán ở Mỹ mà loại giá
đơn vị nào đợc sử dụng.
Nếu hàng hóa liên quan đợc bán với điều kiện nh khi nhập khẩu và cùng
thời điểm với hàng hóa cần tính giá trị hải quan thì giá đơn vị là giá mà hàng
hóa liên quan đợc bán với khối lợng lớn nhất.
Nếu hàng hóa liên quan đợc bán với điều kiện nh khi nhập khẩu nhng
không cùng thời điểm với hàng hóa cần tính giá trị hải quan thì giá đơn vị là giá
ơng là sớm thực hiện u đãi chung thì đến năm 1970 đã đạt đợc sự nhất trí
chung, tất cả 18 nớc phát triển tuyên bố cho hởng u đãi thực hiện Chế độ u đãi
thuế quan phổ cập.
b). Chế độ u đãi thuế quan phổ cập (GSP)
Chế độ u đãi thuế quan phổ cập là một chơng trình miễn thuế nhập khẩu cho
những hàng hoá từ các nớc hởng lợi là các quốc gia độc lập hoặc các quốc gia
và lãnh thổ phụ thuộc đang phát triển để khuyến khích tăng trởng kinh tế ở
những nớc này. Chơng trình này đợc Mỹ ban hành trong Luật Thơng mại năm
1974 (Trade of Act 1974), có hiệu lực từ ngày 1/1/1976, và đợc gia hạn thêm
trong từng kỳ.
c). Điều kiện hởng u đãi
Để đợc hởng GSP của Mỹ phải đảm bảo hai điều kiện là điều kiện về quốc
gia đợc hởng và điều kiện về hàng hoá đợc hởng.
Thứ nhất, quốc gia đợc hởng GSP thờng là nớc đang phát triển, có mức thu
nhập bình quân trên đầu ngời thấp hơn 8.500 USD. Lý do là các nớc này cha đủ
khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên Mỹ sẽ từ chối áp dụng Chế độ u đãi phổ cập
cho những nớc sau:
Là một quốc gia Cộng sản, trừ phi: các sản phẩm của quốc gia này đợc
nhận đối xử Tối huệ quốc; quốc gia này là thành viên của WTO và IMF; và
quốc gia này không bị kiểm soát bởi chủ nghĩa Cộng sản quốc tế.
Là thành viên OPEC hoặc các tổ chức khác nắm giữ nguồn cung cấp các
nguồn hàng hóa quan trọng và nâng giá lên một cách vô lý tạo nên sự suy sụp
trầm trọng của kinh tế thế giới.
11
áp dụng các u đãi ngợc với các nớc phát triển, có thể có tác động ngợc
lại đối với thơng mại Mỹ.
Đã quốc hữu hóa, sung công tài sản của Mỹ, kể cả bằng sáng chế,
nhãn hiệu hàng hóa hoặc bản quyền, trừ phi Tổng thống Mỹ quyết định và
thông báo với Quốc hội là có sự đền bù nhanh chóng, đầy đủ và hữu hiệu;
(hoặc những) sản phẩm của một nớc đã đủ sức cạnh tranh rồi thì thôi không cần
u đãi thuế quan nữa, cần dành u đãi cho những nhà sản xuất còn non kém trong
cạnh tranh và để bảo hộ sản xuất trong nớc. Nội dung chủ yếu của quy định này
là khi Mỹ nhập khẩu một mặt hàng nào từ một nớc hởng GSP của Mỹ mà vợt
mức trị giá quy định và mức điều chỉnh hàng năm đợc phép nhập, hoặc mặt
hàng đó đã chiếm tới 50% toàn bộ giá trị mà Mỹ cho nhập khẩu trong năm đó
thì Mỹ sẽ đình chỉ không cho nhập mặt hàng ấy của nớc đợc hởng u đãi GSP
nữa. Việc có tiếp tục đợc hởng GSP hay không sẽ do Mỹ xét lại vào năm sau.
2.2.4. Hoàn thuế nhập khẩu
Hoàn thuế (drawback) là sự hoàn trả 99% trị giá thuế hải quan thông thờng và
thuế doanh thu trong nớc. Hoàn thuế đợc công nhận lần đầu trong luật thuế của Mỹ
năm 1789. Kể từ đó nó đã trở thành một phần không thể thiếu của pháp luật Mỹ
mặc dù các điều kiện quy định trong đó đã dần bị thay đổi theo thời gian.
Lý do áp dụng hoàn trả thuế là để khuyến khích hoạt động kinh doanh và
sản xuất của Mỹ. Việc này cho phép các nhà sản xuất Mỹ cạnh tranh ở nớc
ngoài tránh đợc việc phải tính thêm thuế phải trả cho hàng nhập khẩu vào chi
phí, và sau đó là vào giá bán.
Có ba loại hoàn thuế là: Hoàn thuế sản xuất, hoàn thuế tái xuất và hoàn thuế
đối với hàng hoá bị từ chối nhập khẩu.
Hoàn thuế sản xuất (manufacturing drawback) là hoàn thuế đối với hàng
hoá nhập khẩu đợc dùng để sản xuất ra hàng hoá xuất khẩu. Hàng hoá nhập
khẩu phải đợc dùng để sản xuất và đợc xuất khẩu trong vòng 5 năm kể từ ngày
nhập khẩu. Việc hoàn thuế sẽ giúp những ngời sản xuất hàng hóa xuất khẩu của
Mỹ mua đợc nguyên liệu rẻ từ nhà cung cấp nớc ngoài, thậm chí cả những nớc
Mỹ không dành cho quy chế MFN, mà không phải trả thuế cao.
Hoàn thuế tái xuất (non-used merchandise drawback) là hoàn thuế đối
với hàng hoá nhập khẩu để tái xuất. Hàng hoá nhập khẩu muốn đợc hởng hoàn
thuế này thì phải đợc xuất khẩu trong vong 3 năm kể từ ngày nhập khẩu. Nhà
nhập khẩu Mỹ không đợc làm thay đổi căn bản hàng nhập khẩu. Tuy nhiên,
trong Hiệp định;
+ Đánh thuế và áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu không phụ thuộc
vào bất cứ luật nào, áp phí và hạn chế lên dịch vụ của nớc đó trong khoảng thời
gian mà cơ quan này cho là thích hợp;
+ Đình hoãn, từ chối các quyền lợi hoặc hạn chế các u đãi đặc biệt theo các
Hiệp định tự do thơng mại;
+ Đi tới thoả thuận bắt buộc với nớc đối tác loại bỏ luật, chính sách hoặc
thực tiễn không phù hợp hoặc trao cho Mỹ các lợi ích phù hợp tơng đơng.
Thuế chống trợ giá (Counter-Vailing Duties-CVDs): Luật thuế chống trợ
giá định một khoản bồi thờng dới dạng thuế nhập khẩu để bù vào phần trợ giá
của sản phẩm nớc ngoài, mà việc bán sản phẩm đó ở Mỹ gây thiệt hại các nhà
sản xuất những mặt hàng giống và tơng tự ở Mỹ. Trong mọi trờng hợp, phần
trợ giá phải bù lại có thể do chính phủ nớc ngoài trực tiếp trả. Luật này cũng
14
áp dụng đối với loại trợ giá gián tiếp bị phát hiện sau khi kiểm tra theo luật
thuế trợ giá.
Bộ thơng mại, Uỷ ban Thơng mại quốc tế (ITC), và Tổng cục hải quan Mỹ
cùng có trách nhiệm trong việc thi hành luật chống bán phá giá và luật chống
trợ giá. Bộ Thơng mại chịu trách nhiệm quản lý chung về luật AD và CVD và
điều tra về việc phá giá hoặc trợ cấp của nớc ngoài đối với hàng hoá nhập
khẩu. ITC thì xác định liệu sự việc đã, hoặc có thể ảnh hởng đến hoạt động
sản xuất trong nớc hay cha, hoặc liệu một ngành sản xuất trong nớc có bị ảnh
hởng ngay từ khi mới phát triển do việc bán phá giá hoặc việc trợ cấp xuất
khẩu hay không. Tổng cục hải quan áp dụng AD và CVD khi những mức thuế
này đợc ban hành.
b). Quy trình áp dụng hai loại thuế trên
Tiến hành điều tra: Việc điều tra thờng đợc bắt đầu khi các nhà sản xuất
trong nớc hay các bên có liên quan nh Liên đoàn lao động hay Hiệp hội công
nghiệp có khiếu nại. Các bên khiếu nại phải nhanh chóng nộp đơn khiếu nại
thờng, Bộ Thơng mại sẽ đa ra đánh giá cuối cùng đối với cả hai luật thuế bù trừ và
chống phá giá, thời hạn này có thể kéo dài đến 135 ngày. Nếu đánh giá cuối cùng
của Bộ Thơng mại xác định không có vi phạm, quá trình điều tra sẽ kết thúc và
tiền nộp bảo lãnh và tiền đặt cọc sẽ đợc hoàn trả. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ
thơng mại là có vi phạm thì Uỷ ban thơng mại quốc tế sẽ phải xác định những thiệt
hại cuối cùng. Đánh giá cuối cùng của Uỷ ban thơng mại quốc tế phải đợc thực
hiện trong vòng 120 ngày sau khi Bộ thơng mại đa ra đánh giá sơ bộ hoặc sau 45
ngày khi Bộ thơng mại thông báo là có vi phạm.
Kết thúc điều tra: Nếu đánh giá cuối cùng của ITC khẳng định có vi phạm,
thì Cục hải quan sẽ thu thuế trên số tiền đặt cọc trong vòng 7 ngày sau khi có
xác nhận của ITC. Mức thuế cuối cùng phải nộp cho hàng hóa nhập khẩu có thể
cao hơn nhiều so với mức đặt cọc.
Theo yêu cầu của những bên có liên quan, Bộ thơng mại phải kiểm tra lại,
thờng là 12 tháng một lần mức trợ giá hoặc mức phá giá đối với hàng hóa bị yêu
cầu phải nộp thuế bù trừ và chống phá giá cha giải quyết xong.
Nếu không đồng ý với đánh giá cuối cùng của Bộ thơng mại và Uỷ ban th-
ơng mại quốc tế về các quyết định liên quan tới thuế chống phá giá hoặc thuế
trợ giá thì các bên liên quan có thể nộp đơn yêu cầu xử lại lên Toà án thơng mại
quốc tế của Mỹ tại New York.
2.3. Hàng rào phi thuế quan của Mỹ
2.3.1. Hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu là việc quản lý số lợng hàng hoá nhập khẩu trong một
thời hạn nhất định. Hạn ngạch đợc quy định bằng luật, hớng dẫn và các tuyên
bố theo tinh thần nội dung của một số luật cụ thể về vấn đề này. Đa phần hạn
ngạch nhập khẩu do Tổng cục Hải quan Mỹ quản lý. Hạn ngạch nhập khẩu của
Mỹ có thể chia thành 2 loại nh sau:
16
Hạn ngạch thuế quan (Tariff-rate quota): quy định số lợng hàng đợc nhập
vào với mức thuế thấp trong một thời gian nhất định. Không có giới hạn về lợng
một năm) trong mức hạn ngạch cho phép.
17
Hiệp định này quy định cơ chế tham khảo ý kiến giữa Mỹ và nớc ký kết.
Nếu nớc ký kết không tuân thủ, Mỹ giành quyền đơn phơng cắt bỏ hạn ngạch,
cấm nhập khẩu.
b). Hạn ngạch đối với hàng nông sản
Theo đạo luật Điều chỉnh Nông nghiệp 1993, Tổng thống đợc phép áp
dụng phí và hạn ngạch với hàng nông sản nhập khẩu gây tổn hại tới chơng trình
nông sản trong nớc của Bộ nông nghiệp. Tuy nhiên, mức phí không đợc quá
50% giá trị sản phẩm. Hạn ngạch cũng không đợc vợt quá 50% số lợng đã nhập
khẩu trong giai đoạn bị ảnh hởng. Hiện nay, Mỹ áp dụng cách khống chế này
cho các mặt hàng nh: Bông, sản phẩm sữa, lạc đờng tinh chế, sản phẩm có đờng.
Phí hạn ngạch loại này đợc Mỹ công bố trong phần XXII của danh bạ thuế quan
HTS.
Phomat, sữa và các sản phẩm sữa: Phomat và các sản phẩm phomat phải
tuân thủ các quy định của Cơ quan quản lý thực phẩm và dợc phẩm và Bộ Nông
nghiệp. Phần lớn việc nhập khẩu phomat phải có giấy phép nhập khẩu và xin
hạn ngạch của Bộ Nông nghiệp, Cục nông sản nớc ngoài.
Nhâp khẩu thịt: Mỹ sẽ áp dụng hạn ngạch khống chế việc nhập khẩu thịt
bò, cừu, bê, dê khi lợng nhập khẩu đã vợt quá lợng quy định cơ bản cho nhập
khẩu hàng năm ở mức 10% hoặc trên 10%. Mức hạn ngạch nhập khẩu bao giờ
cũng đợc quy định dới mức 1,193 tỷ pounds mỗi năm.
Hạn ngạch nhập khẩu đờng: Đối với hạn ngạch nhập khẩu đờng, hiện nay
Mỹ thực hiện theo quy chế mới (1990), quy định một lợng nhất định cho phép
nhập đờng vào Mỹ chịu mức thuế thấp. Lợng hạn ngạch này xác định trên cơ sở
mức sản xuất trong nớc hiện tại và nhu cầu tiêu thụ trong nớc. Số lợng đờng
nhập thuế thấp này đợc phân cho các nớc bạn hàng tuỳ theo khối lợng truyền
thống họ vẫn cung cấp cho Mỹ.
Cấm nhập khẩu một số loại hàng nông sản: Mỹ quy định cấm nhập khẩu
xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá. Quy định về nguồn gốc xuất xứ của
hàng hoá nhằm mục tiêu, trớc hết cho phép ngời mua cuối cùng ở Mỹ biết đợc
nớc sản xuất hàng hoá, từ đó quyết định mua hàng hoá nào. Để đảm bảo tính
đồng bộ và thuận lợi cho ngòi tiêu dùng Mỹ, Luật Hải quan Mỹ quy định mọi
hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ phải ghi xuất xứ bằng tiếng Anh. Ngoài ra việc quy
định về nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá bị quản lý bằng hạn ngạch theo quy
định hay theo thoả thuận song phơng hoặc đa phơng của Mỹ. Hàng hoá muốn
đợc hởng chế độ đãi ngộ nào thì phải đợc sản xuất tại nớc đợc hởng chế độ đãi
ngộ đó của Mỹ.
2.4.2. Quy định về ký mã hiệu
Luật Hải quan Mỹ quy định mỗi mặt hàng do nớc ngoài sản xuất phải đợc
ghi ký mã hiệu ở những vị trí dễ thấy, rõ ràng, khó tẩy xoá và thờng xuyên theo
nội dung của hàng hoá cho phép, cùng với tên tiếng Anh của nớc xuất xứ, để
cho ngời mua cuối cùng ở Mỹ biết tên của nớc xuất xứ, nơi hàng hoá đợc sản
xuất hoặc chế tạo, đồng thời tạo thuận lợi cho việc kiểm tra hàng hoá khi làm
thủ tục hải quan. Các hàng hóa khác đợc miễn không phải ghi ký mã hiệu trong
19
trờng hợp cụ thể là ngoại lệ đối với quy định này. Nếu hàng hoá hay container
không đợc đánh ký mã hiệu chính xác thì Hải quan sẽ đánh thuế ký mã hiệu t-
ơng đơng 10% giá trị hải quan của hàng hoá trừ khi hàng hoá đó đợc tái xuất, bị
phá huỷ hay đợc đánh ký mã hiệu lại cho chính xác dới sự giám sát của Hải
quan.
Thông thờng trên các thùng hàng xuất khẩu, các nhà xuất khẩu cần phải ghi
những ký mã hiệu sau: Tên ngời gửi hàng, nớc xuất xứ, trọng lợng, số kiện hàng
và kích cỡ của thùng đựng, cảng nhập hàng, nhãn hiệu đối với vật liệu nguy
hiểm và các dấu hiệu bốc dỡ. Trong đó tên nớc xuất xứ là quan trọng nhất khi
nhập hàng vào Mỹ.
Các cấp loại hàng sau đây đợc miễn ghi ký mã hiệu cho biết xuất xứ:
Hàng hoá không thể ghi kỹ mã hiệu đợc.
- Với hàng trang sức, hàng nghệ thuật theo kiểu của Mỹ phải ghi rõ nớc
xuất xứ.
d). Phạt vi phạm:
- Hàng nhập vào Mỹ không tuân thủ các qui định trên sẽ bị phạt theo mức
% của giá trị lô hàng.
- Hàng nhập không đáp ứng đúng yêu cầu về ghi mác, mã sẽ bị giữ lại ở
khu vực hải quan Mỹ cho tới khi ngời nhập khẩu thu xếp cho tái xuất trở lại,
phá huỷ hoặc khi hàng đợc xem là bỏ để Chính phủ định đoạt toàn bộ hoặc từng
phần.
- Phần 304(h) Luật thuế của Mỹ qui định ai cố tình vi phạm, cố tình che
dấu sẽ bị phạt tiền 5.000 USD hoặc bỏ tù dới 1 năm.
- Trờng hợp có sự phối hợp với nớc ngoài để thay đổi tẩy xoá mác, mã về
xuất xứ hàng hoá thì bị phạt 100.000 USD với lần đầu và các lần vi phạm sau đó
là 250.000 USD.
2.4.4. Quy định về quyền sở hữu trí tuệ
Điều 373 Luật thơng mại Mỹ quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chủ
yếu đợc sử dụng để ngăn chặn việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng hoá
nhập khẩu. Điều luật này xác định những hình thức xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ bất hợp pháp nh bằng sáng chế, thơng hiệu đã đăng ký, bản quyền, nguyên
tắc hoạt động của sản phẩm vi mạch bán dẫn. Ngoài ra điều này còn cấm các
hình thức cạnh tranh không lành mạnh và gian lận trong nhập khẩu và bán sản
phẩm ở Mỹ gây thiệt hại nghiêm trọng ngành công nghiệp trong nớc.
Bằng sáng chế: Bằng sáng chế đợc bảo hộ trong vòng 17 năm, ngăn chặn
bất cứ ai làm, sử dụng hoặc bán các sáng chế hoặc quy trình đã đợc cấp bằng.
Toà án Mỹ cùng với những quy định pháp luật nghiêm ngặt, thờng đa ra các
21
mức phạt bồi thờng rất nặng nề cho việc vi phạm bằng sáng chế này, đặc biệt là
đối các vụ nhập khẩu có vi phạm.
Nhãn hiệu: Hàng hoá mang nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chớc một nhãn
1975 đến cuối thập kỷ 80 là không có gì. Kể cả từ sau Đại hội Đảng cộng sản
Việt Nam lần thứ 6 (12/1986), Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới. Mặc dù
tại Đại hội Đảng VI, Việt Nam đã có sự thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại
22
với Mỹ khi đề ra chính sách tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết các vấn đề
nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiên quan hệ với Mỹ vì lợi ích
hòa bình ổn định ở Đông Nam á, nhng quan hệ Việt Nam-Mỹ vẫn cha có
nhiều thay đổi lớn.
Nh vậy chính sách xuất nhập khẩu thời kỳ này Mỹ áp dụng đối với Việt Nam là
cấm xuất khẩu hàng hoá sang Việt Nam và cấm nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam,
điều đó có nghĩa là hai nớc không có quan hệ buôn bán với nhau. Tuy nhiên theo
số liệu thống kê của Việt Nam thì xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ thời kỳ 1986
1989 hầu nh không có gì nhng về nhập khẩu mặc dù bị cấm vận chặt chẽ song
hàng nhập khẩu từ Mỹ giai đoạn này đạt giá trị gần 5 triệu USD.
Quan hệ Việt Mỹ bắt đầu có những thay đổi tích cực kể từ khi ngoại tr-
ởng Mỹ James Baker tuyên bố Mỹ trực tiếp đối thoại với Việt Nam. Ngày
6/8/1990 đối thoại Việt-Mỹ vòng một giữa đại sứ Trịnh Xuân Lãng và phó trợ lý
ngoại trởng K.Quyn về quan hệ Việt-Mỹ. Tháng 3/1992 trợ lý ngoại trởng Mỹ,
R. Solomon thăm nớc ta tiến hành cuộc đàm phán Việt-Mỹ cao nhất từ trớc đến
nay. Sau đó, Oa-sinh-tơn tuyên bố Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 3 triệu USD để
đáp lại sự hợp tác ngày càng tăng của Việt Nam trong vấn đề POW/MIA. Đến
tháng 4, Mỹ cho phép mở đờng bu chính viễn thông trực tiếp với nớc ta, bãi bỏ
các hạn chế đối với các tổ chức Phi chính phủ vào Việt Nam và cho phép xuất
sang các sản phẩm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con ngời. Ngày 14/12/1992,
trớc sức ép mạnh mẽ của giới kinh doanh và các công ty Mỹ, tổng thống
G.Bush tuyên bố cho phép các công ty và giới kinh doanh đợc vào Việt Nam
thăm dò, tìm hiểu khả năng làm ăn và mở văn phòng. Tuy nhiên, các hợp đồng
chỉ đợc thực hiện sau khi bãi bỏ cấm vận.
Đối với vấn đề MIA (vấn đề ngời Mỹ mất tích), một vấn đề thu hút quan tâm
trong quan hệ kinh tế hai nớc, góp phần thúc đẩy quá trình bình thờng hóa
quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ.
2. Chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với Việt Nam
Với quyết định chính thức bãi bỏ lệnh cấm vận ngày 3/2/1994 của tổng
thống Mỹ Bill Clinton theo đó cho phép các hoạt động giao dịch tài chính, th-
ơng mại và các giao dịch khác với Việt Nam và công dân Việt Nam. Cùng với
việc bãi bỏ lệnh cấm vận, địa vị của Việt Nam theo các quy chế kiểm soát xuất
khẩu của Mỹ cũng thay đổi. Trớc đó, Việt Nam là một trong ba nớc (Việt Nam,
Cu ba, Bắc Triều Tiên) đợc Mỹ xếp vào nhóm Z tức là nhóm nớc bị cấm vận
buôn bán hoàn toàn. Kể từ ngày 3/2/1994, các quy chế xuất khẩu của Mỹ đã đ-
ợc sửa đổi để xếp Việt Nam vào nhóm nớc Y là nhóm nớc ít hạn chế thơng mại
hơn gồm có các nớc thuộc khối Vacsava cũ, Anbani, Mông cổ, Lào, Campuchia.
Bộ vận tải và Bộ thơng mại Mỹ đã bãi bỏ lệnh cấm tầu và máy bay Mỹ vận
chuyển hàng hóa sang Việt Nam, đồng thời cho phép tầu mang cờ Việt Nam
vào cảng của Mỹ.
24
Ngày 11/7/1995 đã đi vào lịch sử hai nớc khi Tổng thống Mỹ B. Clintơn
tuyên bố bình thờng hóa quan hệ với Việt Nam. ý nghĩa của việc bình thờng
hóa quan hệ đối với Việt Nam:
Thứ nhất, giúp ta phá đợc thế bao vây cô lập mà Mỹ tiến hành đối với ta từ sau
năm 1975, thực hiện thành công nhiệm vụ đại hội VII đề ra thực hiện bình thờng
hóa quan hệ với Mỹ và Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nớc trên thế giới
Thứ hai, lần đầu tiên kể từ khi ta tuyên bố độc lập, nớc ta có quan hệ với tất cả
các nớc lớn trên thế giới, tạo cho ta môi trờng hòa bình, ổn định nhất từ trớc tới nay
để ta thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nớc.
Thứ ba, bình thờng hóa hoàn toàn quan hệ hai nớc tạo môi trờng thuận lợi
hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trờng Mỹ.
Về phía Mỹ, bình thờng hóa quan hệ giúp Mỹ thực hiện đợc những mục tiêu
của mình: