DỰ BÁO VỀ TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU KHI GIA NHẬP
WTO
3.1. Định hướng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU
3.1.1. Phương pháp phân tích
3.1.1.1. Mục đích phân tích
Việc đánh giá triển vọng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU
nhằm trả lời 2 câu hỏi sau: Sự thay đổi về cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của
Việt Nam sang thị trường EU từ năm 2008 - 2010? và Việt Nam cần điều chỉnh cơ cấu
mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất từ sự biến
động về nhu cầu thủy sản của thị trường EU?
Để trả lời hai câu hỏi trên, ngoài việc dựa vào phân tích thực trạng xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU, đồng thời dựa vào kết quả dự báo xu
hướng nhập khẩu từng mặt hàng thủy sản của EU trong giai đoạn 2008 – 2010, tác giả
sẽ dự báo định lượng về sản lượng xuất khẩu từng mặt hàng thủy sản của Việt Nam
trong thời gian tới. Để từ đó đưa ra các kiến nghị cho các doanh nghiệp xuất khẩu
thuỷ sản Việt Nam cần thay đổi cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, thích ứng kịp thời với
sự biến chuyển về xu hướng tiêu dùng thuỷ sản mới của EU, đồng thời đưa kiến nghị
với Bộ NN & PTNT cần có chính sách định hướng mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam vào EU trong giai đoạn tiếp theo.
3.1.1.2. Mô hình sử dụng
Số liệu được thu thập bao gồm:
• Giá trị xuất khẩu thuỷ sản nói chung của Việt Nam vào thị trường EU từ
năm 2000 – 2007, đơn vị: tấn
• Giá trị xuất khẩu thuỷ sản đối với ba mặt hàng quan trọng của Việt Nam
vào thị trường EU từ năm 2000 – 2007, đó là mặt hàng cá tươi và đông lạnh các loại,
mặt hàng tôm đông lạnh và mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh, đơn vị: tấn
Mô hình dự báo được thực hiện dựa trên giả thiết các yếu tố khác không đổi.
Bảng 3.1. Sản lượng xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản của Việt Nam
sang thị trường EU giai đoạn 2000 – 2007 (đơn vị: tấn)
Xuất khẩu chung
trường EU giai đoạn 2008 – 2010 tăng trung bình 130 (nghìn tấn)/năm, từ 386 (nghìn
tấn) năm 2008 đến 631 (nghìn tấn) vào năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân
28%/năm.
Bảng 3.2. Dự báo sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2010 (đơn vị: tấn)
N m ă
M tặ
h ngà
Năm 2008 2009 2010
Sản lượng dự báo (tấn) 386.054,6 501.065,8 631.800,2
Với mức tăng sản lượng xuất khẩu được dự báo trong bảng trên, thị trường EU
trong giai đoạn tới vẫn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam.
3.1.2.2. Mặt hàng tôm đông lạnh
Sản lượng tôm xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 sang các thị trường
1
đạt
161,3 (nghìn tấn), trong đó thị trường Nhật Bản là thị trường nhập khẩu tôm đông
lạnh lớn nhất của Việt Nam với 56,4 (nghìn tấn), thứ hai là Hoa Kỳ với 40,4 (nghìn
tấn). Thị trường EU xếp vị trí thứ ba đạt 21,6 (nghìn tấn), sản lượng này chỉ bằng
5
2
lượng tôm đông lạnh xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và bằng
2
1
đối với thị
trường Hoa Kỳ. Như vậy, mặt hàng tôm đông lạnh của Việt Nam hiện nay vẫn tập
trung chủ yếu vào thị trường Nhật Bản và Hoa Kỳ, thị trường EU chỉ chiếm một thị
phần tương đối thấp đối với mặt hàng này, sản lượng xuất khẩu tôm đông lạnh của
Việt Nam sang EU trong giai đoạn 2008 – 2010 được dự báo là ít có sự biến đổi, sản
lượng dự báo cụ thể được thực hiện ngay sau đây.
Xu hướng xuất khẩu các mặt hàng cá tươi và đông lạnh của Việt Nam sang thị
trường EU tăng với tốc độ rất lớn đạt trung bình 32%/năm và sản lượng tăng lên bình
quân hàng năm là 91 (nghìn tấn) trong giai đoạn 2008 - 2010. Mặt hàng cá tươi và đông
lạnh vẫn chiếm vị trí cao trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU,
điều này đã phát huy thế mạnh trong nuôi trồng và khai thác thủy sản của Việt Nam, do
Việt Nam có diện tích nuôi cá rộng lớn, sản lượng thu hoạch hàng năm cao. Dự báo
trong năm 2008 sản lượng xuất khẩu mặt hàng này đạt 245,4 (nghìn tấn), chiếm 64%
tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU, trong khi đó, sản
lượng xuất khẩu tôm chỉ chiếm 5,7%. Dự báo tới năm 2010, thị phần của mặt hàng cá
tươi và đông lạnh các loại sẽ tăng lên, đạt 67,8%, gấp 14 lần so với thị phần của mặt
hàng tôm đông lạnh (chỉ chiếm 4,8%) trong tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam sang thị trường EU.
3.1.2.4. Mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh
Dựa vào số liệu thống kê sản lượng xuất khẩu mặt hàng mực và bạch tuộc của
Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2007, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để dự báo dựa
trên 4 dạng hàm, trong đó, dạng hàm tăng trưởng có SE nhỏ nhất, vậy kết quả dự báo
của hàm này được sử dụng.
Bảng 3.5. Dự báo sản lượng xuất khẩu mực và bạch tuộc đông lạnh
sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2010 (đơn vị: tấn)
Năm 2008 2009 2010
Sản lượng dự báo (tấn) 32.937 40.874 50.722
Có thể thấy, mực và bạch tuộc là mặt hàng có sản lượng xuất khẩu tăng khá
nhanh sau mặt hàng cá đông lạnh sang thị trường EU. Dự báo trong năm 2008, mặt
hàng mực và bạch tuộc đông lạnh sẽ đạt sản lượng xuất khẩu là gần 33 (nghìn tấn),
tăng 6,4 (nghìn tấn) so với năm 2007. Xu hướng tăng bình quân trong giai đoạn 2008
– 2010 là khoảng 8,1 (nghìn tấn/năm), đạt tốc độ 24,1%/năm. Đây là xu hướng tăng
trưởng khá nhanh của mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh của Việt Nam sang EU,
dự báo vào năm 2010, sản lượng xuất khẩu sẽ đạt 50,7 (nghìn tấn), chiếm 8% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU, thị phần này sẽ hơn 1,6 lần so
với mặt hàng tôm đông lạnh và chỉ bằng
đông lạnh các loại
245.414,0 329.227,0 427.784,0 63,6% 65,7% 67,8%
Mặt hàng tôm đông lạnh 22.128,5 25.943,3 30.415,6 5,7% 5,2% 4,8%
Mặt hàng mực và bạch
tuộc đông lạnh
32.937,0 40.874,0 50.722,0 8,5% 8,2% 8,0%
Dựa vào bảng tỷ trọng các mặt hàng trên, tác giả đưa ra các phân tích sau về cơ
cấu mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU trong giai đoạn tới.
Thứ nhất, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường xuất khẩu mặt hàng cá tươi và
đông lạnh các loại sang thị trường EU. Thị trường EU có nhu cầu nhập khẩu rất lớn
đối với các loại sản phẩm thủy sản từ cá, đối với các sản phẩm từ cá nước ngọt được
người tiêu dùng EU rất ưu chuộng, trong đó có các loài cá da trơn là một thế mạnh và
cũng là mặt hàng chủ lực của thủy sản Việt Nam. Do thị phần mặt hàng này của Việt
Nam tại thị trường EU rất thấp nên nguy cơ bị kiện bán phá giá có thể được loại trừ
trong giai đoạn tới, nên việc tiếp tục duy trì tốc độ và sản lượng xuất khẩu cao đối các
mặt hàng cá nước ngọt sang thị trường EU sẽ phát huy hết lợi thế của Việt Nam, đồng
thời duy trì được giá trị kim ngạch xuất khẩu do mặt hàng này mang lại, đạt được các
mục tiêu mà thủy sản Việt Nam đã đề ra.
Ngoài ra, trong giai đoạn tới nhu cầu nhập khẩu mặt hàng cá ngừ đại dương
tăng lên rất nhanh, với tốc độ tăng trung bình đạt 5% và vào năm 2010 dự báo sản
lượng nhập khẩu sẽ đạt 555,7 (nghìn tấn), đây là mặt hàng mang lại giá trị xuất khẩu
cao, do đó, Việt Nam cần tăng cường xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường EU. Các
thị trường mà mặt hàng cá ngừ Việt Nam có thể thâm nhập trong thời gian tới là Anh,
Đức, Pháp, Italia và Tây Ban Nha, do các thị trường này có nhu cầu nhập khẩu cá ngừ
lớn nhất trong khối EU trong giai đoạn 2008 - 2010.
Thứ hai, Việt Nam cần chuyển dịch thị trường trong việc xuất khẩu mặt hàng
tôm đông lạnh. Theo dự báo về nhu cầu nhập khẩu tôm đông lạnh của EU, Hoa Kỳ và
Nhật Bản là 3 quốc gia và khu vực nhập khẩu tôm lớn nhất trên thế giới, theo đó, xu
hướng nhập khẩu tôm đông lạnh của 3 thị trường này có sự chuyển biến lớn theo hướng
giảm nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản và Hoa Kỳ, tăng nhập khẩu vào thị trường
Theo dự báo, mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu
sang thị trường EU tăng tương đối nhanh, điều này phù hợp với nhu cầu tăng nhập khẩu
mặt hàng này của EU trong thời gian tới.
.2. Một số giải pháp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong việc
kiểm soát chất lượng thủy sản nuôi trồng
2 Xin xem lại phần 2.2.4 – trang 46
Theo phân tích, rào cản kỹ thuật của EU đối với các sản phẩm thủy sản xuất
khẩu là nhân tố chính sản trở hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị
trường này. Mặc dù Chương trình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong nuôi trồng
thủy sản của Việt Nam đã được thực hiện gần 10 năm, song phạm vi hoạt động cũng
còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong giai đoạn gần đây, khi Bộ NN&PTNT cho phép các
doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản được phép nhập khẩu nguồn nguyên liệu
ở nước ngoài, phục vụ hoạt động sản xuất và xuất khẩu, thì hoạt động kiểm soát về chất
lượng nguyên liệu càng trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Đòi hỏi Bộ NN&PTNT phải
có giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình, kịp thời đáp ứng với yêu
cầu mới.
Nhằm giữ vững thị trường xuất khẩu, bảo vệ uy tín hàng thủy sản Việt Nam trên
thị trường EU, Bộ trưởng Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&PTNT) chỉ thị:
1. Uỷ ban Nhân dân các Tỉnh/Thành phố chỉ đạo các Sở Thuỷ sản/Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn có quản lý thuỷ sản:
a) Phổ biến rộng rãi và tổ chức thực hiện nghiêm túc Quyết định số
07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 của Bộ Thuỷ sản về ban hành danh mục hoá chất,
kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản; Chỉ đạo các cơ
quan Báo, Đài tại địa phương tuyên truyền về tác hại của các loại thuốc thú y, hoá chất,
kháng sinh trong Danh mục hạn chế sử dụng và cấm sử dụng theo quy định của Bộ
Thuỷ sản, đặc biệt là Malachite Green.
b) Chỉ đạo các Sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp dưới xây dựng vùng sản
xuất, chế biến nông sản thực phẩm, đặc biệt là sản xuất rau quả, chè và chăn nuôi gia
súc, gia cầm, thuỷ sản an toàn, xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm hợp vệ sinh,
bảo vệ môi trường.
nông sản thực phẩm an toàn; triển khai áp dụng GMP, GHP, HACCP cho các doanh
nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm thuộc ngành quản lý; tổ chức tập huấn, tuyên
truyền về các quy trình, quy phạm bảo đảm an toàn thực phẩm cho các hộ nông dân sản
xuất nông sản, thủy sản thực phẩm; thông tin, hướng dẫn người sản xuất về tiêu chuẩn
của các thị trường quốc tế.
b) Chỉ đạo thường xuyên giám sát, kiểm tra tồn dư hoá chất độc hại trong nông
sản, thuỷ sản thực phẩm trước khi thu hoạch, sơ chế, bảo quản ở các vùng sản xuất
nông sản thực phẩm, kiểm soát chặt chẽ giết mổ và vệ sinh thú y, vệ sinh thuỷ sản; xử
lý nghiêm các vi phạm.
Sản phẩm nông sản, thủy sản trước khi xuất khẩu hoặc đưa ra thị trường tiêu
thụ trong nước phải được chứng nhận bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
c) Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp
kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng đúng chất lượng, chủng loại, liều lượng, thời gian cách
ly của các loại vật tư nông nghiệp sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản, chế
biến. Xử lý nghiêm, kịp thời các vi phạm.
d) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy
định, quy chuẩn kỹ thuật vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất, bảo quản, chế biến
sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản.
3. Các Sở Thủy sản và Sở NN&PTNT có quản lý thủy sản:
Chỉ đạo cơ quan Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản trực
thuộc, triển khai đồng bộ các hoạt động:
a) Tổ chức đợt tổng kiểm tra điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh, đặc biệt là
kiểm soát các loại hóa chất, kháng sinh cấm đối với các đối tượng đã phân công cho
địa phương quản lý (tàu cá, cảng, chợ, đại lý, cơ sở sản xuất cung ứng thức ăn, thuốc
thú y, cơ sở nuôi trồng thủy sản). Phát hiện và xử phạt nghiêm các trường hợp vi
phạm.
b) Theo hướng dẫn nghiệp vụ và phương pháp của Chi cục Quản lý Chất
lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản vùng chủ trì tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn
về kiến thức đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh cho các cơ sở sản xuất kinh doanh
thuỷ sản có liên quan đến hoá chất, kháng sinh tại địa phương.
chế sử dụng của các tổ chức quốc tế, các nước nhập khẩu chủ yếu (EU, Mỹ, Nhật) để
trình Bộ ban hành các qui định bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thị trường.
f) Rà soát, sửa đổi Quy chế Kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong thuỷ
sản và sản phẩm động vật thuỷ sản nuôi ban hành theo Quyết định số 15/2002/QĐ-
BTS ngày 17/5/2002 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản và trình Bộ ban hành.
g) Tăng cường và tập trung năng lực thiết bị phân tích để đáp ứng yêu cầu kiểm
tra lô hàng thủy sản và kiểm soát các sản phẩm phục vụ nuôi trồng (hóa chất, thuốc thú
y, thức ăn, chế phẩm sinh học).
h) Hướng dẫn nghiệp vụ, phương pháp kiểm tra dư lượng hoá chất, kháng sinh
cấm sử dụng (đặc biệt là Malachite Green) cho cơ quan quản lý chất lượng và thú y
thuỷ sản các tỉnh, Thành phố để các cơ quan này thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm soát hoá
chất, kháng sinh bị cấm và hạn chế sử dụng trong nguyên liệu thủy sản nuôi trước khi
thu hoạch và thực hiện cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho toàn bộ nguyên liệu
theo từng đơn vị bè/ đầm nuôi.
i) Hướng dẫn nghiệp vụ và phương pháp cho cơ quan kiểm tra chất lượng và
thú y thuỷ sản các tỉnh, thành phố triển khai hoạt động mã hoá các cơ sở nuôi, cơ sở thu
gom, bảo quản, vận chuyển nguyên liệu để triển khai nhanh hoạt động kiểm tra công
nhận điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh đối với các cơ sở này, và phục vụ công tác truy
xuất nguồn gốc nguyên liệu của lô hàng.
j) Chỉ thực hiện kiểm tra cấp chứng thư các lô hàng xuất khẩu đi EU, Canada
và thị trường có yêu cầu tương đương có đủ giấy chứng nhận hoặc phiếu phân tích các
loại kháng sinh cấm và Malachite Green cho từng lô nguyên liệu sử dụng để sản xuất ra
lô hàng đó.
5. Vụ Khoa học Công nghệ, Vụ Nuôi thủy sản:
Có trách nhiệm phối hợp với Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú
y thuỷ sản trong việc phổ biến tác hại của các loại hóa chất, kháng sinh cấm và hạn chế
sử dụng, hướng dẫn các trường Đại học, Trung học và Dạy nghề liên quan đến nuôi
trồng và chế biến thủy sản cập nhật các qui định của Nhà nước và của Bộ Thủy sản về
hóa chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong thủy sản, và chỉ đạo các Viện
Nghiên cứu thuộc Bộ triển khai các đề tài nghiên cứu phòng trị bệnh thủy sản bao gồm
c) Chấp hành nghiêm túc hoạt động kiểm tra, kiểm soát của Chi cục Quản lý
Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản vùng và cơ quan kiểm tra chất lượng và
thú y thuỷ sản tỉnh/thành phố.
d) Sẵn sàng xuất trình tài liệu, giấy tờ liên quan đến vấn đề kiểm soát dư
lượng các chất độc hại trong hoạt động thuỷ sản khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
9. Các cơ sở sản xuất thức ăn cho thuỷ sản, thuốc, chế phẩm sinh học, vi sinh
vật, hoá chất sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản:
a) Nghiêm cấm việc nhập khẩu, tàng trữ, sản xuất, kinh doanh các hoá chất,
kháng sinh cấm sử dụng theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 của Bộ
Thuỷ sản, đặc biệt là Malachite Green .
b) Chỉ được sản xuất, cung ứng cho người nuôi những mặt hàng đã được cấp
chứng nhận được phép sản xuất và tiêu thụ.
c) Mỗi lô hàng trước khi đưa ra thị trường phải thực hiện chế độ ghi nhãn theo
Thông tư 03/2000/TT-BTS ngày 22/9/2000 của Bộ Thuỷ sản hướng dẫn thực hiện
Quyết định 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định
số 07/2005 ngày 24/2/2005 của Bộ Thuỷ sản và phải kèm theo phiếu kiểm tra dư lượng
kháng sinh.
d) Chấp hành nghiêm túc hoạt động kiểm tra, kiểm soát của Chi cục Quản lý
Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản vùng và cơ quan quản lý chất lượng và
thú y thủy sản các Tỉnh, Thành phố.
e) Sẵn sàng xuất trình tài liệu, giấy tờ liên quan đến qui định kiểm soát dư
lượng các chất độc hại trong hoạt động thuỷ sản khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
10. Chủ đầm, bè nuôi thuỷ sản:
a) Sử dụng thuốc, hoá chất đúng mục đích, không tùy tiện sử dụng thuốc, hoá
chất trong quá trình nuôi trồng thủy sản nếu chưa được hướng dẫn đầy đủ về thành
phần, tác dụng và qui trình sử dụng.
b) Nghiêm cấm sử dụng thuốc, hóa chất trong danh mục cấm sử dụng của Bộ
Thủy sản.
c) Phải lập sổ ghi chép chi tiết quá trình nuôi, đặc biệt là việc sử dụng thức ăn,
thuốc thú y và thông báo cho đại lý thu mua, doanh nghiệp về các thông tin liên quan
Quy hoạch phát triển nuôi trồng nông, thủy sản phải đảm bảo an toàn về sinh
thái, đa dạng về sinh học, phát triển nền nông nghiệp, thuỷ sản bền vững. Quy hoạch
phải đảm bảo phát triển nuôi trồng nông, thủy sản theo hướng phát triển bền vững, gắn
với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo sản xuất và ổn định đời sống nhân dân.
Quy hoạch phải phát huy được lợi thế tối đa sinh thái của cả nước, rà soát, bổ
sung hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết phát triển nuôi trồng nông, thủy
sản, kết hợp với việc lập các dự án đầu tư cụ thể. Gắn quy hoạch phát triển nuôi trồng
nông, thủy sản với quy hoạch phát triển thủy lợi và đê biển chung trên địa bàn. Trong
khi quy hoạch cần phối hợp với các ngành lâm nghiệp và thủy lợi xây dựng quy hoạch
hệ thống đê biển và các dự án đầu tư xây dựng đê biển, các dự án xây dựng mới, cải tạo
các hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng nông, thủy sản và chuyển dịch cơ cấu sản
xuất.
Định hướng điều chỉnh quy hoạch phải khai thác, phát huy được lợi thế các
vùng sinh thái theo hướng: Vùng sinh thái nước ngọt trồng lúa là chính, đồng thời đa
dạng hóa các sản phẩm khác để tăng nhanh hiệu quả kinh tế; Vùng sinh thái nước mặn
khai thác lợi thế để phát triển nuôi trồng thủy sản, đồng thời phải bảo vệ được diện tích
rừng ngập mặn; Vùng sinh thái vừa nước mặn, vừa nước ngọt thì phải đa dạng hóa cây
trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương.
3.3.3. Hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn của EU
Hàng nông, thủy sản Việt Nam muốn thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường EU
phải đạt tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường của thị
trường này. Để đáp ứng được các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU đối với
nhập khẩu hàng nông, thủy sản, các doanh nghiệp Việt Nam rất cần sự hỗ trợ của Nhà
nước về tài chính, thông tin, đào tạo nhân lực,...
a) Hỗ trợ tài chính
Các doanh nghiệp chế biến nông, thủy sản của Việt Nam phần lớn là doanh
nghiệp vừa và nhỏ nên rất hạn chế về vốn trong việc đổi mới công nghệ chế biến
(thay thế công nghệ cũ, lạc hậu bằng công nghệ hiện đại ít gây ô nhiễm môi
trường/công nghệ sạch) và đầu tư trang bị thiết bị xử lý môi trường. Chính vì vậy,
rất cần sự hỗ trợ tài chính của nhà nước. Nhà nước có nhiều biện pháp hỗ trợ doanh
thuyền và phương tiện sản xuất.
b) Hỗ trợ thông tin
Thông tin về thị trường xuất khẩu đóng vai trò quan trọng giúp cho các doanh
nghiệp biết được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng về các chủng loại sản phẩm để
đáp ứng. Đối với nông, thuỷ sản là hai nhóm hàng nhậy cảm với môi trường, thì việc
đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU đối với nhập khẩu hàng nông,
thuỷ sản là vấn đề mấu chốt trong xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường EU. Ngoài việc
chủ động tìm nguồn thông tin về thị trường, các quy định và tiêu chuẩn môi trường của
EU, các doanh nghiệp sản xuất và chế biến hàng nông, thuỷ sản xuất khẩu sang EU rất
cần sự hỗ trợ của nhà nước trong lĩnh vực này.
Tạo ra nhiều kênh thông tin tới các doanh nghiệp, như các ấn phẩm, trang Web,
trung tâm cung cấp thông tin,... Hiện nay, đã có không ít ấn phẩm và các trang Web của
các cơ quan hữu quan được xây dựng nhằm mục đích này (Bộ Công Thương, Bộ NN &
PTNT, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Vneconomy,...). Tuy nhiên, nội
dung các thông tin về thị trường chưa đầy đủ, chưa tập trung và không mang tính cập
nhật.
Các bộ, ngành chức năng (Bộ Công Thương mại, Bộ NN&PTNT) cần phối
hợp tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu cho các doanh nghiệp về những quy định và
tiêu chuẩn môi trường của EU đối với nhập khẩu hàng nông, thuỷ sản, đặc biệt tập
trung vào việc giải thích những quy định, tiêu chuẩn mới, đánh giá những ảnh hưởng
của chúng đối với hàng xuất khẩu (quy định bao bì và phế thải bao bì, quy định kiểm
tra thú y đối với thịt gia súc, gia cầm và thủy sản,v.v..., tiêu chuẩn quản lý môi trường
ISO 14001, EMAS). Thông qua các cuộc hội thảo này, các doanh nghiệp quan tâm tới
thị trường EU, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng nông, thủy sản
có được thông tin hữu ích về một trong những rào cản kỹ thuật khó vượt qua của thị
trường này. Trên cơ sở những thông tin có được, các doanh nghiệp điều chỉnh hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với yêu cầu và thị hiếu tiêu dùng trên
thị trường EU. Hiện nay, người tiêu dùng EU không chỉ ưa thích những sản phẩm có
chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, mà còn phải thân thiện với môi
trường.
ngoài nước.
Phối hợp với các chuyên gia của Uỷ ban Châu Âu và các cơ quan chuyên
trách về quy định, tiêu chuẩn môi trường của EU trong việc: (1) Cung cấp và cập nhật
thông tin về các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU; (2) Đánh giá tiêu chuẩn
môi trường của hàng nông, thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.
Nghiên cứu đưa vào các dự án trong khuôn khổ tài trợ của phía EU cho Việt
Nam vấn đề nâng cao năng lực cho các cơ quan đánh giá tiêu chuẩn môi trường trong
nước, tiến tới hợp tác với phía EU trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp các tiêu chuẩn
của phía Việt Nam hoặc thừa nhận kết quả đánh giá của các cơ quan tiêu chuẩn, chất
lượng của Việt Nam. Các cơ quan phụ trách các vấn đề kinh tế thương mại (như Bộ
Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt
Nam,v.v...) nên đề nghị vấn đề này với các cơ quan chức năng về bảo vệ môi trường
để cân nhắc trong quá trình xây dựng các dự án về nâng cao năng lực môi trường.
c) Hỗ trợ đào tạo nhân lực
Đầu tư cho việc đào tạo các chuyên gia về xây dựng và đánh giá tiêu chuẩn môi
trường, nâng cấp các thiết bị chuyên dụng phục vụ cho công tác đánh giá, đầu tư xây
dựng mới các trung tâm đánh giá chất lượng môi trường, khuyến khích các đơn vị tư
nhân cung cấp các dịch vụ đánh giá.
Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về kỹ thuật liên quan tới các tiêu chuẩn môi
trường cho các cán bộ trong lĩnh vực môi trường, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
những sản phẩm có ảnh hưởng tới môi trường. Bên cạnh các nội dung kỹ thuật, cũng
cần chú ý tới việc phổ biến và phân tích, đánh giá những ảnh hưởng của các quy định
về thương mại và môi trường trong WTO và trong các Hiệp định Đa phương về môi
trường.
Xây dựng các chương trình đào tạo thí điểm, áp dụng trên diện hẹp đối với các
doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến môi trường. Các chương
trình thí điểm một mặt góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng và ý thức trách nhiệm của
các doanh nghiệp về quản lý môi trường và kiểm soát các tác động của họ tới môi
trường, nâng cao nhận thức và hiểu biết về các tiêu chuẩn, đánh giá được những khó
khăn thực tế và những vấn đề nảy sinh khi áp dụng phổ biến các tiêu chuẩn môi trường,
sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nghiệp.
Đó là vai trò của nhà nước và những vấn đề quan trọng cần cân nhắc. Tuy
nhiên, để thực hiện được giải pháp này đòi hỏi phải có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan
nhà nước với nhau cũng như giữa các cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp. Ngoài
ra, sự trợ giúp (nghiên cứu, phân tích) của các cơ quan nghiên cứu cũng có ý nghĩa rất
lớn trong việc cung cấp đầu vào để xây dựng các phương án đàm phán thương mại.
3.3.5. Phối hợp giữa các Bộ ban ngành trong việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực
phẩm của thủy sản xuất khẩu
1. Bộ Y tế:
a) Chủ trì cùng các Bộ, cơ quan liên quan thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ
của Ban Chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm, chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc các
Bộ, ngành, địa phương thực hiện có hiệu quả công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực
phẩm.
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin và các Bộ, ngành liên quan xây
dựng kế hoạch và chỉ đạo tổ chức triển khai công tác thông tin, giáo dục truyền thông
về vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với từng đối tượng; quản lý chặt chẽ nội dung
thông tin, quảng cáo về vệ sinh an toàn thực phẩm.
c) Chỉ đạo thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn
thực phẩm theo quy định pháp luật cho tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm
có nguy cơ cao tiêu dùng trong nước và thực phẩm nhập khẩu; giám sát, kiểm tra, chấn
chỉnh việc thực hiện cấp Giấy chứng nhận của các địa phương, kiên quyết không để các
cơ sở không đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
d) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp thường
xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về vệ sinh an toàn thực
phẩm; kiểm soát ô nhiễm vi sinh vật và tồn dư hóa chất trong thực phẩm lưu thông trên
thị trường.
đ) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức tốt công tác phân tích,
dự báo nguy cơ, phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm
cho các tuyến từ Trung ương đến cơ sở; hướng dẫn triển khai việc áp dụng hệ thống
quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm: thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành vệ sinh tốt
vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực Bộ quản lý. Phối hợp với các cơ quan liên
quan truy nguyên nguồn gốc, xử lý nghiêm, triệt để các vi phạm.
b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo triển khai và kiểm tra việc
thực hiện các quy đinh bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại các chợ, siêu
thị, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống.
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và
các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án ngăn chặn tình trạng nhập lậu thực phẩm qua
biên giới; nghiên cứu đề xuất tổ chức cơ quan kiểm soát thực phẩm qua biên giới theo
hướng thống nhất một đầu mối, bảo đảm gọn nhẹ, hiệu quả trình Thủ tướng Chính phủ
vào quý III năm 2007.
4. Bộ Khoa học và Công nghệ:
a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan khẩn trương xây dựng và ban
hành đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và hội nhập
quốc tế.
b) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, rà soát các quy định quản lý liên quan
đến chất lượng, tiêu chuẩn và nhãn mác sản phẩm thực phẩm theo nguyên tắc bảo đảm
sự thống nhất, chặt chẽ và không chồng chéo.
5. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an theo chức năng và nhiệm vụ được giao:
a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan phát hiện, điều tra xử lý và hỗ
trợ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Chỉ đạo các lực lượng công an liên quan, bộ đội biên phòng phối hợp với lực
lượng hải quan và cơ quan của địa phương kiểm soát ngăn chặn việc nhập lậu thực
phẩm qua biên giới.
Đề xuất các chế tài, cơ chế, biện pháp xử lý các vi phạm pháp luật về vệ sinh an
toàn thực phẩm.
b) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham gia tuyên truyền giáo dục nâng
cao nhận thức và thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm
và các bệnh truyền qua thực phẩm cho đồng bào dân tộc khu vực đóng quân, vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo.
3.4.1. Xây dựng, đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất, kinh doanh
Đối với khai thác hải sản: Để sử dụng một lượng tàu thuyền đánh bắt xã bờ lên
tới gần 21 (nghìn chiếc) như hiện nay, nhu cầu về cán bộ tàu, thuyền (gồm thuyền trưởng,
thuyền phó, máy trưởng, máy phó), số cán bộ này cần được đào tạo mới hoặc bổ túc
nghiệp vụ để có đủ khả năng chỉ huy tàu, theo hướng chuyên nghiệp; bên cạnh đó số thuỷ
thủ cũng phải được tuyển chọn, đào tạo lại về nghiệp vụ là rất lớn để đáp ứng cho yêu
cầu khai thác. Trong quá trình đào tạo nên thực hiện cả trong và ngoài nước, một số tầu
đánh bắt khơi xa có thể thuê chuyên gia đánh cá giỏi ở các nước đến hướng dẫn và
chuyển giao nghiệp vụ khai thác và sử dụng các thiết bị đi biển;
Đối với nuôi trồng thuỷ sản, thực hiện đào tạo đủ lực lượng để bố trí hoàn thiện
hệ thống khuyến ngư trong các vùng trọng điểm nguyên liệu; nâng cao chất lượng cán
bộ kỹ thuật làm công tác giống để cung cấp giống có chất lượng cao cho nuôi trồng
thuỷ sản.
Đối với cán bộ quản lý và các doanh nghiệp, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán
bộ quản lý và kinh doanh ở các doanh nghiệp, nhằm đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển
của ngành theo hướng hội nhập. Quan tâm thích đáng đến việc đào tạo nghề theo hướng
chuyên môn hoá cho người lao động nghề cá; Bộ Thuỷ sản cần nhanh chóng tiêu chuẩn
hoá nghề nghiệp đối với công nhân trong các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến,
kinh doanh thuỷ sản,...
3.4.2. Tạo nguồn nguyên liệu ổn định
a) Trong nuôi trồng thuỷ sản: Nhanh chóng quy hoạch và đầu tư các vùng nuôi
trồng thuỷ sản tập trung theo quy mô công nghiệp với công nghệ tiên tiến theo mô hình
sinh thái bền vững tại các vùng trọng điểm nhằm tạo ra sản lượng nuôi trồng đủ lớn với
chất lượng nguyên liệu cao, giá cạnh tranh. Việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản sẽ được
hướng mạnh vào những mặt hàng có nhu cầu quốc tế và có giá trị xuất khẩu cao như:
tôm, cá biển (cá mú, cá vược, cá hồng, cá song...) và một số loài nhuyễn thể 2 mảnh
vỏ... Xây dựng hệ thống dịch vụ kỹ thuật, tuyển chọn, bồi dưỡng và cung ứng giống
chất lượng tốt sạch bệnh đạt hiệu quả cao. Đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến thức ăn
công nghiệp nhằm đảm bảo khoảng 80% thức ăn công nghiệp sản xuất trong nước để
đáp ứng nhu cầu nuôi trồng. Thường xuyên kiểm soát chất lượng môi trường vùng nước
a) Các giải pháp đẩy mạnh công tác thị trường
Các doanh nghiệp phải xây dựng bộ phận marketing bao gồm các cán bộ có
trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong nghiên cứu tình hình từng thị trường cụ
thể trên cơ sở đó hoạch định được chiến lược kinh doanh từ khâu đảm bảo nguyên liệu
sản xuất đến đầu tư chế biến nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị
trường, của khách hàng.
Đầu tư nghiên cứu tiếp tục mở rộng các thị trường trọng điểm EU, Nhật
Bản, Mỹ... Khi thuỷ sản của Việt Nam đã có vị trí vững chắc tại các thị trường này
thì việc mở rộng và phát triển thương mại thuỷ sản tại các thị trường khác sẽ không
quá khó khăn.
b) Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường
Xây dựng hệ thống thông tin một cách có hiệu quả từ nhiều kênh khác nhau
như: thu thập tại bàn, từ Internet, từ các thương vụ, cử đại diện ra nước ngoài... Làm
tốt công tác dự báo về cung, cầu, giá cả phục vụ cho các doanh nghiệp khi tham gia
vào thị trường quốc tế. Đa dạng hoá thị trường tránh việc lệ thuộc quá nhiều vào một
thị trường, phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra. Đẩy mạnh công tác quảng cáo, tiếp
thị hướng dẫn tiêu dùng, tích cực tham gia vào các hội chợ quốc tế nhằm quảng bá sản
phẩm ký kết được nhiều hợp đồng kinh doanh.
Nhìn chung, ngành thuỷ sản Việt Nam đã và đang thực hiện tốt tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình đó ngành đã liên tục điều chỉnh cơ chế quản lý
nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập, mặt khác đã có nhiều biện pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh của hàng thuỷ sản. Điều này, đã được chứng minh qua thị phần, kim ngạch
và tốc độ xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam những năm vừa qua. Điều đó chứng tỏ sự