mở đầu
Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đến nay, vấn đề hội nhập đã trở thành
một xu thế phát triển tất yếu của quan hệ kinh tế hiện đại với sự tham gia của hầu
hết các nền kinh tế trên thế giới và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Tuy
nhiên, xuất phát từ nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp và đang trong qúa trình
chuyển đổi cơ chế kinh tế, Việt Nam đã gặp phải không ít những vấn đề khó khăn,
thách thức.
Một trong những biện pháp để cải thiện những khó khăn này là chúng ta
phải không ngừng phát triển Thơng Mại Quốc tế đặc biệt là trong lĩnh vực nhập
khẩu. Nhập khẩu sẽ giúp cho một quốc gia tận dụng đợc khoa học, kỹ thuật, công
nghệ tiên tiến hiện đại của các nớc có nền công nghiệp phát triển và khai thác triệt
để tiềm năng, thế mạnh của nớc mình, đồng thời nhập khẩu cho phép bổ sung
những sản phẩm mà trong nớc cha sản xuất đợc hoặc sản xuất chúng không hiệu
quả.
Việt Nam là một nớc đang phát triển ở trình độ thấp do đó nền thơng mại n-
ớc ta hiện nay, về cơ bản là nền thơng mại nhỏ và tơng ứng với nó là hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật ở trình độ thấp, hơn nữa Đảng và Nhà nớc đã đặt ra chỉ tiêu phấn
đấu đến năm 2020 đa nớc ta trở thành nớc công nghiệp hiện đại. Vậy trớc hết
chúng ta phải phát triển các ngành công nghiệp nhẹ mà đặc điểm của ngành công
nghiệp này là cần nhiều các phụ liệu trong đó có hoá chất. Trong khi đó ngành
công nghiệp này ở nớc ta hầu nh cha phát triển.Vì vậy để đáp ứng nhu cầu này
không còn cách nào khác là chúng ta phải nhập khẩu từ nớc ngoài.
Nhận thức đợc cơ hội quan trọng này, ngày15 tháng7 năm 2002 Công ty
TNHH Thơng Mại & Sản Xuất Việt Trung đợc thành lâp. Hoạt động kinh doanh
chủ yếu của công ty là mua bán, xuất nhập khẩu hoá chất, đại lý mua bán ký gửi
hàng hoá. Trong gần hai năm hoạt động, Công ty TNHH Thơng Mại & Sản Xuất
Việt Trung đã đạt đợc những thành quả nhất định, khẳng định đợc vị trí của mình
trong lĩnh vực hoá chất. Nhng đứng trớc thực tế hiện nay. Trên thị trờng có rất
nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh, cả trong nớc và quốc tế. Hơn nữa cộng với sự thiếu
kinh nghiệm do mới thành lập và hạn chế về vốn kinh doanh. Để đứng vững trên thị
trờng đòi hỏi hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty phải không ngừng đợc
phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nớc.
1.2. Nguồn gốc của Th ơng Mại Quốc tế.
Thơng Mại Quốc tế là sự trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các nớc thông qua
mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội phản ánh sự phụ
thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những ngời sản xuất hàng hoá riêng biệt của từng
quốc gia.
Thơng Mại Quốc tế đợc hình thành do:
Sự phân công lao động: Có thể nói nhu cầu trao đổi xuất hiện từ thời cổ đại
nhng chỉ từ khi ra đời nền sản xuất hàng hoá t bản chủ nghĩa mới dẫn đến sự phá vỡ
2
tính chất khép kín của từng đơn vị kinh tế trong từng quốc gia và của từng nớc. Tiền
đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội. Với tiến bộ khoa học kỹ
thuật, phạm vi chuyên môn hoá ngày càng tăng, số sản phẩm và dịch vụ để thoả
mãn nhu cầu của con ngời ngày một dồi dào sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc
gia ngày càng tăng.
Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các nớc Những nớc có điều kiện tài
nguyên thiên nhiên khác nhau thì sản xuất ra các loại sản phẩm khác nhau.
Do sự chênh lệch về chi phí cơ hội của hàng hoá giữa các nớc. Do đó quyết
định đến sự khác biệt về chi phí tơng đối để làm ra các mặt hàng.
Do sự khác biệt về tính phong phú, giá cả tơng đối và quyền sở hữu các yếu
tố sản xuất, việc đó dẫn đến sự khác biệt về giá cả tơng đối của hàng hoá sau đó sẽ
đợc chuyển thành sự khác biệt về giá cả tuyệt đối của hàng hoá. Sự khác biệt về giá
cả tuyệt đối của hàng hoá giữa hai nớc đây chính là nguyên nhân trực tiếp cho ra
đời Thơng Mại Quốc tế.
Do sự khác biệt về sở thích và mức cầu. Điều đó đợc thể hiện rất rõ bằng
những sản phẩm cụ thể ở Việt Nam mặc dù có những sản phẩm trong nớc có thể đ-
ợc đánh giá là tốt bằng hoặc thậm trí là tốt hơn hàng ngoại nhng nhiều ngời vẫn
chuộng hàng ngoại, vì vậy để thoả mãn nhu cầu này ngời ta sẽ phải tham gia vào
Thơng Mại Quốc tế.
Các lý thuyết th ơng mại quốc tế.
cơ bản nhất của lý thuyết cổ điển về Thơng mại quốc tế là ở chỗ nó đợc xây dựng
trên cơ sở học thuyết về giá trị lao động, theo đó lao động là yếu tố sản xuất duy
nhất và đồng nhất trong tất cả các ngành sản xuất.
Lý thuyết Heckscher - Olin (H-O)
Lý thuyết H-O đợc xây dựng trên hai khái niệm cơ bản là hàm lợng (hay
mức độ sử dụng) của các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố.
Một mặt hàng đợc coi là sử dụng nhiều một cách tơng đối về lao động nếu tỷ
lệ về lợng lao động và các yếu tố khác (vốn, đất đai, công nghệ) sử dụng để sản
xuất một đơn vị mặt hàng đó lớn hơn tỷ lệ tơng ứng các yếu tố đó để sản xuất ra
các mặt hàng khác. Tơng tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và các yếu tố khác là lớn thì mặt
hàng đợc coi là có hàm lợng vốn cao hơn.
Một quốc gia đợc coi là dồi dào tơng đối về lao động (hay về vốn) nếu tỷ
giữa lao động (hay về vốn) và các yếu tố sản xuất khác của quốc gia đó lớn hơn tỷ
lệ tơng ứng của quốc gia khác.
Về bản chất, học thuyết H-O căn cứ vào sự khác biệt về tính phong phú và
giá cả tơng đối của các yếu tố sản xuất, là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về giá
cả tơng đối của hàng hoá giữa các quốc gia trớc khi có thơng mại để giải thích về
nguồn gốc của Thơng mại quốc tế. Sự khác biệt về giá cả tơng đối của các yếu tố
sản xuất và giá cả tơng đối của hàng hoá sau đó sẽ đợc chuyển thành sự khác biệt
về giá cả tuyệt đối của hàng hoá giữa hai nớc là nguyên nhân trực tiếp của Thuơng
mại quốc tế.
Học thuyết H-O đợc coi là học thuyết đại diện cho các học thuyết thuộc tr-
ờng phái tân cổ điển, học thuyết H-O là học thuyết kế thừa và phát triển của các lý
thuyết cổ điển.
Tiếp theo các lý thuyết cổ điển và tân cổ điển là các lý thuyết mới về Thơng
mại quốc tế nh: lý thuyết về khoảng cách công nghệ, lý thuyết chu kỳ sống của sản
phẩm, lý thuyết thơng mại nội bộ ngành
4
Tóm lại: trên đây là một số lý thuyết cơ bản để cho thấy sự ra đời và phát
triển của Thơng mại quốc tế.
thơng mại với trên 160 nớc và nền kinh tế: thiết lập quan hệ với các tổ chức tài
chính tiền tệ quốc tế: là thành viên của ASEAN, ASEM, APEC và hiện tham gia
đàm phán để gia nhập WTO vào năm 2005.
Mở rộng thị trờng xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nớc phát triển,
tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu ngân sách
Về kim ngạch xuất nhập khẩu.
Bảng 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 1990-2003
Đơn vị: triệu USD
Năm Kim ngạch xuất khẩu Kim ngạch nhập khẩu
1990 2404 2752,4
'1'
Nghị quyết của Đại hội VI, VII, VIII, IX của Đảng.
'2'
Chơng trình hoạt động của chính phủ thực hiện nghị quyết 07-NQ/TW
5
1991 2087,1 2338,1
1992 2580,7 2540,7
1993 2986 3924
1994 4054,3 5825,8
1995 5448,9 8155,4
1996 7255,7 11143,4
1997 9185 11592,3
1998 9361 11495
1999 11523 11636
2000 14748 15640
2001 15100 16000
2002 16706 19733
2003 19800 24900
(Nguồn: tổng cục thống kê)
Qua bảng trên cho ta thấy thơng mại quốc tế diễn ra ở Việt Nam qua các
hàng hoá.
Hàng hóa trao đổi trong Thơng mại quốc tế là hàng hoá vật chất, hàng hoá
dịch vụ trao đổi quốc tế về hàng hoá vật chất gọi là thơng mại hàng hoá quốc tế,
ở phạm vi quốc gia gọi là ngoại thơng hàng hoá vật chất.
Hàng hoá vật chất là những hàng hoá tồn tại dới dạng vật chất, định
lợng đợc, dự trữ đợc trong trao đổi, ngời mua và ngời bán mua bán với nhau quyền
sở hữu và sử dụng hàng hoá. Do sự cách biệt về địa lý, hàng hoá vật chất có sự di
chuyển qua biên giới từ nớc xuất khẩu sang nớc nhập khẩu. Cùng với các nghiệp vụ
mua, bán hàng hoá có cả dịch vụ kèm theo nh: Vận chuyển, bảo hành, bảo hiểm,
thanh toán quốc tế.
Trao đổi quốc tế về hàng hoá dịch vụ gọi là thơng mại dịch vụ quốc
tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ. Hàng hoá dịch vụ là những
hàng hoá tồn tại dới dạng phi vật chất, khó định lợng đợc, không dự trữ đợc. Quá
trình cung cấp diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ hàng hoá dịch vụ. Trong trao
đổi ngời bán và ngời mua mua bán với nhau quyền sử dụng hàng hoá dịch vụ. Do
có sự cách biệt về địa lý ngời cung cấp và ngời nhận dịch vụ, hàng hoá dịch vụ có
thể di chuyển hoặc không di chuyển qua biên giới.
Luật áp dụng trong thơng mại quốc tế là các tập quán quốc tế, các điều ớc
quốc tế, luật của nớc nhập khẩu, nớc xuất khẩu
Tiền tệ trong thơng mại quốc tế thờng không phải là tiền mặt mà tồn tại dới
hình thức là các phơng tiện thanh toán nh th chuyển tiền, điện chuyển tiền, hối
phiếu kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ và là ngoại tệ đối với ít nhất một bên.
Phơng thức thanh toán trong thơng mại quốc tế: phơng thức thanh toán là
cách thức ngời bán thực hiện để thu tiền và ngời mua thực hiện để trả tiền.Trong th-
ơng mại quốc tế có rất nhiều phơng thức thanh toán nh: phơng thức chuyển tiền,
phơng thức ghi sổ, phơng thức nhờ thu, phơng thức tín dụng chứng từ
Hàng hoá trong thơng mại quốc tế là hàng hoá phải đạt tiêu chuẩn của quốc
gia nớc xuất khẩu, nớc nhập khẩu và tiêu chuẩn quốc tế về hàng hoá đó.
Hàng hoá trong thơng mại quốc tế có sự các biệt về điều kiện địa lý do đó để
thực hiện hợp đồng cần phải vận chuyển qua nhiều phơng tiện vận chuyển và qua
Thơng mại quốc tế tạo điều kiện dịch chuyển công nghệ mới, phơng pháp tổ
chức quản lý kinh doanh mới giữa các quốc gia làm cho hoạt động kinh doanh có
hiệu quả cao.
Thơng mại quốc tế khuyến kích và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu t quốc tế.
Vì cùng với luồng vốn nớc ngoài vào thờng kèm theo kỹ thuật công nghệ mới, các
chuyên gia điều hành có kinh nghiệm tổ chức và quản lý.
Thơng mại quốc tế là vũ khí chống độc quyền, bởi vì chúng đòi hỏi các nhà
sản xuất trong nớc tăng cờng sức mạnh kinh tế để đối phó cạnh tranh với các nhà
sản xuất nớc ngoài.
Ngoài ra thơng mại quốc tế cũng góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối
ngoại, nâng cao vị thế và uy tín của quốc gia trên trờng quốc tế.
II Hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp.
1 Sự cần thiết của hoạt động nhập khẩu.
1.1 Khái niệm về nhập khẩu.
Nói đến Thơng mại quốc tế chúng ta không thể không nói đến nhập khẩu,
nhập khẩu là hoạt động gắn liền với Thơng mại quốc tế.
8
Theo quan điểm hiện nay, nhập khẩu là hoạt động mua hàng hoá đợc sản
xuất ở nớc ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nớc hoặc để tái xuất khẩu nhằm
mục đích thu lợi nhuận. Hoạt động nhập khẩu thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn
nhau giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với nền kinh tế thế giới.
Hàng hóa nhập khẩu có thể là hàng hoá hữu hình: nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị, lơng thực thực phẩm, các loại hàng tiêu dùng.
Hàng hoá nhập khẩu có thể là hàng hoá vô hình: các bí quyết công nghệ,
bằng sáng chế phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các thiết
bị lắp ráp máy móc, dịch vụ du lịch và nhiều loại hình dịch vụ khác.
1.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu.
1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân.
Nh ở trên ta đã nói nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của Thơng mại
quốc tế. Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và xuất
và thay thế nguồn nguyên vật liệu truyền thống bằng các nguyên vật liệu thay thế
có giá rẻ hơn, tạo ra tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình.
Thứ ba: Nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho
ngời lao động góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
Ta biết rằng tài nguyên thiên nhiên ở mỗi nớc khác nhau, có những loại tài
nguyên có ở nớc này nhng lại không có ở nớc khác trong khi đó để sản xuất ra một
loại sản phẩm cần rất nhiều nguyên vật liệu khác nhau do đó nhập khẩu sẽ giải
quyết đợc yếu tố đầu vào cho sản xuất.
Nhập khẩu giúp quốc gia giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho
ngời lao động, chúng ta nhập khẩu là nhập khẩu những loại nguyên vật liệu, máy
móc thiết bị phục vụ cho sản xuất do đó tạo thêm đợc công ăn việc làm cho ngời
lao động. Máy móc thiết bị mà chúng ta nhập khẩu là những máy móc thiết bị hiện
đại do đó làm tăng năng suất lao động giảm chi phí sản xuất từ đó lợi nhuận tăng
lên dẫn đến thu nhập của ngời lao động tăng lên. Vì vậy, nhập khẩu góp phần giảm
tỷ lệ thất nghiệp hạn chế đợc các tệ nạn xã hội bằng cách tạo ra thu nhập ổn định
cho ngời lao đông, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.
Thứ t : Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu nâng cao chất lợng
hàng xuất khẩu và tạo môi trờng thuận lợi cho xuất khẩu.
Ngoài ra, nhập khẩu còn tạo ra sự liên kết giữa nền kinh tế trong nớc và kinh
tế thế giới, tạo điều kiện cho sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, khai thác đ-
ợc lợi thế so sánh trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất quốc tế. Chuyên môn hoá
sản xuất quốc tế tạo ra cơ hội cho sự phát triển lực lợng sản xuất, hợp tác quốc tế là
điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất, khai thác đợc lợi thế nhờ qui mô sản xuất.
Giá thành sản phẩm cũng đợc giảm xuống, chất lợng sản phẩm đợc nâng cao. Hơn
nữa các quốc gia lại đạt đợc những lợi ích không nhỏ trong việc tận dụng lợi thế t-
ơng đối của mình.
1.2.2 Đối với doanh nghiệp nhập khẩu.
Doanh nghiệp nhập khẩu ở đây đợc xem xét dới hai hình thức đó là:
Doanh nghiệp thơng mại là: doanh nghiệp mua hàng về sau đó bán cho thị
trờng nội địa hoặc tái xuất khẩu, đối với doanh nghiệp này hàng hoá mua về cũng
khẩu đúng mặt hàng đăng ký. Đồng thời hoạt động nhập khẩu này phải phù hợp với
luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.
Đặc điểm của hình thức nhập khẩu trực tiếp là:
Khi sử dụng hình thức này, đòi hỏi các doanh nghiệp nhập khẩu phải nghiên
cứu kỹ thị trờng trong nớc và quốc tế, tính toán chính xác, tuân thủ đúng chính
sách, pháp luật quốc gia và luật pháp quốc tế. Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu
phải trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng, thực
hiện hợp đồng Và phải bỏ vốn để kinh doanh nhập khẩu. Vì vậy các cán bộ kinh
doanh nhập khẩu trực tiếp phải là ngời có kinh nghiệm, có kiến thức, không ngừng
học hỏi.
Trong hoạt động nhập khẩu trực tiếp ngời mua và ngời bán trực tiếp tiếp xúc
với nhau do đó dễ dàng dẫn đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu nhầm đáng tiếc,
giảm đợc chi phí trung gian (nhiều khi chi phí này rất lớn dẫn đến ngời kinh doanh
phải chia sẻ lợi nhuận), có điều kiện xâm nhập thị trờng.
11
Độ rủi ro của hình thức nhập khẩu trực tiếp cao hơn các hình thức nhập khẩu
khác. Vì vậy, để hạn chế rủi ro, trớc khi ký hợp đồng nhập khẩu trực tiếp hàng hoá
từ nớc ngoài về thông thờng chúng ta phải ký hợp đồng tiêu thụ hàng hoá trong nớc
trớc (đối với doanh nghiệp thơng mại), hoặc tính toán kỹ nhu cầu cho sản xuất sản
phẩm (đối với doanh nghiệp sản xuất).
2.2 Nhập khẩu uỷ thác.
Khái niệm: nhập khẩu uỷ thác là hoạt động giữa một đơn vị đặt hàng gọi là
bên uỷ thác giao cho đơn vị gọi là bên nhận uỷ thác, tiến hành nhập khẩu một số lô
hàng nhất định. Bên nhận uỷ thác phải ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu với
danh nghĩa của mình nhng bằng chi phí của bên uỷ thác.
Đặc điểm của hình thức nhập khẩu uỷ thác là:
Đối với hình thức này, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nhận uỷ thác sẽ
không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không cần quan tâm đến thị trờng
tiêu thụ cho hàng hoá mà chỉ cần đại diện cho bên uỷ thác tiến hành giao dịch, đàm
phán, ký kết hơp đồng, làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá cũng nh thay mặt bên uỷ
bên là doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp nhằm phối hợp kỹ năng để
cùng giao dịch và đề ra các chủ trơng, biện pháp có liên quan đến hoạt động kinh
doanh nhập khẩu, hớng hoạt động này sao cho có lợi cho tất cả các bên, cùng chia
lợi nhuận, cùng chịu lỗ.
Đặc điểm hình thức nhập khẩu liên doanh là:
Mỗi doanh nghiệp tham gia liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần
vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm mà mỗi bên phải gánh chịu tỷ lệ với số
vốn góp. Việc phân chia chi phí, nộp thuế hay chia lợi nhuận cũng theo tỷ lệ góp
vốn đã thoả thuận.
Trong liên doanh, doanh nghiệp đứng ra nhận hàng sẽ đợc tính kim ngạch
nhập khẩu nhng khi hàng về tiêu thụ chỉ đợc tính doanh số trên số hàng theo tỷ lệ
vốn góp.
Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp trong liên doanh phải ký hai
hợp đồng: hợp đồng với đối tác nớc ngoài, một hợp đồng liên doanh với doanh
nghiệp khác.
3 Các nhân tố ảnh h ởng tới hoạt động nhập khẩu.
3.1 Nhân tố chủ quan
Các nhân tố thuộc về môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp nh:
Trình độ quản lý: mọi hoạt động kinh doanh đều là sự kết hợp chặt chẽ của
con ngời và công việc. Nhng con ngời ở đây không thể hoạt động một cách độc lập,
mà họ phải hoạt động phối hợp với nhau mới có thể thực hiện đợc mục tiêu chung.
Qua đây cho ta thấy trình độ quản lý có ảnh hởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh
nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, nếu trình độ quản lý cao, công tác
quản lý tốt thì sự phối hợp của các đối tợng quản lý sẽ nhịp nhàng, từ đó tiết kiệm
đợc thời gian, tiền bạc và ngợc lại nếu trình độ quản lý kém thì sẽ không phát huy
tinh thần đoàn kết, sáng tạo của ngời lao động, do đó sẽ giảm hiệu quả sản xuất
kinh doanh và gián tiếp làm ảnh hởng tới hoạt động nhập khẩu.
Đội ngũ lao động: đội ngũ lao động có ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả của
hoạt động nhập khẩu, nếu nhiều lao động quá thì thời gian không làm việc của ngời
lao động nhiều. Hay nói cách khác, số lợng lao động d thừa so với khối lợng công
đợc số lợng cung, tức là cần xác định: khối lợng toàn bộ hàng hoá bán ra hiện nay
trên thị trờng để có kế hoạch nhập khẩu hợp lý. Từ những thông tin về những hàng
hoá đang bán, cần xác định xem những sản phẩm nào có thể thơng mại hoá đợc.
Ngời tiêu dùng hiện nay là ai, lý do mua hàng của khách hàng là gì? từ đó doanh
nghiệp có kế hoạch nhập khẩu.
Thị trờng đầu vào: một nhân tố nữa ảnh hởng tới hoạt động nhập khẩu của
doanh nghiệp là thị trờng đầu vào. Bởi vì thị trờng đầu vào quyết định đến khối l-
ợng mua của doanh nghiệp, nếu thị trờng đầu vào mà sẵn có thì hoạt động nhập
khẩu của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn và ngợc lại sẽ khó khăn hơn thậm chí còn
không thể thực hiện đợc hoạt động nhập khẩu.
14
Các nhân tố kinh tế đó là: tốc độ phát triển kinh tế và lạm phát. Nền kinh tế
đang ở giai đoạn hng thịnh, phát triển mạnh, tốc độ tăng trởng cao (thể hiện GDP)
sẽ tạo điều kiện cho gia tăng khối lợng và chất lợng hàng nhập khẩu. Còn lạm phát,
nó ảnh hởng trực tiếp tới giá cả hàng hoá trong nớc, do đó nó sẽ ảnh hởng trực tiếp
tới hoạt động nhập khẩu.
Tỷ giá hối đoái là: giá cả một đơn vị tiền tệ nớc này thể hiện bằng một số
đơn vị tiền tệ nớc kia. Hay tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa loại tiền tệ của
hai nớc với nhau. Tỷ giá hối đoái tăng tức là số lợng tiền nội địa đổi lấy một đơn vị
ngoại tệ tăng sẽ có tác dụng kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
Yếu tố chính trị: chẳng có doanh nghiệp nào dại gì mà lại đi nhập khẩu hàng
hoá của một quốc gia có yếu tố chính trị không ổn định vì nh vậy rủi ro đối với
hàng hoá của họ là rất cao hoặc yếu tố chính trị còn đợc thể hiện ở trên khía cạnh là
quan hệ giữa nớc nhập khẩu và nớc xuất khẩu. Khi mà hai nớc có quan hệ chính trị
tốt đẹp sẽ thúc đẩy hoạt động mua bán, do đó sẽ thúc đẩy xuất nhập khẩu.
Yếu tố tự nhiên, công nghệ: với một quốc gia cha phát triển thì họ mong
muốn nhập khẩu đợc máy móc công nghệ hiện đại, còn với một quốc gia phát triển
họ sẽ nhập khẩu nguyên liệu ở dạng thô về để sản xuất, một phần dùng để tiêu
dùng trong nớc, phần còn lại xuất lại cho nớc xuất khẩu.
Môi trờng văn hoá và phong tục tập quán: trên thế giới có rất nhiều nền văn
nhân tố ảnh hởng tới thị trờng nh: luật pháp, văn hoá
Nghiên cứu cầu và sự biến động của thị trờng. Phân tích cầu thị trờng đối
với nhà nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là một trong các yếu tố quyết
định tới giá nhập khẩu, giá đầu vào của kinh doanh nhập khẩu.
Phân tích cầu đòi hỏi:
Tìm hiểu xem ngời tiêu dùng hiện nay là ai. Họ đợc phân nhóm nh thế nào,
nhóm xã hội; nghề nghiệp
Nhịp điệu mua hàng, nghĩa là mức sôi động của thị trờng, xem xét thị trờng
mà doanh nghiệp hớng tới có nhiều ngời mua không?, họ đến từ những quốc gia
nào?, nếu thị trờng sôi động thì doanh nghiệp phải chấp nhận mức giá nhập khẩu
cao hơn.
Sản phẩm định kinh doanh hoặc đang kinh doanh đang ở giai đoạn nào của
chu kỳ sống của sản phẩm.
Lý do mua của những ngời cùng cảnh ngộ với mình là gì?, mua để kinh
doanh hay để tiêu dùng.
Trong những ngời mua đó, có những ai là mua với mục đích kinh doanh?
Nghiên cứu về giá cả hàng hóa trên thị trờng và sự biến động của giá cả.
Nghiên cứu về giá cả hàng hoá trên thị trờng thế giới là một vấn đề rất quan trọng,
đối với bất cứ một đơn vị kinh doanh nhập khẩu nào, đặc biệt là các đơn vị mới bắt
đầu kinh doanh, cha đủ mạng lới nghiên cứu cung cấp thông tin, cũng nh thiếu cán
bộ am hiểu công tác này. Gía cả hàng hoá trên thị trờng phản ánh quan hệ cung cầu
hàng hoá trên thị trờng thế giới. Và có ảnh hởng tới hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu.
Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với một số loại hàng hoá nhất định trên
thị trờng thế giới. Trong thực tiễn kinh doanh Thơng mại quốc tế có thể coi những
giá sau đây là giá quốc tế.
16
Đối với hàng hoá không có trung tâm giao dịch truyền thống trên thế giới,
thì có thể lấy giá của những nớc xuất khẩu hoặc những nớc nhập khẩu chủ yếu biểu
thị bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
đó có sự điều chỉnh thờng xuyên. Phơng pháp này thờng đợc thực hiện chủ yếu qua
trực quan và qua tiếp xúc với thơng nhân và ngời tiêu dùng. Đây là việc làm phức
tạp và tốn kém về chi phí hơn nhiều so với phơng pháp trớc và không phải ai cũng
đủ trình độ để làm đợc.
Do mức độ khó khăn, phức tạp nh vậy, phơng pháp này đòi hỏi phải xây
dựng một kế hoạch chi tiết để thực hiện.
17
Ph ơng pháp thử.
Phơng pháp thử là: phơng pháp áp dụng cho việc mua thử một loại sản phẩm
nào đó sau đó tiến hành bán cho khách hàng dùng thử để đánh giá chính xác về
chất lợng hàng hoá đã nhập khẩu hoặc qua chế biến, chế tạo trên cơ sở đó lập ra kế
hoạch kinh doanh cho đơn vị mình.
2 Lựa chọn đối tác giao dịch.
Việc nghiên cứu tình hình thị trờng giúp cho đơn vị kinh doanh lựa chọn thị
trờng, thời cơ thuận lợi, lựa chọn phơng thức mua bán và điều kiện giao dịch thích
hợp. Tuy nhiên trong nhiều trờng hợp, kết quả hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc
vào khách hàng. Trong cùng điều kiện nh nhau, việc giao dịch với khách hàng cụ
thể này thì thành công, với khách hàng khác thì bất lợi. Vì vậy, một nhiệm vụ quan
trọng của đơn vị kinh doanh trong giai đoạn chuẩn bị là lựa chọn khách hàng.
B ớc 1: Tiến hành điều tra khách hàng.
Để lựa chọn khách hàng, không nên căn cứ vào lời quảng cáo, tự giới thiệu,
mà cần tìm hiểu khách hàng về thái độ chính trị của thơng nhân, khả năng tài
chính, lĩnh vực kinh doanh và uy tín của họ trong kinh doanh.
Vậy để tiến hành điều tra khách hàng ngời ta thờng áp dụng hai phơng pháp
chủ yếu sau: điều tra qua tài liệu báo chí và điều tra tại chỗ.
B ớc 2: Căn cứ vào các chỉ tiêu để lựa chọn đối tác giao dịch nh: Tình hình
sản xuất kinh doanh của đối tác, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh, khả năng cung
cấp hàng hoá thờng xuyên của đối tác; Khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật;
Thái độ và quan điểm kinh doanh là chiếm lĩnh thị trờng hay cố gắng giành lấy độc
quyền về hàng hoá; Uy tín của bạn hàng.
Trong Thơng mại quốc tế, đang tồn tại nhiều phơng thức giao dịch, mỗi ph-
ơng thức giao dịch có đặc điểm và kỹ thuật tiến hành riêng. Căn cứ vào mặt dự định
nhập khẩu, đối tợng, thời gian giao dịch và năng lực của ngời tiến hành giao dịch,
mà doanh nghiệp chọn phơng thức giao dịch phù hợp. Dới đây là một số phơng
thức giao dịch cơ bản nhất.
Giao dịch trực tiếp: là phơng thức giao dịch mà ngời mua và ngời bán thoả
thuận, bàn bạc trực tiếp (hoặc thông qua th từ, điện tín )
Giao dịch gián tiếp: là giao dịch mà ngời mua và ngời bán giao dịch với
nhau thông qua trung gian. Những trung gian này có thể là môi giới hoặc đại lý.
Môi giới là những trung gian mua bán nhng không sở hữu hàng hoá, không bỏ vốn,
không chịu trách nhiệm vật chất nếu ngời mua hoặc ngời bán vi phạm thoả thuận.
Còn đại lý là những pháp nhân hoặc tự nhiên nhân đợc ngời uỷ thác giao cho thực
hiện một hay một số công việc, thay mặt cho ngời uỷ thác.
Buôn bán đối lu: là một phơng thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp
chặt chẽ với nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua, lợng hàng hoá dịch vụ trao
đổi với nhau có giá trị tơng đơng. Mục đích của xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ
không phải là thu về khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một lợng hàng hoá, dịch vụ
khác có giá trị tơng đơng.
Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá: sở giao dịch hàng hoá là một thị trờng
đặc biệt, tại đó thông qua những ngời môi giới do sở giao dịch chỉ định, ngời ta
19
mua bán các loại hàng hoá có khối lợng lớn, có tính chất đồng loạt, và phẩm chất
có thể thay thế đợc cho nhau.
Đấu thầu quốc tế: là một phơng thức mua hàng hoá mang tính chất đặc
biệt, trong đó ngời gọi thầu nêu trớc điều kiện mua hàng để ngời dự thầu báo giá,
những điều kiện về kỹ thuật, công nghệ của hàng hoá bán cùng một số điều kiện
khác. Ngời gọi thầu sẽ chọn mua của ngời nào có hàng hoá đáp ứng nhu cầu và giá
cả hợp lý.
Đấu giá quốc tế: là phơng thức bán hàng đặc biệt đợc tổ chức định kỳ hoặc
không định kỳ ở những địa điểm nhất định, tại đó ngời bán trng bày hàng hoá, ngời
Hợp đồng nhập khẩu là sự thoả thuận giữa những đơng sự có trụ sở kinh
doanh ở các nớc khác nhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ
chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là Bên nhập khẩu một tài sản nhất
định, gọi là hàng hoá; Bên Mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
Về hình thức của hợp đồng nhập khẩu, theo thông lệ quốc tế hợp đồng có
thể đợc thể thiện bằng văn bản, lời nói hoặc sự mặc nhiên, còn theo quy định của
pháp luật Việt Nam, hợp đồng phải đợc thoả thuận bằng văn bản.
Vậy tại sao Việt Nam chúng ta lại phải quy định hợp đồng phải đợc ký kết
bằng văn bản vì: trong kinh doanh Thơng mại quốc tế giữa các nớc với nhau, sự
khác nhau về chính trị, văn hoá, luật pháp, tôn giáo, tập quán. Điều này làm cho hai
bên rất dễ hiểu nhầm về nhau. Không chỉ vậy, hiểu nhầm về ngôn ngữ thống nhất
đã dùng trong văn bản hợp đồng. Mặt khác, dù đã bàn bạc, thoả thuận với nhau nh-
ng nếu không có hợp đồng thì nhiều khi vẫn bị các bên huỷ bỏ cam kết hoặc tuỳ
tiện suy nghĩ theo cách có lợi cho bản thân mình. Việc ký kết hợp đồng là việc cam
kết giàng buộc trách nhiệm mang tính chất pháp lý giữa đôi bên và nó là cơ sở duy
nhất để giải quyết tranh chấp sau này nếu có.
Về nội dung của hợp đồng có rất nhiều điều khoản. Tuỳ theo mặt hàng mua
bán giữa đôi bên. Song có 6 điều khoản đợc xem là bắt buộc với hợp đồng Thơng
mại quốc tế là: điều khoản tên hàng; điều khoản số lợng; điều khoản quy cách, chất
lợng; điều khoản giá cả; điều khoản địa điểm và thời gian, phơng thức giao nhận;
điều khoản về thanh toán.
5 Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Quy trình thực hiện hợp đồng sau khi đợc ký kết có thể đợc tóm tắt qua sơ
đồ sau:
Sơ đồ 1: Qui trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu
21
Xin giấy phép
(nếu cần)
Mở L/C
Đôn đốc giao
Về thời gian cấp phép: đối với hàng hoá cấm xuất nhập khẩu thì không quy
định thời gian, còn đối với hàng xuất nhập khẩu có điều kiện thì nhân viên thụ lý
hồ sơ phải trả lời sau 3 ngày đối với những hồ sơ cần sửa đổi bổ sung và những hồ
sơ không cấp phép. Nếu hồ sơ là hợp lệ thì phải cấp phép trong vòng 7 ngày.
B ớc 2: mở th tín dụng (L/C).
Nếu hợp đồng nhập khẩu qui định thanh toán bằng L/C thì sau khi ngời bán
thông báo đã sẵn sàng thì bên nhập khẩu phải mở L/C. Về mặt thời gian, nếu hợp
đồng không qui định gì thì phụ thuộc vào thời gian giao hàng thông thờng L/C đợc
mở vào khoảng 15-20 ngày trớc thời hạn giao hàng.
Trình tự mở L/C: chuẩn bị hồ sơ gồm: đơn xin mở L/C, bản sao hợp đồng
nhập khẩu đến Ngân hàng xin mở L/C.
B ớc 3: đôn đốc giao hàng.
Ngời nhập khẩu phải đôn đốc hớng dẫn ngời xuất khẩu làm nhiệm vụ giao
hàng kịp thời.
B ớc 4: thuê tàu lu cớc.
Việc thuê tàu chở hàng đợc tiến hành dựa vào các căn cứ sau: những điều
khoản của hợp đồng mua bán, đặc điểm hàng hoá mua bán và điều kiện vận tải. Và
22
ngời nhập khẩu tiến hành thuê tàu trong trờng hợp nhập khẩu theo điều kiện nhóm
E, F trong incoterms 2000.
Tuỳ theo đặc điểm khối lợng của hàng hoá nhập khẩu mà ngời ta có thể thuê
các loại tàu:
Tàu chợ: tàu chợ là tàu chạy thờng xuyên trên một tuyến đờng nhất định,
ghé qua những cảng nhất định theo một lịch trình định trớc.
Tàu chuyến: tàu chuyến là tàu kinh doanh chuyên chở hàng hoá trên biển
không theo một lịch trình định trớc. Nó thờng hoạt động chuyên chở hàng hoá
trong một khu vực địa lý nhất định và theo một yêu cầu của ngời thuê tàu.
Thuê tàu chuyến là ngời chủ tàu cho ngời chủ hàng thuê toàn bộ chiếc tàu để
chuyên chở một khối lợng hàng hoá nhất định, giữa hai hay nhiều cảng và đợc h-
ởng tiền cớc thuê tàu do hai bên thoả thuận.
Thực hiện các qui định của hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu: sau khi
kiểm tra giấy tờ, hàng hoá, hải quan quyết định có cho hàng hoá qua biên giới hay
không, hoặc qua với điều kiên chủ hàng phải thực hiện nghiêm chỉnh các quyết
định của hải quan. Nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Sau khi viêc thông quan đợc thông suốt, cơ quan hải quan sẽ thông báo nộp
thuế nhập khẩu. Doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế đúng số lợng và thời gian qui
định.
B ớc 7: tiếp nhận và kiểm tra hàng hoá.
Nhận hàng: có thể thực hiện trực tiếp hoặc uỷ thác đối với nhập khẩu hàng
hoá bằng đờng sắt. Còn nhận hàng với hãng tàu thì theo Nghị định 200/CP ngày
31/12/1993, mọi việc giao nhận hàng hoá đều phải uỷ thác qua cảng. Các cơ quan
vận tải, ga cảng phải có trách nhiệm tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu từ các phơng
tiện vận tải vào ra cảng, xếp dỡ, bảo quản, lu kho, lu bãi và giao hàng cho đơn vị
kinh doanh nhập khẩu hoặc giao cho đơn vị đặt hàng theo lệnh của đơn vị kinh
doanh nhập khẩu đã nhập hàng đó. Đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải ký kết hợp
đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải ga cảng về giao nhận hàng cuối cùng là thanh
toán chi phí.
Kiểm tra chất lợng hàng hoá: khi nhận hàng phải kiểm tra số lợng, chất lợng
hàng hoá thực giao, so sánh nó với số lợng và chất lợng trong các chứng từ hàng
hoá. Nếu thấy sai phạm thì phải báo ngay cho ngời xuất khẩu biết.
B ớc 8: thủ tục thanh toán: tuỳ theo điều khoản thanh toán trong hợp đồng
mà ngời ta tiến hành thanh toán.
Trong trờng hợp các bên thoả thuận với nhau sử dụng phơng thức thanh toán
tín dụng chứng từ, bên nhập khẩu cần kiểm tra kỹ lỡng bộ chứng từ nhận hàng do
bên xuất khẩu chuyển cho qua ngân hàng để tránh trờng hợp đã chấp nhận thanh
toán trong khi không nhận đợc hàng do sai sót của bộ chứng từ.
B ớc 9: khiếu nại (nếu có).
Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng nhập khẩu phát hiện thấy
hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát, thì cần lập hồ sơ khiếu nại
ngay để khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nai.
Tốc độ tăng, giảm
(%)
Nhập siêu
(triệu USD)
1990 2752,4 7,3 348,4
1991 2338,1 -15,1 251
1992 2540,7 8,7 -40
1993 3924 54,4 938
1994 5825,8 48,5 1771,5
1995 8155,4 40 2706,5
1996 11143,4 36,6 3887,7
1997 11592,3 4,0 2407,3
1998 11495 -0,8 2134
1999 11636 0,9 113
2000 15640 34,4 892
2001 16000 2,3 900
2002 19733 23,33 3027
2003 24900 26,18 5100
(nguồn: tổng cục thống kê)
25