Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu của công ty TNHH TM & ĐT Tuấn Linh - Pdf 10

Khóa luận Tốt Nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
2. TM & ĐT: Thương mại và Đầu tư
3. NSLĐ & LN: Năng suất lao động và Lợi nhuận
4. NXB: Nhà xuất bản
5. QTKDQT: Quản trị kinh doanh quốc tế
6. XD & XNK: Xây dựng và xuất nhập khẩu
7. LN: Lợi nhuận
8. NK: nhập khẩu
9. TSLN: Tỷ suất lợi nhuận
10. HQKD: Hiệu quả kinh doanh
11. VLĐ: Vốn lưu động
12. VCĐ: Vốn cố định
13. NNL: Nguồn nhân lực
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
11
Khóa luận Tốt Nghiệp
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH
Trang
I. BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1: Bảng tổng kết báo cáo nhân sự công ty giai đoạn 2003 – 2007.....44
Bảng 2: Số lượng NK hàng năm giai đoạn 2003 – 2007.............................49
Bảng 3: Bảng các chỉ tiêu LN, TSLN giai đoạn 2003 – 2007......................53
Bảng 4: Bảng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn..........................57
Bảng 5: Bảng các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động................................62
Bảng 6: Bảng các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận NK trong thời gian tới......77
II. HÌNH
Hình 1: cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý công ty TNHH
TM & ĐT Tuấn Linh...................................................................................45
Hình 2: Số lượng NK hàng năm giai đoạn 2003 – 2007.............................50

Công ty TNHH TM & ĐT Tuấn Linh là một doanh nghiệp kinh doanh
quốc tế chuyên nhập khẩu tấm nhôm vật liệu và phân phối trên thị trường Hà Nội
cũng như một số thị trường tại các tỉnh khác. Mặc dù đây là sản phẩm khá mới
mẻ, công ty lại được coi là đi đầu trong cung ứng sản phẩm cho thị trường, nhưng
cho tới nay, trong hoạt động nhập khẩu công ty Tuấn Linh còn tồn tại nhiều hạn
chế và chưa thực sự đạt hiệu quả cao, chưa đúng với tiềm năng và vị thế của công
ty. Xuất phát từ lý do trên, em lựa chọn đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp là:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu của công ty TNHH TM &
ĐT Tuấn Linh” nhằm đưa ra các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả hoạt động
nhập khẩu, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty.
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
33
Khóa luận Tốt Nghiệp
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động
cũng như thực trạng nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu của công ty trong
thời gian qua, đề tài đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động nhập khẩu, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
toàn công ty nói chung.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ vủa chuyên đề là:
- Hệ thống hóa lý luận về nhập khẩu, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
cũng như sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu của doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng hoạt động nhập khẩu, hiệu quả kinh doanh
nhập khẩu và thực trạng việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu của công ty trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu của công ty trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là vấn đề hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu của công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Tuấn Linh.
Phạm vi nghiên cứu chính là hoạt động nhập khẩu sản phẩm tấm nhôm vật

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHẬP KHẨU
1. Khái niệm nhập khẩu
Trong thời gian gần đây, khi vai trò của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế
ngày càng được khẳng định thì cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của hoạt
động ngoại thương. Xuất nhập khẩu hàng hóa trở thành một mảng quan trọng
trong hoạt động nói chung của cả nền kinh tế. Hai hoạt động chủ yếu là xuất khẩu
hàng hóa ra thị trường nước ngoài và nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về tiêu
thụ tại thị trường trong nước trở thành các hoạt động khá phổ biến. Cùng với xuất
khẩu, hoạt động nhập khẩu là các yếu tố cấu thành chính cho hoạt động ngoại
thương. Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh quốc tế, vượt ra khỏi phạm vi
biên giới quốc gia. Có thể nói, nhập khẩu chính là việc các công ty trong nước
mua hàng hóa của các nhà sản xuất, phân phối nước ngoài về tiêu thụ tại thị
trường nội địa nước mình, nhằm phục vụ những nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng
hoặc tái sản xuất mà nền sản xuất trong nước không đáp ứng được hoặc đáp ứng
chưa tốt nhu cầu đó. Trên cơ sở đó, tìm kiếm lợi nhuận cho mình. Hoạt động nhập
khẩu thể hiện mối liên hệ phụ thuộc, sự ràng buộc của nền kinh tế một nước với
nền kinh tế thế giới.
Như vậy, có thể nói rằng nhập khẩu là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ từ
các nhà sản xuất, cung ứng nước ngoài về phục vụ các nhu cầu trong nước. Điều
này góp phần làm cho chủng loại hàng hóa trên thị trường nội địa trở nên phong
phú và đa dạng, người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn nhiều loại hàng hóa hơn cho
nhu cầu của mình.
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
66
Khóa luận Tốt Nghiệp
2. Đặc điểm cơ bản và vai trò của hoạt động nhập khẩu
2.1 Đặc điểm cơ bản của hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh quốc tế, nó mang những đặc trưng
rất riêng so với kinh doanh nội địa. Những đặc điểm riêng này có tác động và ảnh
hưởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Các đặc

Về hệ thống pháp lý, hoạt động nhập khẩu chịu sự chi phối của nhiều hệ
thống pháp luật khác nhau. Do chủ thể của hoạt động nhập khẩu đến từ các quốc
gia khác nhau, nên hoạt động nhập khẩu chịu sự chi phối của luật nước người
mua, luật nước người bán, luật quốc tế, các tập quán thương mại… Các nguồn
luật này nhiều khi có sụ xung đột, mâu thuẫn nhau. Điều này thường mang lại
nhiều rủi ro cho các bên. Yêu cầu đặt ra là mỗi doanh nghiệp tham gia hoạt động
nhập khẩu phải lưu ý và nắm rõ điều này để lựa chọn được nguồn luật điều chỉnh
hợp đồng, tránh được các phát sinh không cần thiết.
Xuất phát từ đặc điểm hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia mà hoạt
động nhập khẩu mang những đặc điểm riêng nêu trên. Những đặc điểm này một
mặt mang lại cho các bên tham gia hoạt động nhập khẩu cả những cơ hội lớn
cũng như các rủi ro đáng kể.
2.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Trước hết, nhập khẩu giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chính phủ các quốc
gia có thể kiểm soát, điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các chính sách nhập
khẩu. Đối với các nghành cần khuyến khích phát triển, chính phủ có thể áp dụng
các biện pháp, chính sách nhập khẩu nhiều ưu đãi với những mặt hàng phục vụ
nghành đó. Đồng thời với những sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm
nghành đó sản xuất ra, chính phủ có thể áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu,
các biện pháp bảo hộ. Mặt khác, với những quốc gia đang hoặc kém phát triển, họ
ít có điều kiện nghiên cứu phát triển và triển khai công nghệ mới, hiện đại. Thông
qua hoạt động nhập khẩu, họ có thể có được những công nghệ mới, hiện đại, phục
vụ nền sản xuất trong nước, làm gia tăng năng suất cũng như khả năng cạnh tranh
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
88
Khóa luận Tốt Nghiệp
cho nền kinh tế quốc gia đó. Đồng thời cũng có thể đáp ứng được nhu cầu cho thị
trường trong nước, qua đó làm giảm sự lệ thuộc vào các nước khác.
Thứ hai, nhập khẩu góp phần làm nền kinh tế quốc gia phát triển ổn định,
cân đối. Mỗi quốc gia, dù giàu có và phát triển đến đâu cũng không thể tự sản

khẩu đã buộc các công ty nội địa cải tiến quy trình, công nghệ, cung cách làm
việc của mình để sản xuất được những sản phẩm có thể cạnh tranh. Điều này góp
phần làm thay đổi năng lực sản xuất của các công ty, của một nghành, từ đó làm
thay đổi năng lực sản xuất của cả nền kinh tế.
Thứ năm, nhập khẩu có tác động tích cực, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động nhập khẩu một mặt đảm bảo các yếu tố đầu vào sản xuất cho một số
nghành, một mặt làm thay đổi công nghệ, quy trình sản xuất. Điều đó cho phép
chúng ta sản xuất ra được những sản phẩm đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn kỹ
thuật của họ, là bước khởi đầu cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra thị trường
nước ngoài. Ngoài ra, trong nhiều chương trình hợp tác giữa các chính phủ, các tổ
chức nhà nước, khi chúng ta chấp nhận nhập khẩu hàng hóa của họ, họ cũng sẽ
chấp nhận nhập khẩu hàng hóa khác của ta. Khi đó, hoạt động nhập khẩu cũng đã
góp phần thúc đẩy và tác động tích cực tới hoạt động xuất khẩu.
3. Các hình thức nhập khẩu
Trong ngoại thương, các phương thức giao dịch mua bán hàng hóa khá
phong phú và đa dạng. Cùng với đó, hoạt động nhập khẩu cũng có khá nhiều hình
thức. Khi tham gia kinh doanh nhập khẩu, tùy thuộc vào năng lực tài chính của
doanh nghiệp, vào chủng loại và đặc tính hàng hóa, vào quan hệ giữa các bên mà
nhà nhập khẩu có thể lựa chọn cho mình các hình thức nhập khẩu phù hợp và đạt
hiệu quả. Hiện nay, các hình thức nhập khẩu có thể kể đến bao gồm: nhập khẩu
trực tiếp, nhập khẩu ủy thác,nhập khẩu hàng đổi hàng, nhập khẩu gia công, nhập
khẩu liên doanh.
Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu mà hai bên mua và bán trực
tiếp giao dịch với nhau, hàng hóa được nhà nhập khẩu mua trực tiếp từ nhà sản
xuất, cung ứng nước ngoài mà không qua trung gian. Theo đó, bên xuất khẩu trực
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
1010
Khóa luận Tốt Nghiệp
tiếp giao hàng cho bên nhập khẩu. Nhà nhập khẩu sẽ tự bỏ vốn để kinh doanh
nhập khẩu, tự thực hiện các công việc như tìm đối tác, đàm phán, ký kết hợp

Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu mà bên nhập khẩu cũng là bên
nhận gia công thực hiện nhập khẩu nguyên vật liệu hay bán thành phẩm từ bên
đặt gia công để tiến hành gia công hàng hóa theo hợp đồng gia công.
Nhập khẩu liên doanh là hình thức nhập khẩu trên cơ sở một liên kết kinh
tế. Liên kết này được hình thành một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp,
trong đó có ít nhất một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp. Liên kết
kinh tế này cùng phối hợp các kỹ năng để giao dịch, đưa ra biện pháp, chính sách,
đường lối để hoạt động nhập khẩu có lợi nhất cho tất cả các bên tham gia liên kết.
Hình thức này chứa đựng ít rủi ro hơn so với hình thức nhập khẩu trực tiếp, vì có
sự chia sẻ nghĩa vụ cho các bên tham gia liên kết, nhưng đồng thời mức lợi nhuận
cũng thấp hơn do có sự chia sẻ lợi ích.
II. HQKD NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm HQKD, HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp
1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tham gia vào hoạt động kinh tế, nói chung bất cứ đơn vị nào cũng hướng
tới mục tiêu lợi nhuận. Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng các doanh
nghiệp theo đuổi. Với một đồng vốn bỏ vào kinh doanh, ai cũng muốn nó mang
lại nhiều đồng lợi nhuận nhất. Muốn đạt được điều đó, các doanh nghiệp không
ngừng đầu tư cho nghiên cứu thị trường, thay đổi quy trình, công nghệ, cải tiến
sản phẩm, cắt giảm chi phí sản xuất, cũng như các chi phí liên quan… Tất cả
những điều đó, nói một cách khác là sự sắp xếp, hợp lý hóa quá trình sản xuất
kinh doanh. “Hiệu quả kinh doanh” là một thuật ngữ để đánh giá, xem xét mứ độ
hợp lý hóa quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Dưới nhiều góc độ khác nhau, có rất nhiều quan điểm, ý kiến về thuật ngữ
“hiệu quả kinh doanh” này. Có thể kể đến một số quan điểm sau đây:
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
1212
Khóa luận Tốt Nghiệp
Quan điểm thứ nhất cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được
trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”

trang 318.
2 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập 2,
trang 318
3 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập 2,
trang 318
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
1313
Khóa luận Tốt Nghiệp
của hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này cho thấy, với những hoạt động khác
nhau, với cùng một lượng vốn bỏ ra mà thu về cùng một lượng giá trị thì các hoạt
động kinh doanh đó đã có hiệu quả như nhau. Nhưng trên thực tế, điều này là
không chính xác. Quan điểm về hiệu quả kinh doanh này chưa thể hiện được vai
trò của các yếu tố khác như thời gian thu được kết quả, quy mô hoạt động… Đây
cũng chính là hạn chế của quan điểm này.
Quan điểm thứ tư cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh
mối liên hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí bỏ ra để đạt
kết quả đó, đồng thời phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất”
4
. Về cơ
bản, quan điểm này đã phản ánh được mối liên hệ bản chất về hiệu quả kinh
doanh giữa doanh thu và chi phí cũng như sự vận động của hai yếu tố này, đồng
thời còn phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Tuy
vậy, hạn chế của nó là chưa thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ giữa hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội.
Với bốn quan điểm trên về hiệu quả kinh doanh, chúng ta vẫn chưa tìm
được đáp án chung và chính xác nhất để nói về hiệu quả kinh doanh. Một cách
tổng quát, có thể nói rằng: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của
doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí
thấp nhất”

cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu đó.
Trên giác độ toàn xã hội, hoạt động nhập khẩu chỉ đạt được hiệu quả khi
kết quả thu về từ việc nhập khẩu hàng hóa của nhà cung cấp nước ngoài cao hơn
kết quả thu được nếu tiến hành sản xuất hàng hóa đó trong nước. nói cách khác,
hoạt động nhập khẩu đạt hiệu quả khi nó góp phần nâng cao hiệu quả xã hội, làm
tăng chất lượng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm.
Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là một phạm trù phức tạp, nó chịu tác dụng
của nhiều yếu tố và bao hàm nhiều nội dung hơn. Hoạt động nhập khẩu có hiệu
quả phải đồng thời mang lại lợi ích cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động và đảm
bảo mang lại những lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội.
2. Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
1515
Khóa luận Tốt Nghiệp
Dười nhiều góc độ khac nhau, dựa vào các căn cứ khác nhau người ta có
nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Dưới đây là một số cách
phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.
2.1 Căn cứ theo phương pháp tính hiệu quả
Theo căn cứ này, bao gồm hiệu quả tương đối và hiệu quả tuyệt đối.
2.1.1 Hiệu quả tuyệt đối
Hiệu quả tuyệt đối là đại lượng thể hiện sự chênh lệch giữa kết quả thu
được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó đối với mỗi phương án kinh doanh,
trong từng thời kỳ với từng doanh nghiệp khác nhau. Hiệu quả tuyệt đối được thể
hiện qua tương quan chênh lệch của kết quả và chi phí, nói cách khác đó là sự
chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Có thể hiểu hiệu quả tuyệt đối
qua công thức tính sau:
E = KQ – CF (*)
Trong đó:
- E: hiệu quả tuyệt đối, là chỉ tiêu trực tiếp đo lượng lợi nhuận doanh
nghiệp thu được sau mỗi kỳ kinh doanh. Hiệu quả tuyệt đối thường được đo bằng

doanh thu đủ bù đắp chi phí. Về mặt toán học, điều đó có nghĩa là kết quả doanh
nghiệp đạt được phải hớn hơn chi phí bỏ ra (hay KQ > CF). Vì vậy, một doanh
nghiệp được coi là hoạt động hiệu quả khi chỉ tiêu H
1
nêu trên có giá trị lớn hơn
1. Chỉ tiêu này càng cao thể hiện doanh nghiệp kinh doanh càng hiệu quả và
ngược lại.
Chỉ tiêu 2:
H
2
=
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này là chỉ tiêu phản ánh ngược của chỉ tiêu trên.
Chỉ tiêu này cho biết để thu được về một đồng kết quả, doanh nghiệp phải bỏ ra
bao nhiêu đồng chi phí. Với các doanh nghiệp có quy trình sản xuất kinh doanh
hợp lý, thì một đồng vốn bỏ vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra nhiều đồng kết
quả hơn so với các doanh nghiệp khác.Ngược lại với chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
1717
Khóa luận Tốt Nghiệp
càng thấp thể hiện hiệu quả kinh doanh, sử dụng vốn của doanh nghiệp càng cao
và ngược lại.
Dưới góc độ toán học, khi giá trị của H
2
nhỏ hơn 1 cho thấy chi phí doanh
nghiệp bỏ ra ít hơn kết quả thu về (có nghĩa là CF < KQ), cũng có nghĩa doanh
nghiệp hoạt động hiệu quả.
2.2 Căn cứ theo phạm vi tính hiệu quả
Theo phạm vi, hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh doanh tổng hợp
và hiệu quả kinh doanh bộ phận.
2.2.1 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp

việc tính toán để đạt các mục tiêu trước mắt còn phải cân nhắc để đảm bảo hiệu
quả lâu dài của doanh nghiệp mình.
2.3.2 Hiệu quả kinh doanh lâu dài
Hiệu quả kinh doanh lâu dài là hiệu quả được xem xét trong một phạm vi
thời gian khá dài, thường gắn với các chiến lược, kế hoạch phát triển bền vững
của doanh nghiệp. Không thể lấy hiệu quả ngắn hạn để phản ánh hiệu quả lâu
dài, bởi vì trên thực tế, tình hình thị trường cũng như môi trường kinh doanh luôn
biến động, thay đổi. Không phải giai đoạn kinh doanh nào cũng như nhau. Với lí
do này, hiệu quả kinh doanh lâu dài sẽ phản ánh chính xác và đầy đủ hơn hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động.
2.4 Căn cứ theo giác độ đánh giá hiệu quả
Theo căn cứ này, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bao gồm hiệu quả
tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội.
2.4.1 Hiệu quả tài chính
Hiệu quả tài chính cũng chính là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, đây là hiệu quả được xem xét, phân tích dưới góc độ doanh nghiệp. Với
hoạt động nhập khẩu, hiệu quả tài chính chính là mối liên hệ giữa các lợi ích mà
doanh nghiệp nhận được từ hoạt động nhập khẩu đó và chi phí doanh nghiệp bỏ
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
1919
Khóa luận Tốt Nghiệp
ra. Đối với doanh nghiệp, tiêu chuẩn phản ánh hiệu quả tài chính chính là lợi
nhuận. Đây cũng chính là mục tiêu cuối cùng mà các doanh nghiệp hướng tới,
cũng là mối quan tâm lớn nhất của các doanh nghiệp nói chung.
2.4.2 Hiệu quả chính trị - xã hội
Hiệu quả chính trị - xã hội là hiệu quả được xem xét dưới góc độ xã hội.
Đó chính là lợi ích mà hoạt động kinh doanh mang lại cho xã hội, là sự đóng góp
vào việc phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân. Các lợi ích mà hoạt
động nhập khẩu có thể mang lại cho xã hội như: góp phần phát triển sản xuất, đổi
mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu, cải

Trong kinh doanh, lợi nhuận các doanh nghiệp thu được sau mỗi kỳ kinh
doanh là rất khác nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Lợi nhuận có thể mang giá
dương, nhưng cũng có thể mang giá trị âm. Khi nó dương, điều đó có nghĩa là
doanh nghiệp hoạt động có lãi, có hiệu quả. Khi lợi nhuận mang trị số âm, điều
đó thể hiện doanh nghiệp đang thua lỗ, hoạt động không đạt hiệu quả, nếu duy trì
tình trạng này trong thời gian dài, có thể sẽ dẫn doanh nghiệp đến phá sản.
Về mặt ý nghĩa, lợi nhuận là cơ sở để doanh nghiệp duy trì hoạt động, đồng
thời tái sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận càng lớn, tiềm lực tài chính của doanh
nghiệp càng tăng, nó cũng chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày
càng đạt hiệu quả cao. Đây là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động,
tạo điều kiện cải thiện đời sống người lao động. Lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận
cũng là mục tiêu cuối cùng các doanh nghiệp hướng tới.
Mặc dù là chỉ tiêu quan trọng nhưng lợi nhuận lại không phản ánh được hết
hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Lợi nhuận chỉ phản
ánh sự chênh lệch về lượng giữa doanh thu và chi phí hoạt động kinh doanh nhập
khẩu mà không phản ánh được quá trình sinh ra nó. Do đó, để đánh giá chính xác
và hiệu quả, người ta thường so sánh lợi nhuận với doanh thu, chi phí và nguồn
vốn phục vụ hoạt động nhập khẩu.
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
2121
Khóa luận Tốt Nghiệp
3.1.2 Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu
(2) Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu nhập khẩu
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mối
liên hệ giữa lợi nhuận đạt được và doanh thu thu về.
Tỷ suất lợi nhuận được tính theo công thức sau:
Ddt=
LNNK
DTNK
x 100

3.2 Các chỉ tiêu bộ phận
3.2.1 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn nhập khẩu
(4) Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu là một chỉ tiêu bộ phận, phản
ánh khả năng sinh lời của một đồng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu được tính theo công thức:
Hvld =
LNNK
VL § NK
Trong đó:
Hvld: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu
LNNK: như chỉ tiêu (1) ở trên
VLĐNK: vốn lưu động nhập khẩu, được tính bằng các đơn vị tiền tệ như:
triệu đồng, tỷ dồng, triệu USD… Vốn lưu động nhập khẩu là các khoản vốn lưu
động được sử dụng cho hoạt động nhập khẩu như: các khoản tiền mặt dùng cho
nhập hàng, các khoản vay, các khoản tạm ứng, các chi phí trả trước… cho hoạt
động nhập khẩu.
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này phản ánh, một đồng vốn lưu động đầu tư cho
hoạt động nhập khẩu mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn,
chứng tỏ khă năng sử dụng vốn lưu động cho hoạt động nhập khẩu của doanh
nghiệp càng hiệu quả.
(5) Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu
Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu là một chỉ tiêu bộ phận, phản
ánh khả năng quay vòng của vốn lưu động nhập khẩu.
Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu được tính theo công thức:
Trần Thị Thoa – QTKD Quốc Tế 46B
2323
Khóa luận Tốt Nghiệp
Svq =
DTNK

Khóa luận Tốt Nghiệp
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động là một chỉ tiêu bộ phận, phản ánh mối liên
hệ giữa doanh thu thu được và vốn lưu động bỏ ra cho hoạt dộng nhập khẩu.
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động được tính theo công thức sau:
Hdn=
VL § NK
DTNK
Trong đó:
Hdn: hệ số đảm nhiệm vốn lưu động nhập khẩu.
DTNK, VLĐNK: doanh thu thu được và vốn lưu động bỏ ra cho hoạt động
nhập khẩu được tính như trong các chỉ tiêu (1) và (4) ở trên.
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này cho biết để thu được một đồng doanh thu cần
bao nhiêu đồng vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng thấp có nghĩa là để thu được một
đồng doanh thu càng phải sử dụng ít vốn lưu động nhập khẩu, điều đó càng phản
ánh hiệu quả kinh doanh cao và ngược lại.
3.2.2 Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu
(8) Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu
Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu là một chỉ tiêu hiệu quả bộ phận, phản ánh
khoảng thời gian mà vốn đầu tư dần dần được thu hồi sau mỗi kỳ kinh doanh.
Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu được tính như sau:
T
vld
=
Trong đó:
Tvld: thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu, được tính bằng số kỳ kinh doanh.
VNK: Vốn đầu tư cho hoạt động nhập khẩu bao gồm cả vốn cố định và vốn
lưu động. Vốn nhập khẩu cũng được tính bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng,
tỷ đồng, triệu USD…
LNNK: như chỉ tiêu (1) ở trên.
Về ý nghĩa, chỉ số này phản ánh để thu hồi vốn đầu tư cho hoạt động nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status