Lời mở đầu
Trong định hớng phát triển kinh tế xã hội, thực hiện chính sách mở
cửa, đa nền kinh tế nớc ta hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thế
giới. Đảng và Nhà nớc ta đã khẳng định Chiến lợc phát triển kinh tế Việt
Nam trong giai đoạn này là hớng về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu. Do đó
mà mà xuất khẩu luôn đợc xem nh một chính sách cơ cấu có tầm chiến lợc
quan trọng, nhằm phục vụ, phát triển nền kinh tế quốc dân, góp phần thực
hiện thành công quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc.
Trớc bối cảnh đó, thời gian qua cùng với sự phát triển của các doanh
nghiệp nhà nớc khác, Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản và Thực phẩm chế
biến Đà Nẵng đã có những đóng góp tích cực vào hoạt động xuất khẩu chung
của đất nớc. Với hoạt động kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng nông sản, hiện
nay mặt hàng chè đã, đang dần chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị hàng
xuất khẩu của toàn công ty. Hoạt động xuất khẩu chè giúp công ty thu về một
lợng ngoại tệ để tạo tiền đề cho việc cũng cố nguồn vốn và đẩy mạnh hoạt
động kinh doanh xuất khẩu của mình, cũng nh tạo công ăn việc làm và ổn
định đời sống cho đội ngũ cán bộ nhân viên. Tuy nhiên bên cạnh những thành
tựu ấy, hoạt động xuất khẩu chè của công ty vẫn còn gặp nhiều khó khăn cần
giải quyết. Đó là: Chất lợng hàng xuất khẩu cha cao, giá trị hàng cha phản ánh
đúng giá thị trờng. Đặc biệt là thị trờng xuất khẩu mặt hàng này cha ổn định
và thờng xuyên bị đe doạ bởi các đối thủ cạnh tranh. Công tác thu mua và tìm
kiếm thị trờng, bạn hàng, đối tác kinh doanh còn yếu kém, Do vậy để công
ty có thể phát huy hết tiềm năng, xứng đáng với vị trí là một doanh nghiệp nhà
nớc trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì việc nhìn nhận lại
thực trạng kinh doanh xuất khẩu chè của công ty, để có những đánh giá sát
thực về thành công, cũng nh những hạn chế, từ đó đa ra một số giải pháp
nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu chè của Công ty là một yêu cầu
thiết yếu hiện nay.
1
Với lí do đó mà sau một thời gian thực tập ở công ty Xuất nhập khẩu
nông sản và Thực phẩm chế biến Đà Nẵng, em đã quyết định chọn đề tài:
ty.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
1.1. Quá trình hình thành của công ty.
Trong định hớng phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nớc, chính
sách kinh tế đối ngoại nói chung, xuất nhập khẩu nói riêng luôn đợc coi là
một chính sách cơ cấu có tầm chiến lợc quan trọng, góp phần phát triển nền
Kinh tế Quốc Dân, thúc đẩy nhanh tiến trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
đất nớc.
Nhằm tăng tính hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng quy
mô và khai thác tối đa các nguồn lực của đất nớc, Nhà nớc ta đã cho phép
thành lập Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản và Thực phẩm chế biến Đà Nẵng.
Công ty xuất nhập khẩu nông sản và thực phẩm chế biến Đà Nẵng tên
giao dịch: AGREXPORT là doanh nghiệp Nhà nớc trực thuộc Tổng công ty
xuất nhập khẩu nông sản và thực phẩm chế biến (VINAFIMEX) của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, đợc thành lập theo Quyết định số 1233NN -
TCCB/QĐ ngày 22/7/1996. Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản và Thực phẩm
chế biến Đà Nẵng có t cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh độc lập, có con
dấu riêng và có tài khoản ngoại tệ, nội tệ tại Ngân hàng. Công ty có trụ sở
chính tại Đà Nẵng, có 7 đơn vị trực thuộc trong đó có 2 đơn vị thành viên hạch
toán độc lập là chi nhánh tại Hà Nội và chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Tên giao dịch: DANANG AGRICULTURAL PRODUCE &
FOODSTUFFS IMPORT AND EXPORT COMPANY (Viết tắt AGREXPORT DN)
- Trụ sở chính: 64 Trần Phú Thành phố Đà Nẵng
3
- Giấy phép kinh doanh số: 110810- 22/7/1996 do Sở Kế hoạch và Đầu
t Tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng cấp
- Giấy phép kinh doanh XNK số 111-1-049 do Bộ Thơng mại cấp ngày
24 tháng 8 năm 1996.
Căn cứ vào quyết định số 1233NN -TCCB/QĐ ngày 22/7/1996 Công ty
có các chức năng nhiệm vụ sau:
định 388, hoạt động theo luật doanh nghiệp, về mặt hành chính Công ty trực
thuộc Tổng công ty nhng trên thực tế mọi vấn đề phát sinh đều báo cáo trực
tiếp Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
* Các Phó Giám đốc:
Các Phó Giám đốc giúp giám đốc điều hành một số hoạt của động của
Công ty theo sự phân công và uỷ quyền của Giám đốc, chịu trách nhiệm trớc
Giám đốc và pháp luật về những công việc, hoạt động đợc Giám đốc phân
công và uỷ quyền. Bao gồm một Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh của toàn
Công ty và các đơn vị thành viên, một Phó Giám đốc phụ trách công tác hành
chính tổ chức của toàn Công ty.
* Kế toán trởng:
Kế toán trởng giúp Giám đốc quản lý tài chính, chỉ đạo tổ chức thực hiện
công tác kế toán - thống kê của văn phòng Công ty và các đơn vị thành viên.
* Các phòng ban chức năng của Công ty:
- Phòng Tổ chức - Hành chính: Giúp và tham mu cho giám đốc Công ty
trong việc nghiên cứu và xây dựng bộ máy quản lý kinh doanh, tổ chức, sắp
xếp và thực hiện các chế độ chính sách đối với các cán bộ công nhân viên của
toàn Công ty.
5
- Phòng kinh tế tổng hợp: Tổng hợp tham mu cho Giám đốc xử lý các công
việc của văn phòng và đơn vị thành viên, tổng hợp kế hoạch và hoạt động kinh
doanh, sản xuất của văn phòng và các đơn vị thành viên.
- Phòng tài chính kế toán: Tham mu, giúp Giám đốc tổ chức hạch toán
kinh tế, thực hiện chức năng giám đốc đồng tiền trong mọi hoạt động lĩnh vực
kinh doanh của Công ty. Đồng thời khai thác mọi nguồn vốn nhằm bảo đảm
vốn cho các đơn vị trực thuộc hoạt động, cũng nh tham mu cho Giám đốc xét
duyệt các phơng án kinh doanh và phân phối thu nhập.
- Phòng nghiệp vụ kinh doanh: Tham gia trực tiếp kinh doanh xuất nhập
khẩu, kí kết và thực hiện hợp đồng thơng mại với các đối tác trong và ngoài n-
ớc.
ngời có trình độ cao học, 52 ngời tốt nghiệp Đại học, đặc biệt số cán
bộ chủ chốt của Công ty đều đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ.
Nhìn chung họ là những ngời rất nhiệt tình trong công việc, trung thành
với công ty, trẻ trung nhng có kinh nghiệm trong kinh doanh, nhanh
nhạy nắm, bắt đợc và theo kịp sự biến động của thị trờng. Do vậy trong
quá trình kinh doanh nhất là trong giao dịch buôn bán với các đối tác
nớc ngoài diễn ra suôn sẻ. Các công việc hoạch định, tổ chức lãnh
đạo, Kiểm tra đợc thực hiện khá tốt, hầu hết các cán bộ công nhân
viên của Công ty đều tuân thủ kỉ luật, đoàn kết tạo ra một bộ mặt văn
hoá riêng cho toàn Công ty.
Về mặt tổ chức quản lý: Là một doanh nghiệp nhà nớc, Công ty luôn
tuân thủ mọi quy định của Nhà nớc, cán bộ công nhân viên chỉ làm việc theo
giờ hành chính, tuần làm việc 40 giờ. Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ thởng
phạt, quản lý chặt chẽ các vấn đề tài chính, nhân sự, mọi hoạt động của Công
7
ty đều dới sự quản lý, kiểm tra của Giám đốc. Các hoạt động đợc thông qua
trao đổi, bàn bạc công khai với cán bộ công nhân viên Công ty.
1.3. Chức năng, quyền hạn của Công ty.
* Chức năng
Công ty xuất nhập khẩu nông sản và Thực phẩm chế biến Đà Nẵng
thuộc loại hình doanh nghiệp Nhà nớc , nên cũng có chức năng của một doanh
nghiệp Nhà nớc nói chung bao gồm: Việc tổ chức, quản lý cán bộ công nhân
viên trong công ty, điều hành sản xuất và các hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu. Công ty phải tự hạch toán việc kinh doanh của mình, có trách nhiệm trả
lơng thoã đáng cho ngời lao động và thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nớc.
* Nhiệm vụ và Quyền hạn của Công ty:
- Nhiệm vụ
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh
nhằm thực hiện cho đợc mục đích và nội dung hoạt động của Công ty.
+ Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trờng, kiến nghị và đề xuất
án kinh doanh phải phản ánh đầy đủ, trung thực các khoản thu nhập và các
khoản chi phí thực tế phát sinh (bao gồm tiền trả công cho ngời giới thiệu
khách hành) tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ Công ty kí kết và thực hiện hợp
đồng xuất nhập khẩu có hiệu quả đảm bảo nguyên tắc lấy thu bù chi và kinh
doanh có lãi.
+ Đợc liên doanh, liên kết hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế và cá
nhân trong và ngoài nớc để đầu t khai thác nguyên liệu sản xuất, gia công,
huấn luyện tay nghề trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi
trong phạm vi hoạt động của Công ty.
9
+ Đợc mở cửa hàng đại lý mua bán hàng hoá trong và ngoài nớc để có
thể bán hàng và giới thiệu sản phẩm.
+ Đợc lập đại diện, chi nhánh của công ty ở trong và ngoài nớc. Đợc
tham dự các hội thảo chuyên đề có liên quan đến sản xuất kinh doanh của
Công ty ở trong và ngoài nớc.
+ Đợc phép đóng góp ý kiến để hoàn thiện công tác quản lý kinh tế của
nhà nớc.
+ Đợc cử cán bộ công nhân viên Công ty đi công tác, học tập ngắn hạn,
dài hạn ở nớc ngoài, hoặc mời bên nớc ngoài vào Việt Nam làm việc theo quy
chế hiện hành của Nhà nớc.
1.4. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty.
Công ty đợc thành lập trên cơ sở tách ra từ Tổng công ty xuất nhập khẩu
nông sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 1996. Lúc này
đất nớc ta đã chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế vì thế cũng nh các doanh nghiệp
nhà nớc khác Công ty cũng có những thuận lợi nhất định, nhng cũng gặp phải
không ít khó khăn trong quá trình phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình. Sau một thời gian sản xuất kinh doanh trên thị trờng Công ty đã
không ngừng lớn mạnh và phát triển về mọi mặt tạo đợc nhiều mối quan hệ
làm ăn tốt đẹp với các doanh nghiệp ở trong và ngoài nớc.
1.4.1. Tình hình sản xuất chế biến.
giám đốc công ty và sự trởng thành vững mạnh của công ty về mọi mặt. Công
ty cũng luôn chú ý đến vấn đề tăng trởng phải đi đôi với phát triển bền vững,
không vì chạy theo lợi nhuận đơn thuần mà làm ô nhiễm môi trờng khu vực
nhà máy sản xuất cũng nh gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị tr-
ờng.
1.4.2. Tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty.
Kể từ khi đợc thành lập năm 1996 đến nay, Công ty tiến hành hoạt động
xuất khẩu chủ yếu trong lĩnh vực nông sản nh: chè, cà phê, hạt tiêu, hạt điều.
11
lạc nhân quế, hồi, kê Quan điểm kinh doanh xuất khẩu của công ty là xây
dựng đối tác chiến lợc bằng cách thông qua chất lợng hàng hoá, dịch vụ bán
hàng, xây dựng và giữ quan hệ làm ăn tin tởng, lâu dài với một số thơng nhân,
doanh nghiệp có uy tín của Nhật Bản, Xingapo, EU. Hoa Kì Để làm đợc
điều này Công ty phải trực tiếp đầu t xuống ngời nông dân, cho họ vay vốn
đầu t sản xuất ban đầu và giúp họ ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào
sản xuất đồng thời bảo đảm đầu ra cho sản phẩm . Công ty luôn kiểm soát
chặt chẽ khâu thu mua , vận chuyển, bảo quản, và sơ chế sản phẩm. Chính vì
vậy công ty luôn có đợc nguồn hàng xuất khẩu ổn định chất lợng đảm bảo, từ
đó tạo đợc u thế cạnh tranh rất lớn với các đối thủ cạnh tranh trong nớc (đối
thủ tiềm tàng) cùng kinh doanh những mặt hàng này.
Bên cạnh đó công ty cũng tiến hành nhập khẩu rất nhiều mặt hàng phục
vụ nhu cầu tiêu dùng trong nớc trong đó chủ yếu là nguyên liệu sản xuất bia,
máy thuỷ YAMAHA, các loại máy móc trang thiết bị, sắt thép, ôtô, xe máy
Trung Quốc Với kinh nghiệm và uy tín làm ăn của mình Công ty luôn có
những bạn hàng đáng tin cậy cung cấp cho công ty nguồn hàng nhập khẩu trực
tiếp không phải thông qua các khâu trung gian nên giá hàng hoá có rẻ hơn so
với các sản phẩm cùng loại đợc các công ty khác nhập về. Mặt khác, Công ty
có một đội ngũ nhân viên có khả năng tìm hiểu thị trờng nhanh nhạy, nắm bắt
và dự báo khá chính xác nhu cầu thị trờng, giúp công ty đáp ứng kịp thời nhu
cầu thị trờng tiêu dùng trong nớc. Do vậy hàng hoá của công ty khi nhập về
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Công ty)
Qua bảng thống kê hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Agrexport Đà Nẵng ở trên ta có thể thấy từ khi thành lập đến nay Công ty đã
có sự mạnh lớn không ngừng và nhanh chóng. Sau 5 năm hoạt động kim
ngạch xuất nhập khẩu của Công ty đã có những bớc phát triển rõ rệt năm 2001
so với năm 1997 tăng 30,95 lần (đạt 17,330 triệu USD), tiền nộp ngân sách có
giảm nếu năm 2000 là 18,6 tỷ đồng thì năm 2001 chỉ là 16,5 tỷ đồng. Công ty
từ làm ăn thua lỗ tiến đến có lãi và lợi nhuận ngày càng tăng. Nhng điều quan
trọng nhất là mức sống của ngời lao động đợc đảm bảo, ổn định, tiền lơng
bình quân năm 2000 tăng gấp 2,75 lần so năm 1997 đạt 1.100.000 VND/ ngời/
tháng là khá cao so với nhiều doanh nghiệp nhà nớc.Tuy nhiên năm 2001 một
số chỉ tiêu của công ty có sự giảm sút điều này là do cơ cấu xuất nhập khẩu
của công ty có sự thay đổi theo xu hớng xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm đã
làm thay đổi các khoản nộp ngân sách, lợi nhuận ròng Nhng dù sao công
ty cũng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đợc giao. Điều này là do Nhà nớc có
những chính sách phù hợp giúp đỡ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng
thị trờng làm ăn và tăng quan hệ buôn bán với các đối tác trong và ngoài nớc.
13
Ngoài ra Công ty luôn biết tận dụng thế mạnh của mình với bộ máy gọn
nhẹ ở 3 miền đất nớc nên luôn kịp thời nắm bắt, đáp ứng nhu cầu thị trờng,
đồng thời đa dạng hoá các phơng thức, ngành nghề kinh doanh, tận dụng tối
đa các nguồn lực có sẵn, lợi thế sẵn có của Việt Nam. Với quyết tâm cao và
những kinh nghiệm quý báu đã rút ra đợc sau một thời gian hoạt động chắc
chắn Công ty sẽ đạt nhiều thành công hơn nữa trong quá trình phát triển của
mình.
2. Tầm quan trọng của việc xuất khẩu chè đối với sự phát triển của Công ty.
Thành phố Đà Nẵng là nơi có vị trí địa lý thuận lợi, là trung tâm của
miền Trung có tốc độ phát triển mạnh, có đầy đủ cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng
thuận lợi. Với u thế cảng biển, cảng sông, sân bay Quốc tế Đà Nẵng có thể
hình thành sân bay trung chuyển từ Tây sang Đông. Đờng quốc lộ và đờng sắt
thu nhập ổn định và không ngừng tăng. Đồng thời trồng chè chính là phủ xanh
đất trống, đồi trọc, cải thiện môi trờng sinh thái. Với phơng châm trồng chè
kết hợp nông lâm, đào rãnh giữa các hành chè để giữ mùn, giữ nớc, sử dụng
phân bón hợp lý Ngành chè đã gắn kết đợc sự phát triển kinh tế với bảo vệ
môi trờng.
Theo đánh giá của FAO, Việt Nam là nớc đứng thứ 8 trên thế giới về
sản xuất và xuất khẩu chè. Vì thế, trong những năm qua sản xuất chè Việt
Nam không những đáp ứng đợc nhu cầu chè uống cho nhân dân, mà còn xuất
khẩu với một lợng với một lợng đáng kể, mỗi năm thu về hàng chục triệu USD
cho đất nớc, đóng góp một phần nhỏ vào hoạt động xuất khẩu Việt Nam.
1.1. Tình hình sản xuất, chất lợng, giá cả của chè Việt nam trong những
năm qua.
a. Tình hình sản xuất.
Việt Nam là một trong số ít các quốc gia có lợi thế về sản xuất và xuất
khẩu chè bởi ở đây có những điều kiện về khí hậu, thổ nhỡng rất thích hợp.
Đặc biệt là diện tích đất đai phù hợp với khả năng phát triển trồng chè ở Việt
15
Nam (hiện có 200.000 ha). Với ngành công nghiệp chế biến chè phát triển
hơn 40 năm nay, hàng năm xuất khẩu từ 2 - 4 vạn tấn , đồng thời những vùng
đất tốt để trồng chè đợc phân bổ ở hầu hết các vùng kinh tế trọng điểm của đất
nớc. Vì vậy Việt Nam luôn là vùng đất hứa với các nhà đầu t trong sự quan
tâm đến việc phát triển chè cùng với những chính sách kinh tế u đãi cũng nh
cơ hội thuận lợi về đầu t.
Sản phẩm hiện nay gồm có các loại chè đen, chè xanh, chè ngọt, chè d-
ợc thảo, các loại chè suối Giàng, chè Tân Cơng, chè lục, chè thái và các loại
chè hơng hoa sen, nhài, ngâu, Các sản phẩm chè này hiện nay đợc phân bố
rộng khắp cả nớc cụ thể ở các khu vực sau:
* Vùng trung du và miền núi phía Bắc: chiếm khoảng 60,3% với diện
tích là 120,6 nghìn ha bao gồm các tỉnh: Vĩnh Phú, Yên Bái, Tuyên Quang,
Hà Giang, Sơn La, Bắc Thái. Nhiều tỉnh ở trong vùng này đã xác định cây chè
* Vùng Duyên hải:
Đây là một trong những vùng có lịch sử phát triển chè rất sớm ở nớc ta.
Đến đầu thế kỷ 20 có nhiều vùng chè đã đợc hình thành ở Quảng Nam, các
trung tâm chính nh Đà Nẵng (1500ha), Duy Xuyên (1400 ha), Tam Kì
(1000ha), dần dần mở rộng sang các vùng khác nh Bình Định, Quảng Ngãi,
Quảng Trị. Tuy nhiên tính đến nay diện tích chè toàn vùng có khoảng 5 nghìn
ha chiếm 2,4% diện tích chè cả nớc trong đó chủ yếu ở ba tỉnh: Bình Định:
2176 ha , Quảng Ngãi: 961 ha, Quảng Nam Đà Nẵng đạt 1371 ha, năng suất
trung bình là 1,9 tấn/ha.
Bảng 2: Diện tích - năng suất - sản lợng chè qua các thời kỳ:
Năm
Chỉ tiêu
Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
1. DT cả nớc
1000 ha
64,8 69,59 70.3 78,17 73 77,14 81,7
Diện tích chè
kinh doanh
1000ha
62,46 63,12 65,43 74,56 71,4 70,2 70,2
17
Diện tích chè
trồng mới
1000ha
1,530 1,268 2,85 2,31 2,6 4,35 4,55
2. Năng suất
bình quân
Tấn tơi /ha
3,47 3,48 3,512 3,78 3,80 3,82 4,23
3. Sản lợng
đất trồng cũng nh các công đoạn trong quá trình sản xuất chúng. Tuy nhiên
giống chè và đặc biệt là công nghệ chế biến là vấn đề cơ bản để nâng cao chất
lợng chè xuất khẩu.
Trong những năm gần đây các giống chè đã đợc nhiều nhà khoa học đa
vào nghiên cứu đặc biệt có sự hợp tác của các chuyên gia nớc ngoài đã tạo ra
những giống chè búp đạt tiêu chuẩn chất lợng chè xuất khẩu với nhiều tiêu
thức khác nhau. Nhìn chung chất lợng chè Việt Nam chỉ đạt ở cấp độ trung
bình và cấp thấp so với chất lợng chè thế giới. Trong những năm qua các mặt
hàng chè xuất khẩu của nớc ta chủ yếu là chè đen, chè xanh, chè lăn Do chất
lợng chè còn đạt ở mức thấp nên đa số chúng ta chỉ xuất khẩu những sản phẩm
thô so với chất lợng chè xuất khẩu của các nớc trên thế giới nh: Trung Quốc,
ấn Độ Với chất lợng chè nh vậy một phần là do sự yếu kém trong công nghệ
chế biến của Việt nam, chất lợng chè trung bình và tốt của ta chỉ chiếm đợc
một phần rất nhỏ. Chính vì vậy, chè Việt Nam rất khó cạnh tranh trên thị trờng
với các nớc xuất khẩu chè khác trên tghế giới. Điều này đã làm chúng ta giảm
một lợng khá lớn về thu nhập cũng nh lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản
xuất và xuất khẩu chè nói riêng và cho nền kinh tế quốc dân nói chung.
+ Về giá cả xuất khẩu chè trên thế giới, chè Việt Nam ngày càng nhích
lại gần hơn với giá chè trên thế giới. Tuy nhiên do chất lợng chế biến thấp,
xuất khẩu lại dới dạng nguyên liệu nên giá chỉ đạt 60 - 70%, thậm chí là bằng
50% so với giá chè thế giới.
Bảng 4: Giá chè xuất khẩu của Việt Nam so với thị trờng thế giới
(Đơn vị : USD/tấn)
Năm Giá chè XK của VN Giá chè XK của TG
1996 1.188 1.697
1997 1.347 1.980
1998 1.433 2.205
1999 1.466 2.327
2000 1.239 1.697
2001 1.250 1.725
1996 17,041 21,026
20
1997 20,755 29,0
1998 32,292 47,91
1999 33,295 50,496
2000 36,440 45,145
2001 40,764 50,955
(Nguồn: Bộ thơng mại)
Qua bảng trên ta thấy khối lợng và gía trị chè xuất khẩu của nớc ta còn
quá khiêm tốn so với tiềm năng, nguyên nhân chủ yếu ở đây là do giá chè xuất
khẩu của Việt Nam còn thấp. Bên cạnh đó với điều kiện hiện nay của nớc ta
thì thiết bị, kĩ thuật chế biến còn cũ kĩ, lạc hậu , sản xuất tràn lan không tập
trung làm cho chất lợng chè xấu không đáp ứng đợc yêu cầu cạnh tranh của
thị trờng quốc tế. Ngoài ra do việc đầu t không hiệu quả, quản lý kém của
ngành chè đã làm cho sản xuất và xuất khẩu chè không đạt đợc hiệu quả mong
muốn. Tuy nhiên trong giai đoạn 1995 - 2001 xuất khẩu chè Việt Nam ngày
càng tăng và tăng đều trong mỗi năm, mặc dù trị giá xuất khẩu còn nhỏ bé so
với tổng kim ngạch chung của cả nớc, cũng nh so với tiềm năng vốn có của
mình, nhng điều đó cho thấy hoạt động xuất khẩu chè Việt Nam đang dần đi
vào ổn định và tự khẳng địng vị trí của mình trên trờng quốc tế.
1.3. Thị trờng xuất khẩu chè Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Tổng công ty chè Việt Nam, Ngành chè hiện
nay đã xuất khẩu sang tới hơn 30 nớc và có mặt ở 42 nớc trong khu vực và
trên thế giới chủ yếu là khu vực Châu Âu và Châu á. Ngành chè Việt Nam đã
có thêm công nghệ của Anh, Nga, Đài Loan, ấn Độ, Trung Quốc để nâng cao
chất lợng sản phẩm và đa dạng hoá mặt hàng. Vì thế, đến nay nớc ta đã có các
thị trờng tiêu dùng chè Việt Nam là: Algeria, Bulgaria, Cuba, Czech,
Germany, Hungary, India, Iran, Irac, Japan, Isvarel, Ivorycoast, Sorday,
Kazakstan, Hybya, Monoco, Pakistan, Polan, Romania, Rusia, Singapore,
Slovakia, Syria, Taiwan. Tajkistan, Turkey, Ukraina, United Kinhdom,
Châu Âu 70% 68,5% 80% 75,5% 74%
Châu á
18% 15,55 13% 18% 20%
Châu Mĩ 3% 2% 2% 3.5% 2%
22
Vùng khác 9% 14% 5% 3% 4%
(Nguồn: Bộ thơng mại)
Bảng 7: Lợng chè xuất khẩu đến một số nớc chủ yếu
(Đơn vị: Tấn)
Năm
Nớc
1997 1998 1999 2000 2001
Nga 10.075 15.704 12.040 16.475 17.862
Anh 1.304 2.050 1.740 2.133 1.834
Đài Loan 1.352 2.621 4.072 2.076 2.755
Irak 400 1.088 3.069 1.564 2.054
Hồng Kông 2.084 2.100 2.320 1.897 1.420
Trung Quốc 1.000 1.230 795 935 1.250
Angeria 300 1.003 768 1.800 1.865
(Nguồn: Cục hải quan)
Theo bảng trên ta thấy qua các năm thì Nga vẫn là nớc nhập khẩu chè
lớn nhất . Tuy nhiên nó không tăng đều trong các năm. Trong năm 2000 thì
khối lợng chè Việt Nam xuất khẩu sang Nga là 16.47 tấn chiếm tỉ trọng 45%,
năm 2001 đạt 17862 tấn, đã chứng tỏ tiềm năng của thị trờng này cho xuất
khẩu chè Việt Nam là rất lớn.
Trong việc đẩy mạnh xuất khẩu chè, Việt Nam đã và đang tiêu chuẩn
hoá tất cả các khâu từ chế biến, mẫu mã đến chất lợng đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu. Vì vậy Nhà nớc ta đã ra chủ trơng đổi mới thiết bị, kĩ thuật công nghệ,
tăng cờng hợp tác liên doanh, liên kết với nớc ngoài để hiện đại hoá, đa dạng
hoá sản phẩm chế biến, nâng cao chất lợng chè vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng
1999 3.320 635,68 19,15
2000 5.720 1.145,73 20,03
2001 6.256 1.106, 896 17,7
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh cuối năm của Công ty)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy quả thực quy mô xuất khẩu chè của
công ty so với cả nớc là quá nhỏ , nhng so với tình hình hoạt động kinh doanh
xuất khẩu của Công ty thì cũng có một tỉ trọng đáng nói. Rõ ràng là việc xuất
24
khẩu chè của công ty đã tăng đều đặn qua các năm từ 111.103 USD năm
1998 đến năm 2001 đã lên đến 1.106.896 USD tăng gấp 9,96 lần. Điều đó cho
thấy trong tơng lai triển vọng của hoạt động xuất khẩu chè của Công ty sẽ còn
phát triển hơn nữa.
Thực tế năm 1997 Nhà nớc sắp xếp lại các loại hình doanh nghiệp, thực
hiện cải cách hành chính , tình hình xuất khẩu nói chung là khó khăn và mặt
hàng chè xuất khẩu của Công ty cũng không nằm ngoài diễn biến này lại thêm
vừa mới thành lập. Vì vậy nên trong tình trạng chung của cả nớc với sự năng
động trong lĩnh vực hoạt động của mình công ty cũng chỉ đạt đợc một sự khởi
đầu là rất nhỏ. Tiếp đến năm 1998 Công ty đã có sự rút kinh nghiệm của năm
trớc, đồng thời chấn chỉnh lại bộ máy hoạt động của mình nên tổng kim ngạch
xuất khẩu nói chung và mặt hàng chè xuất khẩu nói riêng đã có bớc chuyển
dịch. Tuy nhiên do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á nên tỉ
trọng xuất khẩu chè của công ty còn rất khiêm tốn chỉ chiếm 17,36%, song dù
sao đây cũng là một sự khẳng định dần vị thế mặt hàng chè của Công ty trên
thị trờng thế giới.
Mặc dù ảnh hởng của cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài nhng sang năm
1999 công ty đã có sự tăng trởng khả quan , điều này một phần là do uy tín,
khả năng mở rộng quan hệ bạn hàng của Công ty đã thay đổi , nhng bên cạnh
đó một phần cũng là do tình hình phát triển sản xuất chè của Việt Nam đang
tăng dần, ổn định và có chất lợng. Vì vậy kim ngạch xuất khẩu chè của Công
ty đã tăng lên một số tơng đối khả quan là 635.680USD chiếm 19,15 % trong