một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của gạo xuất khẩu việt nam trên thị trường thế giới - Pdf 10

lời mở đầu
Khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của quá trình phát triển
kinh tế thế giới. Lịch sử đã chứng minh rằng, không một quốc gia nào bằng
chính sách đóng cửa với nớc ngoài lại phát triển có hiệu quả nền kinh tế
trong nớc. Muốn phát triển nhanh, mỗi nớc không thể đơn độc dựa vào
nguồn lực của mình mà phải biết tận dụng có hiệu quả tất cả những thành
tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật của loài ngời đã đạt đợc. Nền kinh tế mở
cửa sẽ mở ra những tiềm năng sẵn có của một nớc nhằm sử dụng sự phân
công lao động một cách có lợi nhất. Ngay cả một nớc nh Trung Quốc tự coi
mình là một quốc gia xã hội chủ nghĩa vĩ đại, với nguồn lao động to lớn,
với nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có và một thị trờng trong nớc khổng
lồ, có mọi phơng tiện trong tay để xây dựng đất nớc và phát triển kinh tế từ
bên trong coi nguyên tắc độc lập và tự lực cánh sinh là nguyên tắc cơ bản
cho xây dựng kinh tế mà cuối cùng đã phải thốt lên rằng: chính vì sự biệt
lập kéo dài đó với thế giới bên ngoài, Trung Quốc đã lỡ mất nhiều cơ hội có
lợi trong bối cảnh quốc tế thuận lợi. Hố ngăn cách về công nghệ giữa Trung
Quốc và các nớc ngày càng tăng. Do thiếu sự cạnh tranh trên thị trờng quốc
tế nên sản phẩm nội địa của Trung Quốc ngày càng giảm sức cạnh tranh.
Một số sản phẩm công nghiệp không thể nâng cao đợc chất lợng và số lợng
vì những hạn chế của thị trờng trong nớc.
Tình trạng cấm chợ ngăn sông, hạn chế cạnh tranh kinh tế quốc tế, thực
hiện chế độ bảo hộ dới mọi hình thức khác nhau gây thiệt hai to lớn, lãng
phí cho nền kinh tế thế giới ở phơng diện tổng thể. Thật vô lý khi ngời ta
phải mua những hàng hoá đắt hơn hoặc chất lợng thấp hơn, xấu hơn trong
khi vẫn có ngời sẵn sàng bán những hàng hoá đó với giá rẻ hơn chất lợng
tốt hơn. Điều đó cũng có nghĩa rằng tham gia vào thị trờng thế giới, các nớc
phải chấp nhận sự cạnh tranh quyết liệt.
Với chính sách đổi mới mở cửa, Việt Nam sẽ trở thành thị trờng cạnh
tranh của các công ty đa quốc gia và Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các n-
ớc khác để đi ra thị trờng thế giới. Việt Nam là thành viên chính thức của
ASEAN. Tiến tới Việt Nam sẽ tham gia vào Hiệp định chung về thơng

Em xin chân thành cảm ơn !
2
Phần I
tính tất yếu và vai trò của cạnh tranh
trong thơng mại quốc tế
1-/ Tính tất yếu của cạnh tranh trong thơng mại quốc tế:
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế chủ yếu đợc điều tiết bởi thị trờng. Nền kinh tế
thị trờng đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất nh thế
nào, sản xuất cho ai, và nó đều chịu sự tác động của các quan hệ cung cầu, quan hệ
cạnh tranh và giá cả thị trờng.
Một điều tất yếu và là đặc trng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trờng đó là: bất
kỳ một chủ thể nào tham gia vào thị trờng đều phải chấp nhận cạnh tranh. Khi nói
tới cạnh tranh là nói tới thị trờng và ngợc lại, nói tới thị trờng là nói tới cạnh tranh.
Ngợc lại, thị trờng mà không có cạnh tranh thì không còn là thị trờng nữa. Mặt tích
cực của thị trờng cũng là mặt tích cực của cạnh tranh. Mặt tiêu cực của thị trờng,
tồn tại theo quan niệm của nhiều ngời; cũng là mặt tiêu cực của cạnh tranh. ý đồ
tạo thị trờng không có cạnh tranh, thị trờng có tổ chức đã sụp đổ hoàn toàn vì nó
không tạo ra đợc cơ chế phân phối tối u các nguồn lực của xã hội. Triệt tiêu cạnh
tranh là làm mất tính năng động, sáng tạo của mỗi con ngời cũng nh của toàn xã
hội, nền sản xuất xã hội sẽ không còn hiệu quả - nguồn gốc của việc nâng cao đời
sống nhân dân.
Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá t bản
chủ nghĩa. Vậy cạnh tranh là gì?
Theo Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà t
bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch.
Còn theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 ở Anh), cạnh tranh trong cơ
chế thị trờng đợc định nghĩa là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh
nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình.
Nh vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các

đích thì ngời đó trở thành nhịp cầu cho các đối thủ vợt lên phía trớc. Chạy đua về
mặt kinh tế phải luôn luôn ở phía trớc để tránh những trận đòn của ngời chạy phía
sau, và không phải chỉ để thắng một trần tuyết giữa các đối thủ mà là để thắng trên
hai trận tuyến. Đó là cạnh tranh giữa những nớc mua với nớc bán và cạnh tranh
giữa những ngời bán với nhau.
- Trong cơ chế thị trờng, cạnh tranh giữ vai trò làm cho giá cả hàng hoá dịch
vụ giảm xuống, nhng chất lợng hàng hoá dịch vụ ngày càng cao, phù hợp với mong
muốn của ngời tiêu dùng.
- Cạnh tranh sẽ loại bỏ các nớc có chi phí cao trong sản xuất kinh doanh hàng
hoá và khuyến khích các nớc có chi phí thấp. Điều này đã tạo áp lực buộc các nớc
phải giảm chi phí đầu vào trong sản xuất kinh doanh.
Mặc dù điều này là phù hợp với lợi ích lâu dài của xã hội, song cũng làm cho
một số nớc thất bại đau đớn, nạn thất nghiệp, nghèo đói gia tăng.
- Cạnh tranh là công cụ để tớc quyền thống trị về kinh tế trong lịch sử.
- Cạnh tranh buộc các nớc phải không ngừng đầu t, nghiên cứu khoa học, công
nghệ để đa vào ứng dụng sản xuất. Đồng thời cạnh tranh cũng buộc các nớc phải
nghiên cứu thị trờng thế giới, nắm bắt đợc thông tin, bắt đợc những thời cơ hấp dẫn,
chú trọng công tác khuyếch trơng, quảng cáo sản phẩm và thanh thế nhằm mở rộng
thị trờng xuất khẩu vơn tới những thị trờng đầy triển vọng. Phải tham gia các hoạt
động trong hiệp hội ngành hàng để cập nhật thông tin mới về tình hình giá cả, cung
cầu trên thị trờng cạnh tranh.
Tóm lại, cạnh tranh không phải là huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế những
nớc làm ăn thua lỗ, không có hiệu quả, sử dụng lãng phí những nguồn lực của xã
hội bằng các nớc hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội,
thúc đẩy sự phát triển của nhân loại. Có thể nói rằng cạnh tranh lành mạnh là động
lực phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Trên thế giới các nớc tìm mọi cách để tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm của
đất nớc mình bằng chất lợng sản phẩm, và giá cả. Nếu nh trớc kia, giá cả đợc coi là
yếu tố quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó đã phải nhờng chỗ cho chỉ
tiêu chất lợng sản phẩm. Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là biện pháp nghèo

Đây là dạng phân loại thị trờng gắn liền với phơng thức hình thành và vận
động giá cả thị trờng. Theo cách phân loại này có các dạng thị trờng sau:
3.1. Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo:
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo là thị trờng mà ở đó có rất nhiều ngời bán mà
không có ngời nào có u thế để cung ứng một số lợng sản phẩm lớn ảnh hởng đến giá cả.
Các sản phẩm mua bán trên thị trờng này là sự đồng nhất, tức là nó rất ít khác nhau về
quy cách, mẫu mã, phẩm chất. Điều kiện tham gia và rút khỏi thị trờng rất dễ dàng.
Những ngời bán tham gia trên thị trờng chỉ có cách thích ứng với giá thị trờng. Họ
không có khả năng định giá. Do đó, các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị tr-
ờng này chủ yếu tìm biện pháp giảm thấp chỉ phí tới mức thấp nhất.
3.2. Thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo:
Đây là một thị trờng mà phần lớn sức mạnh thị trờng thuộc về một số doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh lớn. Các doanh nghiệp trên thị trờng này kinh doanh hàng
hoá và dịch vụ khác nhau. Sự khác nhau giữa hàng hoá và dịch vụ này là ở nhãn hiệu.
5
Mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm chỉ là sự khác biệt trong tâm trí của ngời tiêu
dùng, nhng mỗi nhãn hiệu hàng hoá đều mang hình ảnh với những uy tín khác nhau.
Có hai hình thái thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo sau:
a-/ Độc quyền tập đoàn:
Đây là một thị trờng mà ở đó có một vài doanh nghiệp đáp ứng hầu hết nhu
cầu về một loại hàng hoá dịch vụ cụ thể nào đó. Những doanh nghiệp này rất nhạy
cảm với các hoạt động kinh doanh của nhau. Thế nhng, một điều cần chú ý ở đây là
các doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau trong mức định giá, và lợng hàng bán ra. Bởi
vì, khi một doanh nghiệp trong nhóm độc quyền giảm giá hàng hoá bán ra thì họ
không bao giờ cảm thấy tin tởng rằng có thể đạt đợc kết quả lâu dài vì sẽ có một số
doanh nghiệp khác có thể sẽ giảm giá xuống mức thấp hơn; và ngợc lại khi một
doanh nghiệp tăng giá, các doanh nghiệp khác không tăng giá thì sẽ dẫn đến doanh
nghiệp tăng giá phải trở lại giá cũ hoặc có nguy cơ bị mất khách hàng.
b-/ Cạnh tranh độc quyền:
Chính vì đặc điểm của thị trờng độc quyền là số lợng doanh nghiệp tham gia

Phần II
vai trò của xuất khẩu gạo, thực trạng xuất khẩu gạo
và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam
trên thị trờng gạo thế giới
1-/ Vai trò của xuất khẩu gạo trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội ở Việt Nam:
Việt Nam là một nớc nông nghiệp dựa vào sản xuất lúa gạo là chính. Nông
nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó đóng góp khoảng 42%
tổng sản phẩm quốc nội (GDP). 71,9% lợng lao động của cả nớc hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp.
Đối với Việt Nam, sản xuất các sản phẩm nông nghiệp nói chung, sản xuất lúa gạo
nói riêng là một lợi thế. Xuất khẩu nông sản là một trong những biện pháp nhằm khai
thác lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh để thu hút nguồn lợi trong thơng mại quốc tế.
Thơng mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp giữ một vị trí vô cùng to lớn đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nớc. Nó là bộ phận hết sức quan trọng trong lĩnh vực
kinh tế đối ngoại và chơng trình xuất khẩu của đất nớc. Trong suốt thời gian qua,
khoảng trên dới 50% sản phẩm quốc dân hàng năm đợc thực hiện thông qua con đờng
xuất khẩu. Xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thờng chiếm tỷ trọng cao từ 30-40%
tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Trong đó xuất khẩu gạo chiếm tỷ trọng từ 40-
50% tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Sản lợng gạo xuất khẩu
bình quân hàng năm kể từ năm 1990 đến nay là trên 2 triệu tấn và xuất khẩu gạo vơn
lên chiếm một vị trí quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Gạo xuất khẩu của Việt Nam không ngừng tăng lên cả về chất lợng lẫn số l-
ợng. Do đó kim ngạch xuất khẩu gạo không ngừng tăng lên từ 274,6 triệu USD
năm 1990 đến năm 1996 kim ngạch là 868,4 triệu USD, năm 1997 đạt 891,3 triệu
USD năm 1998 lên đến trên 1 tỷ USD (1.006 triệu USD). Và tháng đầu năm 1999
kim ngạch là 750 triệu USD. Với lợng ngoại tệ này chúng ta đã nhập các loại máy
móc thiết bị hiện đại của nớc ngoài phù hợp với điều kiện của Việt Nam xây dựng
các nhà máy chế biến gạo, xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông
nghiệp, đầu t nghiên cứu các loại giống lúa cho năng suất cao, chất lợng tốt. Ngoài

xuất siêu nhng rất không ổn định. Châu Đại Dơng không đáng kể. Nh vậy hàng
năm, dòng gạo thế giới lớn nhất chảy từ Châu á sang Châu Phi, trung bình từ 2,5-3
triệu tấn, sau đó là dòng gạo từ Châu á chảy sang Châu Âu, khoảng gần 1 triệu tấn.
Nếu xét chung tình hình xuất khẩu trong suốt giai đoạn 1989-1994, có thể xếp
đội ngũ các nớc xuất khẩu gạo theo trật tự sau: Thái Lan, Mỹ, Việt Nam, Pakistan,
Trung Quốc, ấn Độ. Từ năm 1995-1996 tơng quan lực lợng giữa các nớc xuất khẩu
gạo có sự thay đổi theo trật tự mới: Thái Lan, ấn Độ, Việt Nam, Mỹ, Pakistan. Năm
1996 đến 1997 Việt Nam đã vợt lên ở vị trí thứ hai sau Thái Lan và giữ vị trí đó cho
đến nay.
Thái Lan: với vị trí đứng đầu xuất khẩu gạo. Thái Lan hàng năm luôn luôn chi
phối sâu sắc tình hình biến động cung cầu và giá cả trên thị trờng gạo thế giới. Giá
chuẩn quốc tế thờng căn cứ vào giá gạo xuất khẩu của Thái Lan. Chất lợng gạo
cũng đợc khách hàng a chuộng tin cậy với nhiều cấp, loại, hạng: Gạo trắng 100%
hạng A,B,C nhng chủ yếu là hạng B, gạo trắng 5% tấm, 10%, 15%, gạo tấm A1
super, gạo đồ, gạo nức, gạo nếp, gạo thơm, đặc sản. Thái Lan rất quan tâm phát
triển xuất khẩu gạo đặc sản, loại Jasmine hay Dawk Mali. Gạo Thái Lan đã đ-
ợc xuất khẩu đi hầu khắp các Đại lục á, Phi, Mỹ, Châu Đại Dơng trong đó Châu á
vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 60-70%, thứ đến là Châu Phi. Qua nhiều thập kỷ
xuất khẩu gạo, Thái Lan có nhiều khách hàng truyền thống gồm những nớc phát
triển Tây Âu, Nhật Bản, cũng nh những nớc đang phát triển Châu á, Phi, Mỹ
Latinh. Để đẩy mạnh sản xuất trong nớc và không ngừng nâng cao khả năng cạnh
tranh xuất khẩu gạo ở nớc ngoài. Thái Lan đã chú trọng nhiều chính sách nh bảo hộ
nông phẩm cho ngời sản xuất, điều hoà cung cầu khi giá cả gạo biến động, cho vay
thế chấp bằng gạo khi giá cả gạo trong nớc bị giảm mạnh để ngời nông dân giữ
thóc chờ lên giá, Bên cạnh sản xuất Thái Lan còn có những chính sách hỗ trợ
xuất khẩu nh cho nhà xuất khẩu vay vốn dài hạn, lãi suất thấp; Nhà nớc mua lại gạo
của các nhà xuất khẩu, chịu chi phí lu kho, bảo quản, vận chuyển khi giá gạo thế
giới giảm. Nhà nớc trực tiếp đàm phán các hiệp định gạo với Chính phủ nớc ngoài
nhằm mở rộng thị trờng. Để nâng cao chất lợng gạo xuất khẩu Nhà nớc rất chú
9

của các trang trại đến giá của các nhà kinh doanh trong nớc và giá xuất khẩu.
Riêng nông dân Mỹ đã đợc hởng mức trợ cấp tối thiểu trên 100 USD/tấn gạo. Tóm
lại xuất khẩu gạo của Mỹ thờng không tách rời mục đích chính trị: nó không phải
là hoạt động kinh tế thơng mại thuần tuý.
ấ n Độ: xuất khẩu gạo phần lớn sang các nớc thuộc khu vực Châu á, Châu Phi,
thứ đến Châu Âu và Mỹ latinh, mức xuất khẩu gạo tăng vọt của ấn Độ năm 1995 là
4,2 triệu tấn đã góp phần quyết định đa tổng sản lợng xuất khẩu gạo thế giới từ 16,7
triệu tấn năm 1994 lên mức kỷ lục 21 triệu tấn vào năm 1995.
Xuất khẩu gạo của ấn Độ đã giảm khoảng 0,6 triệu tấn trong năm 1996 và
giảm tiếp 1 triệu tấn vào năm 1997. Năm 1998 xuất khẩu gạo của ấn Độ là 2,2 triệu
tấn. Cùng với gạo đại trà, ấn Độ còn xuất khẩu gạo thơm đặc sản Basmati. Tuy
nhiên theo FAO, chủng loại gạo thơm Basmati xuất khẩu của ấn Độ không bằng
chất lợng gạo thơm đặc sản của Thái Lan.
Pakistan: Trớc chiến tranh thế giới thứ hai, Pakistan đã có mặt trên thị trờng
gạo thế giới. Từ đó đến nay, Pakistan vẫn là nớc xuất khẩu gạo truyền thống mặc dù
10
lợng xuất khẩu hàng năm không lớn, trung bình trên 1 triệu tấn gạo. Kể từ năm
1989 xuất khẩu gạo của nớc này vẫn duy trì tơng đối ổn định. Riêng năm 1991,
Pakistan đã vợt lên đứng vị trí thứ ba thế giới trong xuất khẩu gạo, sau Thái Lan và
Mỹ. Suốt nhiều năm qua, nớc này vẫn giữ đợc vị trí thứ năm của mình về xuất khẩu
gạo. Năm 1998 xuất khẩu gạo của nớc này đạt mức 2 triệu tấn và dự đoán sẽ giảm
xuống 1,75 triệu tấn năm 1999. Với diện tích lúa trong nớc 2,2 triệu ha, sản lợng
hàng năm 6 triệu tấn, trong khi đó dân số là 141 triệu ngời (đang phải tiêu dùng lúa
mì nhiều), Pakistan khó có thể tăng xuất khẩu gạo nhiều hơn nữa.
Gạo của Pakistan chủ yếu đợc xuất sang các nớc bạn hàng truyền thống Châu
á, thứ đến Châu Phi. Pakistan xuất khẩu phần nhiều cấp loại gạo trung bình 15-
20% tấm. Ngoài gạo nói chung, Pakistan cũng xuất khẩu gạo thơm đặc sản
Basmati. Cũng theo FAO chất lợng gạo thơm đặc sản của nớc này đợc đánh giá
gần bằng gạo thơm của Thái Lan và tốt hơn gạo thơm đặc sản của ấn Độ.
Ngoài ra còn một số nớc khác cũng tham gia xuất khẩu gạo cụ thể: Ôxtrâylia

11
Trên thực tế Trung Quốc đã huy động mọi khả năng có thể của mình trong sản
xuất. Do vậy năng xuất lúa năm 1995 đến năm 1999 đều đạt trên 60 tạ/ha. Tuy nhiên
diện tích lúa không tăng mà còn bị giảm. Sản lợng lúa tuy đứng đầu trên thế giới nhng
vấn cha đáp ứng đợc nhu cầu lơng thực ở quốc gia không lỗ về dân số. Về lâu dài
Trung Quốc vẫn phải duy trì nhập khẩu gạo nói riêng và lơng thực nói chung.
Iran: khác với 2 nớc trên, Iran nhập khẩu gạo khá ổn định trong nhiều năm
nay, trung bình đạt gần 1 triệu tấn/năm. Lợng nhập khẩu 1,1 và 1,3 triệu tấn năm
1993 và 1995 là những mức cao điển hình của nớc này. Từ năm 1990 - 1993, Iran
thờng xuyên đứng đầu thế giới trong nhập khẩu gạo. Ngoài hai năm 1994, 1995
nhập khẩu gạo của Iran gần đây (1996, 1997, 1998) lại tiếp tục duy trì ở mức cao.
Trong tơng lai xét về sản xuất lơng thực và dân số trong nớc với gần 70 triệu ngời,
Iran vẫn là nớc nhập khẩu chủ yếu, tơng đối ổn định, khả năng thanh toán khá cao.
Bangladesh: Suốt 6 năm liên tục từ 1989 - 1994 do có những cố gắng trong sản
xuất, nớc này chỉ nhập khẩu trung bình từ 0,2 - 0,3 triệu tấn gạo mỗi năm. Do sản l-
ợng lúa trong nớc giảm trên 2 triệu tấn trớc đó nên năm 1995 nhập khẩu gạo của
Bangladesh tăng vọt lên mức 1,3 triệu tấn. Sang năm 1996 nhập khẩu gạo của nớc
này lại giảm nhiều chỉ còn 0,5 triệu tấn. Cho đến năm 1998 thì nhập khẩu lại tăng
lên 1,8 triệu tấn và dự đoán sẽ giảm xuống còn 0,5 triệu tấn trong năm 1999.
Nếu xét chi tiết hơn về tình hình sản xuất lơng thực trong nớc và dân số, mức
nhập khẩu gạo trung bình hiện tại và trớc mắt của nớc này cũng chỉ ở mức 0,5 triệu
tấn. Nh vậy nếu nhìn chung các năm nhập khẩu gạo của Bangladesh vẫn đứng sau
Iran và cả ảrậpxêút.
ả rậpxêút: Suốt nhiều năm qua, nhập khẩu gạo của nớc này không khá ổn định
và có xu hớng tăng từ 0,7 đến 1 triệu tấn. Trong cơ cấu tiêu dùng lơng thực của
ảrậpxêút, lúa gạo (hầu hết nhập khẩu) chiếm khoảng 40%, còn lại lúa mì (tự sản
xuất) chiếm 60%. Với dân số gần 20 triệu ngời nhng diện tích canh tác lơng thực
rất hạn chế (dới 1 triệu ha), chủ yếu trồng lúa mì, sản lợng khoảng 2 triệu tấn, cho
nên nhập khẩu gạo của nớc này thể hiện tính phụ thuộc rất rõ nét và ít thay đổi.
Mặt khác khả năng tài chính cho việc nhập khẩu gạo đợc đảm bảo khá cao. Dự

hoàn (%)
100 107,73 71,79 184,17 84,39 118,98 102,96 150,99 120,66 103,26
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Từ năm 1989 - 1994 xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn đứng vào hàng thứ ba
trong các nớc xuất khẩu gạo, sau Thái Lan và Mỹ. Đến năm 1995, Việt Nam vấn
đứng thứ 3 nhng đã vợt Mỹ chỉ sau Thái Lan và ấn Độ. Năm 1996, Việt Nam đã
đuổi sát ấn Độ và năm 1997 Việt Nam xuất khẩu 3680 nghìn tấn và vơn lên đứng
thứ hai sau Thái Lan. Tỷ trọng gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm từ 10 - 19% l-
ợng gạo xuất khẩu của toàn thế giới. Dự đoán năm 1999, Việt Nam sẽ xuất khẩu đ-
ợc 4,4 triệu tấn gạo, đạt kỷ lục từ trớc tới nay.
Nhìn vào biểu 1 có thể đánh giá một cách tổng quan rằng sản xuất lúa gạo của
Việt Nam từ năm 1989 đến nay đã chuyển từ một ngành sản xuất tự cấp tự túc sang
sản xuất hàng hoá, sản lợng xuất khẩu ngày một tăng. Sản lợng lúa gạo của ta
không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nớc mà còn xuất khẩu trên dới 2 triệu tấn gạo.
Tuy nhiên sản lợng lúa gạo d thừa chủ yếu là ở Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ một
phần nhỏ ở đồng bằng sông Hồng. Các vùng khác sản lợng tuy có tăng nhng vẫn
thiếu lơng thực vì sản xuất ở các vùng này có nhiều khó khăn.
3.2. Chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Trong mấy năm gần đây, chất lợng gạo của Việt Nam đã tăng lên, gạo phẩm
cấp cao chiếm trên 40% tổng số gạo xuất khẩu. Tốc độ tăng của gạo có phẩm cấp
cao qua các năm không ổn định. Từ năm 1989 - 1994 tốc độ tăng bình quân năm là
0,53 lần (53%/năm). Từ năm 1995 - 1997 tốc độ này giảm xuống 0,14 lần
(14%/năm) nhng tốc độ tăng cả giai đoạn xuất khẩu (1989 - 1997) lại tăng lên 0,28
lần (28%/năm), tốc độ tăng của năm 1998 là 0,30 lần (30%/năm). Trong khi đó, tốc
độ tăng của gạo phẩm cấp trung bình và thấp là 0,19 lần (19%/năm) tăng chậm hơn
so với tốc độ tăng của gạo có phẩm cấp cao.
Biểu 2 - Thực trạng chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam
Năm
Tỷ lệ (%) chất lợng gạo xuất
khẩu so với tổng số

1989 226,1 310,2 100% 100%
1990 176,3 275,4 77,97 82,78
1991 226,1 229,8 128,25 83,44
1992 207,6 405,2 91,82 176,33
1993 203,1 335,6 97,83 82,68
1994 217,2 420,8 106,94 125,61
1995 262,0 538,8 120,63 127,85
1996 285,0 868,4 108,78 161,36
1997 244,5 891,00 85,79 102,60
1998 265,2 1006,0 108,46 112,90
8 tháng/99 227,2 750,0
Năm 1989 giá gạo xuất khẩu của ta từ chỗ bình quân 226,4 USD/tấn năm
1995; 285 USD/tấn năm 1996. Tốc độ tăng bình quân năm là 2,25%/năm. Tuy chỉ
tăng đợc 2,25%/năm nhng giá cũng phần nào phản ánh đợc sự tăng lên về chất lợng
gạo xuất khẩu của Việt Nam. Cơ cấu gạo xuất khẩu đã có sự thay đổi theo chiều h-
ớng tốt. Gạo có phẩm cấp cao (5-10% tấm) đã tăng lên. Bên cạnh đó, giá tạo tăng
lên còn do nhiều nguyên nhân khác chẳng hạn nh: sự đổi mới tích cực về cơ chế
quản lý, giá đã tránh đợc sự ép giá của bạn hàng và tránh đợc sự chèn ép giá giữa
các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam. Tuy vậy, vẫn còn một số nguyên
nhân dẫn đến sự giảm giá gạo chẳng hạn nh: năm 1997 giá gạo xuất khẩu của Việt
Nam chỉ còn là 244,5 USD/tấn thấp hơn so với năm 1996 là 40,5 USD/tấn. Nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến sự thụt giá này là do cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực
Đông Nam á. Kim ngạch xuất khẩu gạo cũng tăng lên đáng kể từ 310,2 triệu USD
năm 1989 lên tới 1.006 triệu USD năm 1998. Tốc độ tăng kim ngạch bình quân là
0,18%/năm. Kim ngạch xuất khẩu gạo tăng lên do sản lợng gạo xuất khẩu và giá
gạo xuất khẩu tăng. Kim ngạch xuất khẩu gạo đứng vị trí thứ hai sau kim ngạch
xuất khẩu dầu mỏ. Đây chính là thành công lớn trong giai đoạn đầu của quá trình
xuất khẩu gạo.
Tuy nhiên, lợng gạo xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm 1999 đã đạt 3,3 triệu tấn
nhng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 750 triệu USD và dự đoán cả năm 1999 có thể

mặt ở cả 5 Châu lục.
Thị trờng xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam là khu vực Châu á, kế đến là
khu vực Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Đại Dơng. Những nớc nhập khẩu lớn của Việt
Nam (tính từ 1991 đến 1997) là Inđonexia chiếm 7,42%, Trung Quốc 7,45%,
Philippine 6,47%, Cuba 6,72%, Malaysia 6,7%, Iran 4,62%, Pêru 4,5%, Irắc
3,74%, Srilanca 2,47%, SNG 1,96%, Senegan 1,57% v.v Tổng lợng gạo xuất khẩu
của Việt Nam. Năm 1998 các nớc nhập khẩu gạo chính của Việt Nam là Philipine,
Malaixia, Băngladet.
Thị trờng các nớc nhập khẩu lúa gạo chính của Việt Nam
Thị trờng gạo 1997
16
Châu Mỹ
33%
Trung Đông
13%
Châu Phi
10%
Châu Âu
3%
Châu á
41%
Thị trờng gạo 1998
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Thị trờng xuất khẩu gạo của Việt Nam tiếp tục đợc mở rộng chủ yếu ở những
thị trờng không đòi hỏi chất lợng cao cấp nh thị trờng Nhật Bản, EU, tuy nhiên
trong quá mở rộng thị trờng và tìm kiếm thị trờng mới, Việt Nam cũng bị mất dần
một số thị trờng. Nguyên nhân là do Việt Nam cha gây đợc lòng tin đối với bạn
hành, cha hình thành đợc mối quan hệ gắn bó, lâu dài và mật thiết. Các doanh
nghiệp xuất khẩu của Việt Nam vẫn làm ăn lối cò con, chớp nhoáng nên đã
làm ảnh hởng đến uy tín xuất khẩu của Việt Nam trên thị trờng thế giới. Do vậy

nghiệp phát triển Châu Âu thờng dùng gạo là lơng thực phụ trợ sau lúa mì. Nói
chung, khu vực này chuộng gạo tốt, hạt dài, đòi hỏi vệ sinh công nghiệp cao. Tỷ lệ
tấm thờng phải thấp, từ 5 - 10% ở Tây Âu, nhng ở Đông Âu lại chấp nhận từ 10 -
25% tấm. Cộng hoá Liên bang Đức: Đây là nớc nhập khẩu gạo lớn ở Tây Âu, trung
bình 15 - 20 ngàn tấn/năm đồng thời cũng xuất khẩu loại gạo đánh bóng. Nớc này
nhập khẩu gạo lức nhiều, chiếm 50% số còn lại thờng là gạo hạt tròn, xát thật trắng
tỷ lệ tấm 5%.
Anh: chuộng gạo xát trắng kỹ, đánh bóng tốt, kể cả hạt tròn và hạt dài, tỷ lệ
tấm tối đa 5%, có mùi thơm tự nhiên, thích nhất gạo thơm đặc sản.
Hà Lan: Thích gạo hạt dài, xát thật trắng, tỷ lệ tấm 5%. Nớc này tiêu thụ khá
nhiều gạo vì có nhiều khách sạn theo món ăn Trung Quốc, Indonesia.
Thuỵ Điển: loại gạo hạt tròn đợc tiêu dùng nhiều hơn chiếm từ 55 - 60%. Gần
đây tiêu dùng gạo trắng hạt dài có xu hớng tăng nhanh hơn.
Khu vực Nam Mỹ: Thị hiếu tiêu dùng gạo của Braxin là thích loại gạo trắng,
hạt dài, tẩy cám, đánh bóng kỹ, tỷ lệ tấm thấp 5 - 10%. Số hạt thóc lẫn không đợc
quá 5 hạt trong 1 kg gạo.
Các n ớc Nics: Hồng Kông lãnh thổ 6 triệu dân này thích gạo trắng, hạt dài,
chất lợng cao, xay xát kỹ và đánh bóng. Loại gạo thơm đặc sản (tám, dự của Việt
Nam) rất đợc a chuộng.
Singapore: thích gạo trắng, hạt dài có đánh bóng kỹ, tỷ lệ tấm thờng là 5%,
đòi hỏi chất lợng cao. Loại gạo thơm cũng đợc a chuộng với mức giá cao.
Nhật Bản: chuộng gạo không hấp, loại gạo hạt tròn, dẻo, xát thật trắng, tỷ lệ
tấm thấp, thờng là 5% hoặc thấp hơn nữa và đòi hỏi vệ sinh công nghiệp rất cao.
Thực tế những năm qua gạo xuất khẩu đạt tiêu chuẩn quốc tế cao đợc xếp cấp
loại A là gạo của Mỹ số 2, tỷ lệ tấm không quá 4%, hạt dài, trắng trong, cổ hạt đều,
không lẫn tạp chất, không có mùi vị lạ, cũng không lẫn hạt đỏ, vàng sọc, bạc bụng
giao dịch với mức giá cao. Ngay gạo Mỹ số 5, loại hạt trung bình, 20% tấm vẫn tốt
hơn và đạt mức giá cao hơn gạo Thái 100B (loại gạo trắng hạt dài 100%, không có
tấm). Nói chung gạo Thái Lan chỉ đợc xếp cấp loại B, giá thấp hơn gạo Mỹ rất
nhiều. Rất tiếc là gạo Việt Nam hiện cha đạt tiêu chuẩn chất lợng này nên giá xuất

rất ít.
Về chủng loại gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn là loại gạo tẻ hạt dài
đợc sản xuất hầu hết từ Đồng Bằng sông Cửu Long. Trong cơ cấu xuất khẩu đó gạo
đặc sản truyền thống cha đợc chú trọng phát triển. Chúng ta mới chỉ bớc đầu xuất
khẩu gạo Tám thơm đợc trồng ở miền Bắc, gạo Nàng Hơng, Chợ Đào ở Miền Nam
với số lợng nhỏ và không đều đặn qua các năm. Trong một thời kỳ dài bao cấp trớc
đây (1957 - 1986) xuất khẩu gạo đặc sản của Việt Nam không thờng xuyên và số l-
ợng nhỏ, ở mức trên 10 ngàn tấn một năm. Tới năm 1987 và 1988, con số này cũng
chỉ đạt 120 và 105 ngàn tấn. Riêng công ty VINAFOOD Hà Nội xuất khẩu trên
500 tấn gạo đặc sản sang thị trờng Hồng Kông, Singapore vào năm 1987, trong khi
đó khả năng xuất khẩu thực tế có thể đạt 2000 - 3000 tấn. Tháng 12 - 1993.
VINAFOOD Hà Nội lại xuất khẩu gạo đặc sản sang thị trờng Châu Âu với giá gần
600USD/tấn Vì lợng xuất quá nhỏ, lại không thờng xuyên cho nên nhìn chung
xuất khẩu gạo đặc sản Việt Nam cha đem lại hiệu quả lớn. Trong khi đó, Thái Lan
những năm qua vẫn đẩy mạnh xuất khẩu gạo đặc sản (Mali) với giá cao, gấp 1,5 lần
loại gạo tốt Thái 100B và khoảng 2,5 - 3 lần so với gạo Thái 25%. Tháng 10 -
1996 Thái Lan xuất khẩu gạo đặc sản với giá 702USD/tấn vào thị trờng Tây Âu.
Theo FAO, năm 1996, xuất khẩu gạo đặc sản của Thái Lan đạt khoảng 400 triệu
USD thị trờng chủ yếu là Mỹ, Tây Âu, Hồng Kông, Singapore Theo đánh giá của
ngời tiêu dùng, gạo đặc sản Mali của Thái Lan không có hơng vị thơm ngon độc
đáo nh gạo đặc sản Tám Xoan ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam.
Đứng đầu các nớc xuất khẩu gạo là Thái Lan, tiếp đó là Việt Nam. Năm 1998
xuất khẩu gạo của Thái Lan là 6,4 triệu tấn, của Việt Nam là 3,8 triệu tấn, Mỹ xuất
khẩu 3 triệu tấn, ấn Độ 2,2 triệu tấn và Pakistan xuất khẩu 2 triệu tấn. Nh vậy, nớc
xuất khẩu gạo cần quan tâm nhất hiện nay là Thái Lan.
Xem xét khả năng cạnh tranh giữa Việt Nam và Thái Lan trong xuất khẩu gạo,
cần chú ý mấy điểm sau:
Một, việc đánh giá địa vị và khả năng cạnh tranh giữa Việt Nam và Thái Lan
trong xuất khẩu gạo tất nhiên phải đợc xem xét toàn diện gồm các tiêu thức vĩ mô
và vi mô, các tiêu thức định tính và định lợng.

1993 31,79 11,92
1994 28,14 13,17
1995 28,23 11,00
1996 30,53 13,68
1997 26,60 18,62
1998 27,8 16,52
Trong suốt thời gian qua sản lợng gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn đứng đầu
thế giới. Thị phần xuất khẩu của Thái Lan chiếm khoảng trên dới 31%. Trong khi đó,
Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10% trong những năm đầu đã tăng lên gân 20% trong
những năm gần đây. Nh vậy, Thái Lan chi phối giá gạo trên thị trờng quốc tế. Để
cạnh tranh, Việt Nam thờng chịu thiệt thòi phải hạ giá thấp hơn so với Thái Lan, mặt
khác Việt Nam còn bị chèn ép về giá từ các nớc mới quay trở lại xuất khẩu nh ấn
Độ. Nớc này một khi đã tham gia xuất khẩu thờng tung ra thị trờng một khối lợng
gạo lớn làm cho mặt bằng giá gạo quốc tế giảm xuống. Tuy nhiên, giá gạo của Việt
Nam thấp hơn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, giữ vững, ổn định thị
trờng truyền thống, tìm kiếm và mở rộng một số thị trờng mới. Năm 1996, cuộc cạnh
tranh gạo phẩm cấp thấp diễn ra khá quyết liệt giữa gạo Việt Nam, ấn Độ, Thái Lan,
và Myanma do cung tăng, nhu cầu giảm. Năm 1997 nguồn cung gạo phẩm cấp thấp
20
giảm, song do đồng Baht mất giá, gạo xuất khẩu của Việt Nam chịu sức ép cạnh
tranh từ phía Thái Lan ở tất cả các loại gạo.
Chất lợng gạo của Việt Nam đã tăng lên, gạo phẩm cấp cao chiếm 40% tổng
số gạo xuất khẩu. Mặc dừ vậy, so với các nớc nh Thái Lan, Mỹ phẩm cấp gạo của
ta còn ở mức trung bình và thấp. Đây cũng là nhân tố làm cho giá gạo của Việt
Nam thấp hơn, chất lợng gạo thấp đã trở thành vật cản để Việt Nam xâm nhập vào
một số thị trờng đòi hỏi chất lợng cao nh thị trờng Nhật Bản EU Tại thị trờng gạo
cao cấp mà ta đã xâm nhập đợc nh Iran, Irắc gạo của Việt Nam cững bị gạo của
Thái Lan cạnh tranh gay gắt, quyết liệt. Nếu nh không có giải pháp gì để can thiệp
thì có thể Việt Nam sẽ bị mất đi thị trờng béo bở này. Bên cạnh đó, với phẩm cấp
trung bình và thấp, gạo của ta chủ yếu đợc xuất tới một số thị trờng không đòi hỏi

Thái Lan đã quyết định hạ giá các loại gạo phẩm thấp để cạnh tranh với gạo xuất
khẩu của Việt Nam. Gạo 25% tấm của Thái Lan chào bán với giá 190-200
21
USD/tấn. Trong khi đó các nhà xuất khẩu gạo của Việt Nam không chịu bán loại
gạo này thấp hơn 200 USD/tấn FOB cảng Việt Nam. Mặc dù vậy, nhu cầu mua gạo
của Việt Nam vẫn khá mạnh, hiện nay ở cảng thành phố Hồ Chí Minh luôn có 25-
28 tàu chờ ăn hàng.
Gần 3 tháng qua giá gạo trên thị trờng Châu á đã giảm khá mạnh. Tại Thái
Lan, giá bán gạo 100% B đã giảm từ 265 USD/tấn FOB (đầu tháng 8 năm 1999)
xuống 240 USD/tấn, FOB (cuối 8-1999) giảm 25 USD/tấn (9,4%). Mức giá thấp
này đợc duy trì trong suốt ba tuần đầu tháng 9-1999. Giá gạo 25% tấm của Thái
Lan cũng giảm mạnh, từ 225 USD/tấn FOB (ngày 2-8-1999) xuống 203-206
USD/tấn, FOB (những ngày 9-17/9/99), giảm 20-22 USD/tấn (9-10%). Tại Việt
Nam, giá chào bán gạo các loại cũng giảm nhanh. Gạo 5% tấm giảm 10-12
USD/tấn, từ mức phổ biến 230-231 USD/tấn, FOB (tháng 8-1999) xuống 224-226
USD/tấn, FOB (tuần đầu 9-1999), rồi xuống 218-220 USD/tấn, FOB (những ngày
13-17/9/1999); gạo 25% tấm, giảm 16 USD/tấn ngày 17-8 còn 196 USD/tấn, FOB.
Tại Pakistan, suốt 3 tháng (6-8/199), mặc dù nhu cầu thấp nhng do nguồn
cung hạn chế, giá chào bán gạo 25% tấm của nớc này luôn duy trì ở mức cao 230-
235 USD/tấn, FOB. Nhng từ đầu tháng 9-1999, cùng việc bắt đầu thu hoạch vụ lúa
mới, giá chào bán gạo 25% tấm đã giảm mạnh, còn 210 USD/tấn, FOB.
Theo Bangkok Post, nguồn cung gạo đang tăng lên đáng kể ở cả những nớc
xuất khẩu và nhập khẩu chính.
Tại Thái Lan, nớc xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, ớc tính sản lợng thóc vụ chính từ
tháng 5 đến tháng 10-1999 tăng hơn 9% (1,6 triệu tấn) so vụ trớc, đạt 18,98 triệu tấn, khả
năng sản xuất vụ 2 của Thái Lan tuy không tăng nhng có thể đạt mức cao của vụ trớc là
5,2-5,5 triệu tấn thóc. Đồng Baht giảm giá, suốt tháng 9 và tháng 10-1999 duy trì ở mức
thấp 39,8-40,2 Baht/USD giảm thêm 5,2% so với 37,50 Baht/USD đầu tháng 8-1999,
càng khuyến khích nguồn cung gạo cho xuất khẩu của Thái Lan tăng.
Tại Việt Nam, nớc xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, năm 1999 đợc mùa lúa ở

của Philippin 9 tháng đầu năm 1999 ớc tăng 29% so cùng kỳ 1998, lên 3,688 triệu
tấn. Sản lợng lơng thực tăng cao làm Philippine sẽ không phải nhập khẩu gạo trong
quý 4/1999 và hai tháng đầu năm 2000.
Có nghĩa là các nhà nhập khẩu gạo của Indonexia và Philippine (hai khách
hàng nhập khẩu gạo lớn, có tác động lớn đến thị trờng gạo thế giới) thì năm nay
hầu nh tạm ngừng tham gia thị trờng.
Việc Indonexia, nớc nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới vắng bóng trên thị trờng
đã làm nhu cầu gạo giảm sút. Trong khu nguồn cung gạo ở các nớc xuất khẩu lớn
nh Thái Lan, Việt Nam, ấn Độ, Pakistan tăng mạnh. Cung tăng mạnh, cầu thấp.
Cạnh tranh trên thị trờng gạo thế giới sẽ quyết liệt hơn.
Việc Indonexia ngng nhập khẩu gạo đã làm lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam
giảm mạnh (vì Indonexia là nớc nhập khẩu 70% lợng gạo xuất khẩu của Việt
Nam). Vì vậy trong thời gian tới Việt Nam phải cạnh tranh rất quyết liệt để dành đ-
ợc thị trờng xuất khẩu.
Trong bối cảnh nh trên, các nớc xuất khẩu gạo đã giảm giá bán để đẩy mạnh
việc tiêu thụ. Điều này đã lý giải vì sao trong mấy tháng gần đây khoảng chênh
lệch và giá xuất khẩu gạo của Thái Lan và Việt Nam ngày càng hẹp lại, và cho đến
nay chỉ còn chênh lệch 3-7 USD/tấn. Thực tế này tuy có làm cho tình hình xuất
khẩu gạo của ta có khó khăn hơn, cạnh tranh gay gắt hơn; nhng nhờ sự chỉ đạo sâu
sát của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp và sự cố gắng tích
cực của các doanh nghiệp đầu mối nên trong 9 tháng vừa qua, mặc dù thị trờng
xuất khẩu gặp nhiều khó khăn chúng ta vẫn đạt sản lợng xuất khẩu 3,823 triệu tấn
gạo, tăng gần 22% so cùng kỳ năm 1998; trong khi đó hầu hết các nớc xuất khẩu
chủ yếu nh Thái Lan, Trung Quốc, Pakistan, đều giảm so cùng kỳ năm trớc. Tuy
nhiên, do giá xuất khẩu bình quân 9 tháng qua chỉ đạt 223 USD/tấn, so với giá bình
quân 9 tháng đầu năm 1998 là 265 USD/tấn, giảm tới 42 USD/tấn, do vậy kim
ngạch xuất khẩu chỉ tăng 3% so cùng kỳ năm 1998.
Theo số liệu của ngành lơng thực, từ đầu trung tuần tháng 10 đến nay, một số
đồng tiền trong khu vực, nh đồng Baht (Thái Lan), đồng Rupiah (Indonexia) cũng
vững lên chút ít, hỗ trợ cho thị trờng gạo, theo đó giá xuất khẩu gạo của Thái Lan

Ngoại thơng Thái Lan đang cố gắng đàm phán kỳ hợp đồng cấp Chính phủ bán gạo
cho ảrậpxeút, Irắc. Ngoài ra, Thái Lan đang xúc tiến ký kết hợp đồng bán gạo phẩm
cấp cao cho các nớc nhập khẩu truyền thống nh Mỹ, EU, Nhật Bản và bán gạo phẩm
cấp thấp, tấm cho khu vực Châu Phi, Trung Mỹ.
Để đối phó với tình hình trên và hỗ trợ cho thị trờng lúa gạo, giữ cho giá lúa
không tiếp tục xuống thấp bất lợi cho nông dân, Chính phủ đã có nhiều giải pháp về
tài chính, tiền tệ, giá cả, để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và xuất khẩu gạo.
Mới đây, tại văn bản số 1039/CP-KTTH ngày 30/9/1999 Thủ tớng Chính phủ đã ra
quyết định điều hành xuất khẩu gạo trong quý IV/1999, trong đó cho phép các
doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo trực tiếp hoặc qua nớc thứ 3 vào một số thị tr-
ờng tập trung nh Irax, Indonexia, Malaysia, Philippine, ngoài số lợng gạo đã đợc
đăng ký hợp đồng theo thoả thuận của Chính phủ tại các thị trờng này, giao Bộ th-
ơng mại xúc tiến việc thoả thuận với Chính phủ một số nớc có nhu cầu mua gạo trả
chậm của Việt Nam, trớc mắt thoả thuận bán 300.000 tấn gạo trả chậm sau một
năm, nhng các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm vay vốn, thoả thuận giá cả và
thu hồi vốn. Đồng thời, Thủ tớng Chính phủ giao cho Bộ Tài chính sử dụng quỹ hỗ
trợ xuất khẩu để hỗ trợ 100% lãi suất vay Ngân hàng trong thời gian tạm trữ xuất
khẩu 400.000 tấn gạo trong quý IV/1999 (Bộ Thơng mại đã phân bổ chỉ tiêu tạm
trữ 400.000 tấn gạo cho 2 tổng công ty lơng thực miền Bắc và miền Nam, công ty
Gedosica, TP. Hồ Chí Minh và 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long). Theo ớc tính
của các cơ quan chức năng, lợng gạo tồn kho và nằm trong dân còn khoảng 1 triệu
tấn, dự kiến trong quý IV này có khả năng xuất khẩu 500.000 tấn còn 500.000 tấn
gối đầu cho năm 2000. Nếu thực hiện tốt ý kiến chỉ đạo của thủ tớng Chính phủ và
24
đảm bảo tốt chỉ tiêu tạm giữ, hoàn toàn có khả năng cho phép giữ đợc ổn định giá
cả thị trờng lúa gạo nh mức hiện nay.
5-/ Những hạn chế trong cạnh tranh xuất khẩu gạo của Việt Nam:
Bên cạnh những lợi thế trong cạnh tranh, sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt
Nam đang còn nhiều yếu kém làm hạn chế khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam
trên thị trờng quốc tế.

nâng cấp. Kho của các chủ khu vực, cơ sở xay xát chỉ tạm chứa 320.000 tấn trong thời
gian ngắn, không đủ điều kiện bảo quản lúa gạo lâu ngày. Nếu sử dụng hết công suất các
kho chỉ chứa đợc 6-7 triệu tấn lúa hàng hoá còn lại khoảng 2-3 triệu tấn lúa hàng hoá nằm
ở trong dân hoặc chuyển đi nơi khác. Nhìn chung, việc cơ giới hoá quá trình thu hoạch
lúa của ta còn hết sức hạn chế. Mặt khác kỹ thuật bảo quản của ta hiện nay vẫn không có
gì thay đổi nhiều so với những năm của thập kỷ 60.
Qua nghiên cứu, điều tra thì tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch của ta là rất lớn, điều
này đã dẫn đến chi phí sản xuất tăng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status