thực trạng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở huyện chợ mới đến năm 2010 - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
VÕ THANH PHÚ
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Long Xuyên, tháng
05/2006
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH NÔNG NGHIỆP
Sinh viên thực hiện: Võ Thanh Phú
Lớp: DH3KN1 Mã số SV: DKN021166
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Quang Cảnh
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐẠI HỌC AN GIANG
Long Xuyên, tháng
05/2006
Người hướng dẫn: Vũ Quang Cảnh
Người chấm, nhận xét 1:
Người chấm, nhận xét 2:
Luận văn được bảo vệ tại hội đồng chấm bảo vệ luận văn
Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, ngày… tháng……,năm…….


NỘI DUNG TÓM TẮT
LỜI CẢM TẠ

Chân thành khắc ghi công ơn cha mẹ, người đã sinh tôi, dạy dỗ tôi
và nuôi tôi nên người.

cấp và thứ cấp thu thập được, sau đó thông qua tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh. Từ
đó thấy rõ hơn thực trạng hoạt động của các HTX.NN. Qua đề tài nghiên cứu sẽ để xuất
những phương hướng và giải pháp góp phần hạn chế những tồn tại, yếu kém của các
HTX.NN hiện nay, đồng thời đưa kinh tế HTX.NN phát triển phù hợp với xu thế phát triển
của xã hội trong nền kinh tế thị trường và điều kiện của huyện Chợ Mới tỉnh An Giang.
Sinh viên thực hiện đề tài: Võ Thanh phú
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Quang Cảnh

MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Trang
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Lý do chọn đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3. Phương pháp nghiên cứu 1
1.4. Phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ
HỢP TÁC XÃ 3
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN 3
2.1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1.1.1. Quan điểm của C.Mac, V.I.Lenin và Chủ Tịch Hồ Chí Minh về Kinh tế
hợp tác và hợp tác xã 4
2.1.1.2. Quan điểm của Đảng ta về phát triển HTX 4
2.1.1.3. Vai trò của nhà nước đối với sự ra đời của HTX 4
2.1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 8
2.1.2.1. Tình hình phát triển mô hình kinh tế hợp tác ở các nước trên thế giới 8
2.1.2.2. Tình hình phát triển mô hình kinh tế hợp tác ở Việt Nam 10

4.2. Định hướng phát triển 46
4.3. Yêu cầu nhiệm vụ 47
4.4. Các giải pháp chủ yếu 48
4.4.1. Công tác tuyên truyền vận động 49
4.4.2. Giải pháp củng cố, phát triển Hợp Tác Xã 49
4.4.3. Giải pháp đào tạo cán bộ 51
4.4.4. Giải pháp về đất đai 51
4.4.5. Giải pháp về vốn, tín dụng 52
4.4.6. Một số giải pháp khác 52
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1. KẾT LUẬN 54
5.2. KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ : Ban chỉ đạo
BQ : Bình quân
BQT – BKS : Ban quản trị - Ban kiểm soát

CB : Cán bộ
CB – CNV : Cán bộ - Công nhân viên
CB HTX : Cán bộ hợp tác xã
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CNH – HĐH NNNT : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CHLB : Cộng hòa liên bang
CT.UB : Chỉ thị.Ủy ban
CT.TU : Chỉ thị.Tỉnh ủy
CV – CV/UB : Công văn –Công văn/Ủy ban

Bảng 3.3: Trình độ quản lý HTX.NN Huyện Chợ Mới 26
Bảng 3.4: Chỉ tiêu về trình độ của cán bộ quản lý HTX 27
Bảng 3.5: Tình hình huy động vốn điều lệ thực tế so với vốn điều lệ khi thành lập của các
HTX Chợ Mới 29

Bảng 3.6: Phân loại HTX theo quy mô vốn góp 31
Bảng 3.7: Vốn hoạt động của các HTX Huyện Chợ Mới tỉnh An Giang giai đoạn 2002-
2009 31
Bảng 3.8: Tài sản, tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc sở hữu tập thể hợp tác xã 32
Bảng 3.9: Diện tích phục vụ của HTX Huyện Chợ Mới Tỉnh An Giang từ năm 2001 –
2005 34
Bảng 3.10: Nội dung hoạt động của các HTX.NN Huyện Chợ Mới 34
Bảng 3.11: Kết quả sản xuất kinh doanh các HTX trong thời gian qua 37
Bảng 3.12: Tỷ lệ lợi nhuận của các HTX.NN trong Huyện 38
Bảng 3.13: Các HTX trả nợ năm 2005 39
Bảng 3.14: Đánh giá phân loại HTX trên địa bàn Huyện Chợ Mới 40
Bảng 3.15: Đánh giá phân loại các HTX.NN trên địa bàn huyện Chợ Mới và của cả Tỉnh 41
Bảng 3.16: Kết quả khảo sát những khó khăn thường gặp trong quá trình hoạt động vừa
qua của 12 HTX trong huyện Chợ Mới 44
Bảng 4.1: Các đề xuất kiến nghị của các HTX.NN 49
DANH MỤC BIỂU ĐỒ và BẢNG ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Số lượng HTX.NN ở An Giang giai đoạn 2001 – 2005 15
Biểu đồ 3.1: Số lượng các HTX.NN Huyện Chợ Mới qua các năm 23
Biểu đồ 3.2: Số lượng các HTX.NN ở các Huyện của tỉnh An Giang tính đến năm 2005 23
Biểu đồ 3.3: Lãi TB/HTX 38
Bản đồ 3.1: Các xã, TT ở Chợ Mới 19
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Các biểu bảng
Phụ lục 2: Thẻ xã viên

xã hội trong nền kinh tế thị trường và điều kiện của Huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Việc
đánh giá lại thực trạng và định hướng phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp là hết sức cần
thiết. Với lý do này, tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông
nghiệp ở Huyện Chợ Mới đến năm 2010” làm luận văn tốt nghiệp Đại học của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp Huyện Chợ Mới trong thời gian
qua, chỉ ra những mặt khó khăn, còn hạn chế để từ đó đề xuất những phương hướng và giải
pháp mang tính khả thi góp phần đưa phong trào hợp tác xã nông nghiệp phát triển, mang lại
nhiều lợi ích cho người dân và góp phần thúc đẩy nền kinh tế Huyện Chợ Mới phát triển.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
1.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA (Participatory Rural Appraisal)
- Thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
- Dựa vào phân loại HTX.NN, tiến hành khảo sát 12/22 HTX.NN. Đồng thời chọn
mẫu ngẫu nhiên, phỏng vấn 30 xã viên HTX và 30 người dân không phải là xã viên của
HTX
1.3.1.1. Dữ liệu thứ cấp
Thu từ các nguồn như: Chi cục HTX tỉnh An Giang, Sở NN & PTNT An
Giang; Cục thống kê An Giang; Phòng NN & PTNT, Ủy ban nhân dân, phòng thống
kê,…huyện Chợ Mới, các báo cáo có liên quan, tập chí và Internet. Các nghiên cứu khoa
học có liên quan đến đề tài.
1.3.1.2. Dữ liệu sơ cấp
SVTH: Võ Thanh Phú Trang 1
Thực trạng và giải pháp phát triển GVHD: Vũ Quang Cảnh
các HTX.NN Huyện Chợ Mới đến năm 2010
- Tiến hành điều tra, khảo sát 12/22 HTX.NN, phỏng vấn trực tiếp người
dân ở trên địa bàn Huyện Chợ Mới
- Đối với các đối tượng khác, tác giả ghi nhận hoặc tham khảo những ý kiến
đóng góp như: Chi cục HTX, Phòng NN & PTNT huyện Chợ Mới, giảng viên của khoa
KT-QTKD trường Đại Học An Giang, những ý kiến đóng góp của giáo viên hướng dẫn,

CHƯƠNG 2: SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHÁT
TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1.1. Quan điểm của C.Mac, V.I.Lenin và Chủ Tịch Hồ Chí Minh về kinh tế hợp
tác và hợp tác xã
Phong trào HTX trên thế giới đã có hơn một trăm năm nay, khi những người sản xuất
nhỏ, hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa buộc phải dựa vào nhau để tồn tại và
phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hoặc ở những nơi thiên
tai quá khắc nghiệt
Lịch sử ra đời và phát triển của phong trào HTX Quốc Tế cho thấy, kinh tế hợp tác
và HTX là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Sản xuất hàng hóa càng phát triển,
cạnh tranh ngày càng gay gắt, thì những người lao động riêng lẻ, các hộ sản xuất cá thể, các
doanh nghiệp nhỏ và vừa càng có yêu cầu liên kết, hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển
trong cơ chế thị trường. Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là một biện pháp để giải quyết
mâu thuẫn của sự phát triển từ sản xuất nhỏ, manh mún, hiệu quả thấp lên sản xuất hàng hóa
lớn.
Trước đây, khi nghiên cứu về phương thức sản xuất TBCN, C. Mác đã khẳng định:
“Dù sao thì điều chủ yếu cũng phải làm cho nông dân hiểu rằng chúng ta chỉ có thể cứu vãn
và bảo tồn được tài sản của họ bằng cách biến tài sản đó thành tài sản hợp tác xã và thành
những doanh nghiệp hợp tác xã. Bởi vì chính nền kinh tế cá thể, kết quả của sở hữu tư nhân,
mới làm cho nông dân bị diệt vong. Nếu họ muốn bảo tồn nền kinh tế cá thể, thì tất yếu họ sẽ
bị đuổi ra khỏi cơ nghiệp của họ, còn phương thức sản xuất lỗi thời của họ sẽ nhường chỗ
cho nền kinh tế TBCN quy mô lớn…” (C.Mác – F.Ăngghen toàn tập, tập 22, NXB CTQG sự
thật HN – 2005, trang 738). Chính vì thế ông cho rằng nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu
nông, trước hết phải hướng nền kinh tế cá thể và sở hữu của họ vào con đường kinh doanh
hợp tác, không phải bằng bạo lực, mà bằng tấm gương và bằng sự giúp đỡ của xã hội.
Trên cơ sở kế thừa lập trường tư tưởng của C.Mác, căn cứ vào tình hình cụ thể nước
Nga thời bấy giờ, trong chính sách kinh tế mới, khi đưa ra chính sách kinh tế mới, V.I.Lênin
đã chỉ rõ: “Lối làm ăn xưa, người nông dân làm việc ở nhà mình, trên mảnh đất nhỏ bé của

thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh thì cần phải có hợp tác xã (HCM: toàn
tập, NXB chính trị quốc gia, HN, 1996, tập 10, trang 210)
Trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều nước, sự phát triển của kinh tế hợp
tác xã đã minh chứng một chân lý là: Kinh tế tập thể nói chung và hợp tác xã nói riêng không
phải là khu vực chính để tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế mà là khu vực có vai
trò, vị trí quan trọng trong giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao
động, nhất là ở các nước đang phát triển, tạo sự ổn định về chính trị xã hội, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, ở nhiều nước Chính phủ rất quan tâm và
có chính sách ưu đãi, nâng đỡ khu vực kinh tế tập thể, coi sự phát triển của kinh tế tập thể nói
chung và HTX nói riêng là một tất yếu khách quan
2.1.1.2. Quan điểm của Đảng ta về phát triển HTX
Ở nước ta, phát triển kinh tế tập thể và HTX là nhu cầu thực tế khách quan, đáp ứng
của đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; là tất yếu của nền kinh tế hàng hoá, xét cả về
mặt lý luận lẫn thực tiễn; phát triển HTX xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của kinh tế hộ,
là chỗ dựa vững chắc cho kinh tế hộ, người lao động riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt .
Đảng ta đã khẳng định qua nhiều kỳ đại hội phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN và Nghị quyết Đại hội IX đã chỉ rõ: “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp
luật điều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa,
cùng phát triển lâu dài hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.
Điều này có nghĩa là trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tập thể mà nòng cốt
là HTX, trong đó có HTX.NN cùng với kinh tế nhà nước giữ vị trí là nền tảng của nền kinh tế
quốc dân định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời HTX.NN còn là nòng cốt trong hệ thống
các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, thực hiện vai trò quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế xã hội ở nông thôn.
2.1.1.3. Vai trò của nhà nước đối với sự ra đời của HTX
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, muốn cho nông nghiệp phát triển ổn định,

các HTX được phân loại theo mô hình tập đoàn doanh nghiệp chỉ nộp thuế10%, trong khi các
doanh nghiệp tư nhân nộp thuế từ 18% - 32%.
+ Từng bước xây dựng mối liên kết các hoạt động chuyển giao khoa học công
nghệ, sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản giữa các HTX.NN với các nhà khoa học và
doanh nghiệp lưu thông nông sản, thúc đẩy HTX.NN phát triển và thu hút nhiều xã viên. Điển
hình ở Thái Lan năm 2001 có 3.370 HTX.NN với 4.789.493 xã viên.
 Ở Việt Nam
Từ khi HTX ở Việt Nam hình thành và phát triển cho đến nay, Nhà nước Việt
Nam đã có rất nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo và khuyến khích phát triển kinh tế HTX.
- Chính sách đối với hợp tác xã trước khi có luật HTX
Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, việc tổ chức nông
dân vào HTX.NN là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp tập thể
hóa, làm công cụ cho việc chỉ huy thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội.
Chính sách phát triển HTX.NN trong thời kỳ này là: tập thể hóa triệt để về ruộng
đất và các tư liệu sản xuất cơ bản khác; tổ chức lao động tập thể và thống nhất phân phối thu
nhập trong HTX. Mọi kế hoạch trong HTX đều phải tuân theo kế hoạch từ cấp trên đưa
SVTH: Võ Thanh Phú
Thực trạng và giải pháp phát triển GVHD: Vũ Quang Cảnh
các HTX.NN Huyện Chợ Mới đến năm 2010
xuống. HTX được coi là một tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của nhà nước. Trong giai đoạn
này do các chính sách không phù hợp nên nền nông nghiệp của nước ta đã trì trệ kéo dài dẫn
đến khủng hoảng kinh tế trong nước.
Từ năm 1981 đến năm 1988, nước ta bắt đầu thi hành một số chính sách mới, đặc
biệt là chính sách khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đã bước đầu giải
phóng một phần lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn. Nhưng đó chỉ là giải
pháp tình thế; Nhìn chung, mô hình HTX.NN và nhiều chính sách của Nhà nước chưa được
sửa đổi cơ bản.
Từ năm 1988, chúng ta đã thực hiện đường lối đổi mới nhằm chuyển nền kinh tế
từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường.
Hàng loạt các chính sách mới trong nông nghiệp đã ban hành: NQ 10/NQ-TW, ngày

trong nông nghiệp. Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế của những người lao động sản
xuất nhỏ, bao gồm nông dân, thợ thủ công, người buôn bán và làm dịch vụ nhỏ, cùng làm
ăn tập thể.
SVTH: Võ Thanh Phú
Thực trạng và giải pháp phát triển GVHD: Vũ Quang Cảnh
các HTX.NN Huyện Chợ Mới đến năm 2010
 Các nguyên tắc hoạt động của HTX nông nghiệp
 Nguyên tắc 1: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX.NN
Theo nguyên tắc này, tất cả nông dân và những người lao động từ 18 tuổi trở
lên có hành vi dân sự đầy đủ, có góp vốn, góp sức, tán thành điều lệ HTX nông nghiệp
điều có thể trở thành xã viên HTX nông nghiệp. Xã viên có quyền ra khỏi HTX theo
qui định của điều lệ từng HTX nông nghiệp
 Nguyên tắc 2: Dân chủ, bình đẳng và công khai trong quản lý HTX
Theo nguyên tắc này, mọi xã viên HTX nông nghiệp điều có quyền tham gia
quản lý, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của HTX và có quyền ngang nhau và có một
phiếu khi biểu quyết để giải quyết công việc của HTX mà không phụ thuộc vào số vốn
hoặc công sức của họ đã góp vào HTX.
 Nguyên tắc 3: tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi
Theo nguyên tắc này, HTX tự chịu trách nhiệm về lựa chọn phương án sản
xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và địa bàn hoạt; Tự chiụ trách nhiệm về kết quả và hiệu
quả của các phương án đó theo tinh thần “Lời ăn, lỗ chịu”. Tự chịu trách nhiệm về các
khoản nợ trong phạm vi vốn góp của xã viên và vốn điều lệ của các HTX. Tự quyết
định về phân phối thu nhập, kết hợp hài hòa giữa các lơi ích: xã viên, HTX, nghĩa vụ
đối với nhà nước, góp phần xây dựng cộng đồng dân cư, bảo đảm HTX và xã viên cùng
có lợi.
 Nguyên tắc 4: Hợp tác và phát triển cộng đồng
Vận dụng nguyên tắc này, HTX phải bù đắp các khoản lỗ năm trước (nếu có),
sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế, số còn lại một phần trích lập các quỹ của
HTX, phần còn lại chia cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp, theo mức độ sử
dụng dịch vụ của HTX và do đại hội xã viên quyết định theo nguyên tắc biểu quyết đa

88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích
phát triển hợp tác xã; Nghị định số 94/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 về giải quyết quyền lợi
của người lao động ở doanh nghiệp và hợp tác xã bị phá sản; Mới đây nhất là Thông tư số
02/2006/TT-BKH ngày 13/02/2006 của Bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn thực hiện một số
điều tại Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về một số
chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX.
 Ở An Giang: ngoài việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước. Tỉnh ủy, UBND tỉnh còn ban hành nhiều chủ trương, chính sách riêng
nhằm đẩy mạnh kinh tế hợp tác: chương trình hành hành động số 02/CTr-TU
ngày 27/7/1996 thực hiện Chỉ thị 68 của Bí thư, ngày 01/7/1998 UBND tỉnh An
Giang lại ra chỉ thị về tập trung phát triển HTX gắn với công tác xóa đói giảm
nghèo; Chỉ thị số 10-CT/TU ngày 02/8/2002 của Tỉnh ủy An Giang về tiếp tục
đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Chỉ thị số 35/200//CT-
UB ngày 25/12/2003 của UBND Tỉnh An Giang về việc đẩy mạnh xây dựng các
hợp tác xã và trang trại nông lâm ngư nghiệp và thủy sản.
2.1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1.2.1. Tình hình phát triển mô hình kinh tế hợp tác ở các nước trên thế giới
Đại hội liên minh hợp tác xã Quốc Tế lần thứ 31 họp tại Manchester (Anh) ngày 19-
23/09/1995 định nghĩa: “Hợp tác xã là những hiệp hội tự chủ của những người tự nguyện liên
kết lại với nhau để đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu chung của họ về văn hóa, xã hội, kinh tế
thông qua một tổ chức do chính các thành viên cùng làm chủ và kiểm tra theo nguyên tắc dân
chủ”
Còn theo tổ chức lao động Quốc Tế - ILO định nghĩa: “HTX là sự liên kết của
những người gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết lại trên cơ
sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX
phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự
chủ, tự chịu trách nhiệm và cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp
tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung”.
HTX là doanh nghiệp tập thể phỗ biến trên thế giới, một hình thức tổ chức của kinh
tế tập thể, được thành lập tổ chức hoạt động theo qui định của pháp luật, nhằm tiến hành các

HTX.NN đã cung cấp cho nông dân xã viên 89% phân hóa học, 75% thuốc trừ sâu, 54% thức
ăn gia súc, 44% máy nông nghiệp và tiêu thụ 95% thị trường lúa gạo, 25% thị trường rau,
16% thị trường thịt của Nhật. Còn ở Ấn Độ, các HTX chế biến tiêu thụ đã đảm nhận việc chế
biến và tiêu thụ hàng năm với khối lượng 35 triệu tấn sữa của 6 triệu hộ nông dân nuôi trâu,
bò sữa của nước này.
Ở các nước Liên Xô (cũ), Đông Âu, Trung Quốc, HTX.NN ra đời và phát triển
mạnh từ những thập niên đầu thế kỷ XX. Ở Liên Xô (cũ), từ sau Cách Mạng Tháng Mười
năm 1917 đến năm 1928, có 65.000 HTX cung tiêu với 37,5% hộ nông dân tham gia và
33.400 HTX dich vụ kỹ thuật dùng chung máy nông nghiệp do nông dân tự nguyện tổ chức
ra. Còn ở các nước Đông Âu trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai, đều có mạng lưới
HTX.NN. Năm 1944, ở Bungary có 4114 HTX, trong đó có 3156 HTX nông thôn với 1,6
triệu xã viên hoạt động ở các lĩnh vực như tín dụng, cung tiêu hoa hồng, rượu nho, thuốc lá,
củ cải đường, dâu tằm, thủy lợi, vận chuyển. Ở Trung Quốc, từ năm 1949 – 1957 đã tổ chức
được 740.000 HTX.NN theo mô hình tập thể hóa, tập hợp gần 120 triệu hộ nông dân vào làm
ăn tập thể. Năm 1992 ở Trung Quốc có 60.000 HTX tín dụng nông thôn, tổng doanh số mạng
lưới HTX tín dụng là 119 tỷ nhân dân tệ, đáp ứng khoảng 60 – 70% nhu cầu tín dụng cho các
hộ nông dân.
Tuy nhiên, ở Liên Xô (cũ) và một số nước XHCN, các mô hình HTX tập thể hóa
hình thành trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung phụ thuộc vào nhà nước, khác với bản
chất HTX của nền kinh tế thị trường, đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã lâm vào khủng
hoảng và tan rã hàng loạt nhường chỗ cho HTX kiểu mới ra đời phù hợp cơ chế thị trường và
nguyện vọng của các nông, ngư dân.
SVTH: Võ Thanh Phú
Thực trạng và giải pháp phát triển GVHD: Vũ Quang Cảnh
các HTX.NN Huyện Chợ Mới đến năm 2010
2.1.2.2. Tình hình phát triển mô hình kinh tế hợp tác ở Việt Nam
Ở Việt Nam, HTX chủ yếu là HTX.NN được bắt đầu xây dụng từ tháng 8/1955, tức
sau khi Nghị quyết TW lần thứ 14 (khóa II) ra đời, Nghị quyết này chủ trương xây dựng thí
điểm các HTX từ năm 1955 đến nay, phong trào HTX ở Việt Nam có thể chia ra làm 02 giai
đoạn chính:

đã có nhiều chuyển biến đáng kể, phát triển và dần đi vào ổn định. ở nhiều nơi HTX đóng vai
trò đầu mối trong việc tham gia các chương trình kinh tế - xã hội của Nhà nước, góp phần
không nhỏ vào việc xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, đặc biệt là ở khu vực vùng sâu
vùng xa. Kết quả cụ thể như sau:
• Tổ hợp tác
Trong những năm qua, tổ hợp tác tiếp tục phát triển hầu khắp trên cả vùng miền cả
nước. Năm 2004, cả nước có trên 100.000 tổ hợp tác, tăng gần 10.000 tổ so với năm 2002
(tăng bình quân 5%/năm). Từ nhu cầu phát triển kinh tế hộ và điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi
địa bàn nên tổ hợp tác được thành lập với hình thức tổ chức, quy mô và nội dung hoạt động
rất đa dạng và phong phú. Hoạt động của tổ hợp tác chủ yếu là giúp đỡ, tương trợ nhau trong
SVTH: Võ Thanh Phú
Thực trạng và giải pháp phát triển GVHD: Vũ Quang Cảnh
các HTX.NN Huyện Chợ Mới đến năm 2010
sản xuất và đời sống như: trao đổi kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ nhau về bơm nước, làm đất,
giống mới, cung cấp thông tin và tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kinh mương, bờ bao chống lũ,
cải tạo đất ruộng…Nét nổi bật của tổ hợp tác những năm qua là:
+ Tổ chức quản lý của hợp tác xã từng bước được hoàn thiện và chặt chẽ hơn .
+ Nội dung hoạt động được mở rộng hơn, bám sát các chương trình chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị thu được trên đơn vị diện tích tăng thu nhập cho
thành viên.
+ Tổ hợp tác đã khắc phục được một số mặt yếu kém của kinh tế hộ, và đáp ứng nhu
cầu về vốn, công cụ, kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất; tăng sức mạnh cạnh tranh thị trường,
hạn chế thao túng và chèn ép của tư thương, tăng thêm vị thế của kinh tế hộ của nông dân,
phát huy tinh thần tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống , góp phần xoá đói giảm
nghèo; đồng thời còn là cầu nối giữa cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội
ở địa phương với nông dân trong công tác tuyên truyền , phổ biến các chủ trương chính sách
của Đảng và nhà nước .
• Hợp tác xã
+ Các HTX cũ cơ bản đã chuyển đổi xong, giải thể HTX hình thức; HTX mới thành
lập ngày một tăng, dần đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ nông sản của xã viên, hộ nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status