Thực trạng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở an giang - Pdf 48

Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

BÁO CÁO

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÊN ĐỀ TÀI :

THựC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở
AN GIANG

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TÔ THIỆN HIỀN

MUC LUC
••

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

Trang

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU



2.1.1-

VỊ trí

và vai trò của HTXNN trong Nhà nước về kinh tế quốc dân

3

2.1.2-

Vị trí

và vai trò của HTXNN đối vói tỉnh An giang.

4

2.2-

NỘI

DUNG Cơ BẢN VÈ HTXNN:

5

2.2.1-

Nguyên

tắc tổ chức và hoạt động của HTX

vụ của HTX

7

2.3-

TÌNH

HÌNH PHÁT TRIỂN HTXNN VIỆT NAM VÀ TỈNH AN GIANG 7
2.3.1hình phát triển HTXNN Việt nam.

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Tình
7

Trang


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

2.3.2-

Tình

hình phát triển HTXNN ở An giang .

8



số và Lao động:
3.2.2-

13
Kinh tế - Xã hội.
13

3.2.2.1-

Kỉnh tế:

13

3.2.2.2-

Xãhộỉ.

14

3.3-

THỰC TRẠNG HTXNN Ở AN GIANG.

15

3.3.1-

Khái quát về thực trạng HTXNN ở An giang:


22

3.3.3.1với chính quyền địa phương:

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Đổi
22

Trang


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

3.3.3.2-

Đổi

với trường Đại học An giang:

23

3.3.4-

THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN.

23

3.3.5-

4.2.1-

Stf đồ hệ thống chỉ đạo và quan hệ hỗ trợ HTXNN

28

4.2.2-

Sơ đồ quan hệ vận hành của HTXNN

29

4.3-

MỘT SÓ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HTXNN - BIỆN PHÁP VÀ

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

29

4.3.1-

MỘT SÓ GIẢI PHÁP:

29

4.3.2-

BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:



Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

19

20
21

Trang


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

*

Sơ ĐỐ:

1- Sơ đồ 4.1- Sơ đồ hệ thống chỉ đạo và quan hệ hỗ trợ HTXNN

28

2- Sơ đồ 4.2- Sơ đồ quan hệ vận hành của HTXNN

29

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang




CHỮ VIÉT TẮT

- HTX: Hợp tác xã.
- HTXNN: Hợp tác xã nông nghiệp


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 8


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

động của HTX. vốn hoạt động đuợc hình thành từ vốn góp của xã viên, vốn đuợc
tích luỹ thuộc sở hữu HTX, vốn vay và các nguồn vốn huy động khác
- về phân phối lãi, sau khi làm xong nghĩa vụ thuế, lãi của HTX đuợc phân phối:
+ Trả bù các khoản lỗ của năm truớc ( nếu có ).
+ Trích lập các quỹ của HTX.
+ Chia lãi theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên; phần còn lại chia cho xã
viên theo mức sử dụng dịch vụ của HTX; khi giải thể, sau khi thanh toán hết các khoản nợ
của HTX và các chi phí cho việc giải thể, HTX đuợc chia cho xã viên các tài sản, vốn, quỹ
khác còn lại.
2.2.23- Quyền của HTX:
- Lựa chọn ngành, nghề, lĩnh vực, quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và địa bàn hoạt động


TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HTXNN VIỆT NAM VÀ TỈNH AN GIANG

2.3.1- Tình hình phát triển HTXNN Việt nam.
Họp tác xã ở nước ta được hình thành và phát triển từ những năm 50 đã từng giữ vai trò
quan trong trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây. Vào thời kỳ cao điểm 1968
1988 chúng ta đã xây dựng được khoảng 100.000
đơn vị kinh tế Họp tác xã ở tất cả các ngành kinh tế với quy mô, trình độ khác nhau, trong đó
phát triển mạnh trong các ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mua bán, tín dụng. Họp tác
xã góp phần quan trọng trong phát triển sản xuất, thực hiện chính sách phân phối thời chiến,
đóng góp sức người, sức của cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành công.
Từ khi thực hiện đổi mới đến nay, do mô hình cũ không còn phù họp, nên Họp tác xã đã
giảm sút mạnh về số lượng trong tất cả các ngành, nay chỉ còn 25.000 đơn vị. Hình thức và tính
chất họp tác cũng thay đổi. Họp tác xã chỉ còn làm một vài khâu, hoặc chuyển sang làm dịch
vụ hoặc tồn tại trên danh nghĩa, một số khác đã chuyển đổi hình thức pháp lý. Việc chuyển đổi
của Họp tác xã còn một số khó khăn và chưa rõ hướng xử lý, nhất là về đất đai, nhà xưởng, tài
sản tích luỹ trong nhiều năm. Nhiều Hợp tác xã cũ vẫn muốn đăng ký là Hợp tác xã, nhung
lúng túng vì chua có “ Luật Hợp tác xã Luật Hợp tác xã đuợc Quốc hội thông qua ngày
20/3/1996 có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/1997 sẽ tạo cở sở pháp lý cho Hợp tác xã hoạt động
bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác truớc pháp luật. Luật Hợp tác xã xác lập quyền
và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân Hợp tác xã, tạo điều kiện khuyến khích phát triển Họp tác xã
trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nuớc theo định huớng xã
hội chủ nghĩa.
“ Hiện nay, cả nuớc có trên 11.000 HTX, trong đó số luợng HTX NN là gần 9.000
chiếm 80%. Các HTX NN cơ bản đã chuyển đổi theo Luật HTX, nhung số luợng HTX làm ăn
có lãi chỉ đạt tỷ lệ 30

40 %, còn lại 60% - 70% là trung bình

và yếu. Điểm yếu của HTX nông nghiệp của nuớc ta là vẫn nặng về tổ chức sản xuất. Trong khi

HTX tín dụng đều giải thể do không thích ứng với cơ chế mới.
Khi kinh tế hộ phát triển, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá, nhu cầu họp tác sản
xuất và cung ứng dịch vụ để giảm giá thành sản xuất cho hộ nông dân đuợc đặt ra ngày càng bức
bách. Trên cơ sở đó, ngày 21/11/1991 UBND tỉnh đã ra chỉ thị
25/CT.UB về việc: Xây dựng các hình thức tổ chức nông dân liên kết, họp tác đa dạng trong sản
xuất nông nghiệp và có chủ trưong mạnh dạn đưa Yốn tín dụng ngân hàng đến trực tiếp cho hàng
ngàn hộ nông dân vay đầu tư sản xuất. Đến cuối 1997 toàn tỉnh đã xây dựng được 4.021 tổ liên kết
sản xuất, tập họp 114.868 hộ bằng 43% hộ thuần nông trong tỉnh với diện tích 112.789 ha, bằng
46,6% diện tích đất nông nghiệp. Nội dung hoạt động của các tổ liên kết sản xuất đa dạng được
nông dân hấp nhận, từ liên kết vay vốn ngân hàng, bơm tưới, làm thuỷ lợi nhỏ, khuyến nông,... đến
cùng nhau góp vốn mua sắm máy móc nông nghiệp làm dịch vụ trên địa bàn. Các tổ liên kết sản
xuất, HTX trong giai đoạn nầy đã tạo tiền đề, kinh nghiệm cho việc xây dựng các HTX kiểu mới
theo Luật HTX.
Sau khi có Luật HTX, chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để khuyến
khích phát triển HTX, Ban bí thư trung ương đảng đã có chỉ thị 68/CT- TW ngày 24/5/1996 về
Phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế, Tỉnh uỷ An giang có chưong trình
hành động số 02/CTr- TU ngày 27/7/1996 thực hiện Chỉ thị 68 của Ban bí thư trung ưong và Uỷ
ban nhân dân tỉnh đã ban hành chỉ thị 25/ 1998/CT-UB ngày 01/7/1998 về tập trung đẩy mạnh
phát triển HTXNN gắn với công tác xoá đói giảm nghèo. Được sự tập trung chỉ đạo của Tỉnh Uỷ,
UBND tỉnh, Bộ Nông nghiệp & PTNT, với sự hỗ trợ của các ngành, các cấp trong tỉnh về phát
triển kinh tế HTXNN đã đạt được những kết quả như sau:
+ Trước khi triển khai đề án phát triển HTX của UBND tỉnh, tính đến tháng 8 năm 2001
toàn tỉnh An giang đã thành lập được 91 HTX; (trong đó có 86 HTX nông nghiệp và 05 HTX
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 11


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

Trong 07 HTX Thuỷ sản ( Chợ mới: 01, Phú tân:01, Châu thành: 01, Long xuyên: 01, An
phú: 01, Thoại sơn: 2).
Có 01 HTX chăn nuôi ở Xã An cư - Tịnh biên.
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 12


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM - TIỀM NĂNG THựC TRẠNG HTXNN Ở AN GIANG
3.1- ĐẶC ĐIỂM
- Các HTXNN chỉ thực hiện chức năng chủ yếu của mình là làm dịch vụ cho sản xuất của các hộ gia
đình, tạo điều kiện cho các hộ gia đình nông dân sản xuất tốt nhất. Còn việc sản xuất nông nghiệp
là do từng gia đình sản xuất trên đất đai của mình, HTXNN không trực tiếp can thiệp.
-

Đa số HTX NN chọn bơm tuới, tiêu làm dịch vụ đột phá và hoạt động khá hiệu quả, có lãi để tích
luỹ và chia lãi cổ phần cho xã viên cao hơn lãi suất tiền gởi ngân hàng. Có một HTXNN mở ra
đuợc các dịch vụ khác nhu kéo lúa, suốt, làm đất, sấy lúa, cung ứng thức ăn gia súc.... Các HTX
thuỷ sản làm dịch vụ cung ứng thức ăn, con giống và làm đầu mối quan hệ tiêu thụ sản phẩm với
giá có lợi cho xã viên.... Nhìn chung, các dịch vụ sản xuất nông nghiệp do HTX thực hiện đều làm
hạ đuợc chi phí sản xuất cho nông dân so với tu nhân đảm nhận truớc đây.

-

Mục đích của HTX chủ yếu là phục vụ sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình xã viên chứ không
phải kinh doanh kiếm lãi.


-

Toạ độ địa lý: 10°12’

10°57’ vĩ độ bắc; 104°46’

-

Diện tích tự nhiên: 3.406,23 km2. Mật độ dân số 623 người/km2

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

105°35’ kinh độ đông.

Trang 13


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

-

Đơn vị hành chính: 01 Thành phố, 01 thị xã, và 09 Huyện; 150 phường - xã - thị trấn (122 Xã, 13
phường, 15 thị trấn ). Thành phố Long xuyên là trung tâm của tỉnh.

-

Địa bàn tỉnh có đồng bằng cao trình thay đổi từ 1 đến 5m và đồi núi thấp và được chia thành 02
vùng kinh tế:



4.793

9.169

II- Diện tích mặt nước nuôi trồng
thuỷ sản

1.252

1.461

III- Đất lâm nghiệp

14.362

15.969

IV- Đất chuyên dùng

25.778

26.546

V- Đất ở

19.899

17.815


-

Dân số An giang năm 2002 là 2.122.539 người.

-

Cơ cấu dân số: Nam: 1.041.238 người, chiếm 49%. Nữ: 1.081.301 người, chiếm 51%.
Thành thị: 490.340 người, chiếm 23%. Nông thôn: 1.632.199 người, chiếm 77%.

-

Lực lượng lao động: 1.368.994 người ( số người trong độ tuổi lao động: 1.256.562 người, chiếm
92% và số người ngoài tuổi lao động: 127.882 người, chiếm 8%). Trong đó lao động nông nghiệp
chiếm trên 82 %.

-

Thành phần dân tộc: người Việt chiếm 97% còn lại là các dân tộc: Hoa, Chăm, Khơme.

3.2.2-Kinh tế - Xã hội.
3.2.2.1- Kinh tể:
- Ngành cơ khí, đến năm 1994 điện khí hóa toàn tỉnh An giang. Có 100% phường xã - Thị trấn đều
có hệ thống điện nhà nước được sử dụng rộng rãi trong nhân dân phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất.
Ngành cơ khí tập trung vào việc sơn, sửa chữa và sản xuất máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp,
giao thông và các ngành khác.
- Giao thông vận tải An giang cũng phát triển mạnh.Thời điểm 31/12/2002 toàn tinh có 13.842 km
đường bộ. Đường sông dài 4.274 km
Cuối năm 2002 đã có 131/142 phường - xã - Thị trấn đã có đường xe ô tô đến trung tâm phường xã - thị trấn.
- Thông tin liên lạc phát triển nhanh đến năm 1994 đã có 100% phường - xã - Thị ưấn đều có điện
thoại. Hiện nay hầu như các phường xã - thị trấn trong tỉnh đều sử dụng máy vi tính trong công


- Ytế:
Đã có 100% xã - phường- thị trấn đều có trạm y tế. Nhân dân có ý thức cao về giữ gìn sức khoẻ và
sinh đẻ có kế hoạch.
Năm 2001 có số giường bệnh: 3.509 giường, số Y- bác sĩ: 1.816 người Năm 2002 có
số giường bệnh: 3.769 giường, số Y- bác sĩ: 1.852 người
- Giáo dục.
Học sinh phổ thông ( số giữa năm học) năm học 2001- 2002: 413.082 người; năm học 2002 - 2003:
384.697 người, giảm 7% so với năm 2001-2002.
* Bảng 2.2- Sổ học sinh phỗ thông giữa năm học 2001 - 2002
(ĐVT: người)
2001-2002
2002-2003
1-Tổng số Giáo viên PT
12.742
13.334
-Tiểu học

7.350

7.426

-Trung học cơ sở

4.022

4.430

-Phổ thông trung học


Có 1 trung tâm văn hoá tỉnh và 11 trung tâm văn hoá Huyện - Thị - Tp tổng số buổi biểu diễn trong
năm 2002 là 1.284 buổi, tăng 6% so với năm 2001 ( năm 2001: 1.212 buổi)
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 16


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

Có 01 thư viện tỉnh và 11 thư viện Huyện - Thị - Tp.Tổng số sách trong hệ thống thư viện năm
2002 là 395.278 bản, tăng 8% so với năm 2001 (năm 2001: 366.083 bản ). Tổng lượt người đọc trong
năm 2002 là 722.010 người, tăng 27% so với năm 2001 (năm2001: 570.690người)
3.3- THỰC TRẠNG HTXNN Ở AN GIANG .
3.3.1- Khái quát về thực trạng HTXNN ở An giang:
Sau khi UBND tỉnh An giang ban hành đề án phát triển HTX giai đoạn 2001 2005 vào thánh 9 năm
2001 trên địa bàn tỉnh, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua công tác tuyên truyền vận
động của HTX đã giúp cho nông dân trong tỉnh hiểu được chủ trương phát triển HTX của UBND
tỉnh.Với sự quan tâm của lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể tỉnh, cấp Uỷ và UBND các cấp đã
tạo được sự chuyển biến tốt về nhận thức đối với HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng. Đã
thực hiện tổ chức tập huấn đào tạo cán bộ HTX nông nghiệp, tư vấn các vấn đề liên quan đến HTX để
làm cơ sở cho việc thành lập HTX mới, các hoạt động về ký hợp đồng bao tiêu lúa chất lượng cao, tư
Yấn về kỹ thuật trong sản xuất,.... Từng bước đã làm cho người dân nhận thức đúng đắn hơn về HTX
nông nghiệp kiểu mới theo Luật HTX đã tự nguyện xin vào HTX.
Từ tháng 10/2001 Liên minh HTX Tỉnh phối hợp chặt chẽ với Sở Nông nghiệp- Phát triển nông
thôn, Hội nông dân, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng, Trường Đại học An giang tập trung tổ chức tập
huấn cán bộ theo đúng đối tượng do Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo. Đen nay, toàn tỉnh đã thực hiện mở
được 14 lớp tập huấn, bồi dưỡng cho 967 học viên. Trong đó: 07 lớp có 412 học viên là chủ nhiệm,
phó chủ nhiệm, kế toán Hợp tác xã; 05 lớp có 497 học viên là Bí thư, Chủ tịch UBND Xã, Phường, Thị
trấn; Ban dân vận, Mặt trận và các Đoàn thể ở cơ sở; 02 lớp có 48 học viên là sáng lập viên, Ban quản

trình độ cấp I và cấp II, chỉ có 3 chủ nhiệm có trình độ trung cấp và đại học.
- Ban kiểm soát: 179 người; trong đó trình độ văn hoá cấp III là 53 người, chiếm 29,6%, số còn
lại trình độ VH cấp I và cấp II.
- Kế toán: 91 người; trong đó trình độ văn hoá cấp III là 61 người, chiếm 67,03% , trình độ văn
hoá cấp II chiếm 32,97%, chỉ có 4 người có trình độ đại học và trung cấp.
3.3.2- Hoạt động của HTXNN:
3.3.2.1- về hoạt động dịch vụ của HTX.
- Đối với HTX nông nghiệp: Thực hiện dịch vụ bơm tưới là chủ yếu, chỉ có vài HTX mở
rộng hoạt động với nhiều dịch vụ khác như: Làm đất, cung ứng vật tư nông nghiệp, suốt lúa, vận
chuyển nông sản, sấy lúa,...; ngoài ra có 01 HTX nông nghiệp chuyên sản xuất và cung ứng lúa
giống ở TP Long xuyên, 01 HTX chăn nuôi bò ở xã An cư- huyện Tịnh biên
- Đối với HTX thuỷ sản: Thực hiện cung ứng con giống, thức ăn, làm đầu mối giao dịch
tín dụng và tiêu thụ sản phẩm ngư dân làm ra.
Các dịch vụ của HTX thực hiện đều làm lợi cho nông dân và tạo được lợi nhuận cho HTX.
Tuỳ theo loại hình dịch vụ và số lượng dịch vụ của HTX thực hiện đã làm giảm giá thành cho
nông dân như: dịch vụ bơm tưới giảm từ 50
kg lúa/ ha/ vụ, làm đất giảm từ 20

30 kg lúa/ha/vụ, suốt lúa giảm từ 30

80
50 kg

lúa/ha/vụ, sấy lúa giảm khoảng 20.000 đồng/tấn, cung ứng con giống giảm bình quân 30
đồng/con đã góp phần làm đáng kể chi phí sản xuất và làm tăng lợi nhuận cho nông dân.
3.3.2.2- về vốn, tư liệu sản xuất hiện có của HTX:
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 18


3.3.2.4- Khảo sát thực tế HTX:
Qua khảo sát thực tế 34 HTXNN ở tỉnh An giang vào tháng 6 năm 2002 ( phụ lục số 2 ) gồm các
Huyện -Thị - TP như sau: Long xuyên: 1; Châu đốc: 2; Chợ mới: 11; Phú tân: 6; Tân châu: 1; An phú:
2; Châu thành: 2; Châu phú: 3; Tri tôn: 1; Tịnh biên: 2; Thoại sơn: 3 đã tổng hợp được một số nội dung
cơ bản như sau:
- Năm thành lập HTX sớm nhất vào năm 1997 và gần đây nhất vào năm 2001.
-

Số lượng cán bộ bình quân của mỗi HTX là 5 người ( chủ nhiệm: 1; Phó chủ nhiệm: 1- 2; Ke toán:
1; Kiểm soát: 1; Thủ quỹ: 1 ).
* Bảng 2.3- Trình độ văn hoá - chuyên môn của cán bộ HTXNN

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 19


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

Tính bình quân

Tuổi

Văn

Chuyên môn

Chủ nhiệm


49

11
9

Một ít được BD

266

Thủ quỹ

37

11

Một ít được BD

260

Lương

**- ( Kèm phụ lục 2 ).
Trong 34 HTX được khảo sát thực tế:
+ Tại giai đoạn thành lậpl997- 2001:
-

Giá cổ phiếu thấp nhất 50.000 đồng và cao nhất 300.000 đồng tuỳ theo từng HTX.

-


Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 20


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

* Bảng 2.4- Tình hình về lợi nhuận của HTXNNở năm thành lập và năm 2001


SỐ
TT

TÊN
HỢP TÁC XÃ

PHƯỜNG

THỊ

HUYỆN
THỊ

NĂM
TL

TRÁN

1


N2001

Năm
TL

11,324
50

N 2001

33,307
250

24,512
250

19,097
-25

20

0

12,7

236,14

195,43



5

XUÂN BÌNH

XUÂN TÔ

T BIÊN

1999

194,128

197,279

6

THUẬN ĐIÊN

TT TRI TÔN

T TÔN

1998

57,092

64,764

56,602


LONG ĐIÊN
LONG ĐIÊN

1999
1997

224,535
486

187,521
532,25

208,36
387

178,68
412,09

16,176
99

8,839
120,159

10

TRUNG THÀNH
ĐINH THUẬN



160,3 151,3

2
3

11
12
13

LONG HƯNG

AN THẠNH

LONG SƠN

c MỚI
c MỚI
c MỚI
c MỚI
c MỚI

2001

32,7

T CHÂU

1998



572,257

Trong 13 HTX nêu trên chỉ có 3 HTX có lợi nhuận tăng:
- HTX Hoà Hưng, Thị trấn nhà bàn, Huyện Tịnh biên: tăng từ 11,324 tr đồng lên 19,097 tr đồng.
-

HTX Thuận Điền, Thị trấn Tri tôn, Huyện Tri tôn: tăng từ 0,49 tr đồng lên 7,996 tr đồng.

-

HTX Long Bình, Xã Long điền, huyện Chợ mới: tăng từ 99 tr đồng lên 120,159 tr đồng
Còn lại 10 HTX có lợi nhuận thấp hoặc lỗ. Nguyên nhân do hình độ cán bộ quản lý HTX còn

thấp, HTX mới đuợc hình thành, sản phẩm làm ra tiêu thụ YỚi giá thấp .
r

r

- Được biêt tình hình sô nợ của HTXNN:

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 21


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

* Bảng 2.5- Tình hình số nợ của HTXNN ở năm thành lập và năm 2001

3

HOÀ HƯNG
AN CHÂU

TT NH BÀNG
TT AN CHÂU

HOÀTHUẬN

KHÁNH HOÀ

4

PHÚ AN

PHÚ THUẬN

5

XUÂN BÌNH
THUẬN ĐIÊN

XUÂN TÔ
TT TRI TÔN

8
9

AN HỒNG

LONG SƠN

T BIÊN

cT
c PHÚ
T SƠN
T BIÊN
T TÔN

c MỚI
c MỚI
c MỚI
c MỚI
c MỚI

1998
1998

3,97

Nọ1 phải trả
Năm
TL
N.2001

25,8

p trả nọ1 vay
Năm

18
131

94,2
18,3
60

48

52
42,5

42,5

58

90,5

1998
1998

T CHÂU

1998

p TÂN

1998

TỔNG

-

Lợi nhuận bình quân 4,8 hiệu đồng/ha/yụ

* Vụ Đông Xuân:
+ Xuống giống khoảng thời gian 20/10
+ Thu hoạch khoảng 30/01

30/10.

10/02 .

+ Giá lúa bán 1.400 đ/kg
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 22


Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An
Giang

* Vụ Hè Thu :
+ Xuống giống khoảng thời gian 01/3

15/3.

+ Thu hoạch khoảng thời gian 10/6 20/6 .
+ Giá lúa bán 1.300 đ/kg.
* Vụ Thu Đông:
+ Xuống giống khoảng thời gian 25/6

-

Cần có kỹ su nông nghiệp, kỹ thuật viên nông nghiệp huớng dẫn giúp đỡ cho nông dân về kỹ
thuật sản xuất vật nuôi và cây trồng.

-

Tăng cuờng công tác khuyến nông đến khóm, ấp và tăng cuờng công tác thăm đồng để giúp đỡ,
bảo vệ mùa vụ sản xuất cho nông dân.

-

Tăng cuờng kiểm dịch thuốc thú y nhằm tránh thuốc giả cho nông dân.

-

Khen thưởng kịp thời đối YỚi nông dân sản xuất giỏi và làm nghĩa vụ tốt đối YỚi nhà nước- xã
hội.

-

Có kế hoạch cho nước vào đồng ruộng để tăng độ mầu mở cho đất vào mùa nước nổi.

-

Ổn định - giảm giá vật tư phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ bao tiêu giá nông sản do
nông dân làm ra với giá cao.

-


Tập huấn về chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi.
Đào tạo nhiều kỹ sư nông nghiệp, thú y để phục vụ cho địa phưong tỉnh nhà ngày phát triển.

-

Mở rộng nhiều ngành nghề để con em nông dân có điệu kiện thuận lợi trong học tập và nâng
cao kiến thức, góp phần xây dựng, phát triển quê hương - đất nước.

3.3.4-

THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cần phải có thị trường về nông sản, nơi mà tiêu

thụ sản phẩm nông nghiệp, bảo đảm về giá cả có lợi cho người sản xuất. Sản phẩm nông nghiệp
của tỉnh An giang được tiêu thụ ở thị trường trong nước và ở nước ngoài.
-

về thị trường trong nước: An giang cung cấp cho tại địa phương thông qua các thị trường thị xã,
thị trấn,... . Nông sản An giang tiêu thụ nhiều ở các tinh bạn, đặc biệt là TP Hồ Chí Minh.

-

về thị trường nước ngoài: Nhật, Singapore, Hồng Kông,... và một số nước ở Châu phi.

-

Năm 2002 các mặt hàng xuất khẩu như gạo: là 321.297 tấn, giảm 30% so với 2001 ( 462061
tấn).Thuỷ sản đông lạnh 24.215 tấn ( cá : 24.044 tấn, tôm: 137 tấn, mực: 34 tấn), tăng 93% so
với năm 2001 (12.538 tấn; trong đó: cá:11.437 tấn, tôm: 289 tấn, mực: 64 tấn).


địa bàn. Do đó, đã góp phần làm giảm đáng kể chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá
thành sản phẩm và qua thực tiễn cho thấy: chỉ có mô hình kinh tế HTX mới có đủ điều kiện
thực hiện cơ giới hoá, điện khí hoá trong nông nghiệp.
Sinh hoạt trong HTX đã thể hiện tính dân chủ, mọi hoạt động của HTX không đặt lợi nhuận là
trên hết mà mục tiêu cao nhất là vì sự phát triển kinh tế hộ. Do đó, đã
huy động được nội lực trong nhân dân và nông dân hên địa bàn sản xuất ở nông thôn đóng góp
sức người, sức của, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn tỉnh nhà. Đồng thời kinh
tế HTX đã góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động ở nông thôn.
* Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, kinh tế HTX nông nghiệp còn bộc lộ nhiều mặt non yếu

và nhiều khỏ khăn:
- Công tác tuyên truyền vận động về kinh tế HTX chưa được đẩy mạnh thường xuyên và sâu
rộng.
- Việc hướng hướng dẫn thi hành luật và các nghị định của chính phủ về khuyến khích phát
triển HTX của các Bộ, ngành Trung ương còn chậm.
- Trình độ cán bộ quản lý HTX còn rất hạn chế; phần lớn cán bộ giữ chức danh chủ chốt của
HTX như chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, kế toán trưởng, trưởng ban kiểm soát, trình độ văn hoá thấp lại
lớn tuổi và chưa qua đào tạo có hệ thống từ trung cấp chuyên nghiệp trở lên. Bên cạnh những HTX
hoạt động tốt, có hiệu quả thì còn nhiều HTX hoạt động chưa thích ứng theo cơ chế thị trường, thậm
chí còn nhiều yếu kém, mà vai trò chính là chủ nhiệm HTX. Đây là nguyên nhân cơ bản nhất làm hạn
chế sự phát triển đi lên của HTX.
- Vốn cổ phần ít và thiếu vốn sản xuất kinh doanh ở hầu hết các HTX, trong khi đó HTX vay
vốn tín dụng gặp rất nhiều khó khăn do không có tài sản thế chấp.
- Sự hỗ trợ của các doanh nghiệp nhà nước đối với HTX còn rất hạn chế, một số địa phương
can thiệp quá sâu vào hoạt động của HTX, ngược lại cho rằng HTX là đơn vị kinh tế tự chủ nên thiếu
quan tâm hỗ trợ, buông lỏng quản lý.

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status