Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Kể từ khi có Luật hợp tác xã mới (1/1/1997), kinh tế tập thể mà nòng
cốt là HTX kiểu mới phát triển dưới nhiều hình thức, trình độ khác nhau trong
các ngành các lĩnh vực, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn, đã đáp ứng một
phần nhu cầu của những người lao động, hộ sản xuất kinh doanh, góp phần
quan trọng vào quá trình phát triển đất nước.
Tuy nhiên hiện nay kinh tế HTX đặc biệt là các HTX trong nông
nghiệp còn nhiều mặt yếu kém, năng lực nội tại hạn chế, số HTX làm ăn có
hiệu quả còn ít, lợi ích đem lại cho các thành viên chưa nhiều. Những hạn
chế, yếu kém đó có thể do trình độ phát triển thấp của lực lượng sản xuất
nhưng quan trọng hơn là do những thiếu sót kuyết điểm của các cấp uỷ Đảng
và Chính quyền từ Trung ương đến địa phương: nhận thức về vị trí ,vai trò tất
yếu khách quan của Kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế HTX chưa thống
nhất,việc tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước, giải thích mô hình
HTX kiểu mới chưa được quan tâm đúng mức, bộ máy quản lý của Nhà nước
đối với các HTX hầu như không còn; Nhà nước vừa lúng túng vừa buông
lỏng trong tổ chức chỉ đạo, chưa làm tốt việc tổ chức thi hành luật HTX, chưa
quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và kịp thời tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc cho HTX; chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống chính trị để đẩy mạnh phát triển các HTX. Tâm lý hoài nghi, mặc cảm
với mô hình HTX kiểu cũ trong xã hội còn phổ biến.
Nghị quyết Đảng IX đã xác định “ Kinh tế tập thể phát triển với nhiều
hình thức đa dạng trong đó nòng cốt là các HTX” Kinh tế Nhà nước cùng với
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền Kinh tế quốc
dân. Các HTX nông nghiệp trước hết tập trung làm các dịch vụ đầu vào ,đầu
ra phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ thành viên, từng bước
mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh tổng hợp.Mở rộng các hình thức
liên doanh liên kết kinh tế giữa HTX với các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp Nhà nước. Khi HTX phát triển đến trình
độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của HTX, các liên hiệp HTX.
Mặt khác, những người sản xuất nông nghiệp lại chủ yếu là các hộ nông dân
với nguồn lực rất có hạn. Do vậy khác với các ngành sản xuất khác, sản xuất
nông nghiệp luôn đòi hỏi sự liên kết, sự chung sức tự nguyện giữa những
người sản xuất để hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất. Tuy
nhiên trong nông nghiệp do điều kiện sản xuất cũng như nội dung, tính chất
của các hoạt động sản xuất kinh doanh rất đa dạng mà sự liên kết giữa những
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
người sản xuất cũng đa dạng và được thực hiện với những hình thức, quy mô
và nội dung khác nhau.
Trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau, do các hoạt động kinh tế có những
đặc điểm riêng mà kinh tế hợp tác có đặc điểm khác. Trong công nghiệp hợp
tác giữa những người lao động sản xuất có thể thực hiện trong mọi khâu của
quá trình sản xuất, từ đảm bảo các yếu tố đầu vào đến khâu trực tiếp sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm. Ngược lại trong nông nghiệp, đối tượng của sản xuất
nông nghiệp là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên và
rất mẫn cảm với các tác động của tự nhiên và của con người, chúng luôn đòi
hỏi sự chăm sóc tỉ mỉ và thường xuyên của những người chủ thực sự và trực
tiếp của đồng ruộng và chuồng trại. Vì vậy trong nông nghiệp hợp tác giữa
những người lao động sản xuất thường là hợp tác trong các khâu cung ứng
các yếu tố đầu vào cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, còn khâu sản
xuất trực tiếp thì do các hộ nông dân đảm nhiệm.
Traianôp cho rằng: Hợp tác xã nông nghiệp là bổ sung cho các hộ nông
dân xã viên, phục vụ nó và nếu không có nó thì kinh tế hợp tác không có ý
nghĩa. Nhà lý luận người Mỹ Êmiliannôp quan niệm rằng: Hợp tác xã không
phải là một xí nghiệp tập thể mà là tập hợp xí nghiệp các hộ thành viên vẫn
giữ được tính độc lập của mình, khác với các bộ phận của một xí nghiệp phụ
thuộc hoàn toàn vào xí nghiệp.
Lênin cho rằng “Nếu chúng ta tổ chức được toàn thể nông dân vào hợp tác xã
thì chúng ta đã đứng được hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa”.
tác trong nông nghiệp. Các hình thức hợp tác này phân biệt với nhau bởi tính
chất, nội dung hoạt động, quy mô hoạt động, quy mô và trình độ tổ chức. Có
thể nêu ra một số hình thức chủ yếu của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.
- Tổ hợp tác: Tổ hợp tác thường có quy mô nhỏ, có nội dung hoạt động hẹp,
đơn mục tiêu, hình thành và hoạt động trên cơ sở hợp tác giản đơn, chưa có tổ
chức chặt chẽ, thường có vốn quỹ chung, hoạt động chưa có điều lệ, không
phải đăng ký kinh doanh nên chưa phải là pháp nhân kinh tế. Các tổ hợp tác
trong nông nghiệp thường không cố định.
- Hợp tác xã: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ, có vốn quỹ chung, được cấp đăng ký kinh doanh và có tư cách pháp
nhân. Luật HTX nước ta quy định “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do
những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn,
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
góp sức lập ra theo quy định của pháp luật”. ở nước ta HTX được xem là hình
thức cơ bản của KTHT.
- Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp: Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp là một hình
thức hợp tác có phạm vi hoạt động linh hoạt, thường gắn với một loại sản
phẩm trồng trọt, chăn nuôi hay một lĩnh vực hoạt động nào đó (nhu hội sinh
vật cảnh, hội làm vướn, hội nuôi ong), song không phải là một tổ chức sản
xuất kinh doanh, không có tư cách pháp nhân. Các thành viên tham gia chủ
yếu là để trao đổi, giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm
- Hiệp hội theo sản phẩm hay nhóm sản phẩm: Đây là hình thức hợp tác có
phạm vi hoạt động rộng, có thể là phạm vi một vùng, một miền hay cả nước.
Thành viên của hiệp hội là những chủ thể kinh tế (có thể thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau) tham gia hiệp hội nhằm phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau
trong sản xuất kinh doanh. Hiệp hội có điều lệ hoạt động song không phải là
đơn vị sản xuất kinh doanh.
Mỗi hình thức KTHT nêu trên đều có vị trí, vai trò quan trọng thích hợp
có tổ chức chặt chẽ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động
của mình và được đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác.
- Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã: Khi xây dựng HTX kiểu
mới phải đảm bảo 5 nguyên tắc cơ bản: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX
theo quy định của điều lệ HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng, mỗi xã viên
đều có quyền ngang nhau trong biểu quyết; tự chịu trách nhiệm và cùng có
lợi; chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của HTX.
- Quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX: Khi ra nhập HTX mỗi xã
viên bắt buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ. Phần vốn góp của xã
viên thuộc sở hữu của từng thành viên, các nguồn khác thuộc sở hữu chung
của HTX. Sau khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối
như sau: Thanh toán các khoản bù lỗ; trích lập các quỹ của HTX; chia lãi theo
vốn góp và công sức đóng góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch
vụ của HTX.
- Xã viên HTX: Có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình, mỗi xã viên có thể
đồng thời là thành viên cuả nhiều HTX, không phân biệt ngành, nghề, địa giới
hành chính. Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Quan hệ giữa HTX và xã viên: HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủ
kinh tế của xã viên. Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp không phá
vỡ tính độc lập tự chủ của kinh tế hộ, trang trại gia đình. Nó có tác đụng tạo
điều kiện phát triển tăng thu nhập cho kinh tế của các hộ xã viên. Trên cơ sở
đó mà thúc đẩy sự phát triển của kinh tế HTX.
- Điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể HTX: Khi thành lập HTX cần
phải có điều lệ, phương án sản xuất kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được
đại hội xã viên thông qua và cơ quan có trách nhiệm phê duyệt. Trong trường
hợp giải thể theo nghị quyết của đại hội xã viên, hoặc bị buộc phải giải thể
theo quyết định của pháp luật, HTX phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với cơ
quan có thẩm quyền. Đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên có thẩm
cho xã viên; HTX loại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây
dựng, khai thác
II.khái niệm và đặc điểm Hợp tác xã nông nghiệp.
1. Khái niệm.
Từ khái niệm về hợp tác và kinh tế hợp tác xã ta có thể hiểu hợp tác xã
trong Nông nghiệp như sau: HTX nông nghiệp trước hết là một tổ chức của
kinh tế hợp tác của những người sản xuất nông nghiệp. Được thành lập trên
nguyên tắc tự nguyện, dân chủ nhằm đáp ứng những yêu cầu về dịch vụ đa
dạng trong sản xuất nông – lâm – ngư và đời sống của chính các xã viên tham
gia. HTX nông nghiệp có thể là các tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân, ít
nhất trên 3 lĩnh vực: thứ nhất đó là lĩnh vực cung ứng các yếu tố đầu vào của
sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu… hợp tác trong khâu làm đất, thuỷ lợi,
thứ hai trong lĩnh vực giải quyết đầu ra của sản xuất nông nghiệp bao gồm
hoạt động thu mua chế biến đóng gói và tiêu thụ nông sản ở thị trường trong
và ngoài nước, thứ ba trong lĩnh vực trực tiếp tổ chức sản xuất tập trung trong
trồng trọt, chăn nuôi, kể cả nuôi thuỷ sản.
2. Đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp.
2.1.Quyền hạn và nghĩa vụ của hợp HTX nông nghiệp.
- HTX nông nghiệp có quyền về lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, quy mô
sản xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động, quyết định cơ cấu tổ chức, thuê lao
động, xuất nhập khẩu, phân phối thu nhập, huy động vốn, được bảo hộ bí
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
quyết về công nghệ và quyền từ chối những can thiệp từ bên ngoài trái với
quy định của pháp luật.
Cụ thể hơn chi tiết hơn một số nội dung đặc thù của HTX nông nghiệp:
thứ nhất chủ động tổ chức các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp
theo khả năng, lợi thế và tập quán sản xuất. Thứ hai, chủ động tìm kiếm các
khả năng phát triển các ngành nghề khác nhau để đa dạng hoá kinh tế HTX,
thoát dần khỏi tình trạng thuần nông và độc canh, hiệu quả thấp.
nhóm tài sản từ bên ngoài. Quan hệ tài sản trong HTX nông nghiệp rất đa
dạng, những tài sản mang tính cộng đồng là những tài sản có giá trị lớn
thường là tài sản thuộc về các công trình công cộng.
Quan hệ tài chính trong HTX nông nghiệp: Quan hệ tài chính trong HTX
nông nghiệp phản ánh sự vận động của các dòng tiền tệ diễn ra trong HTX
trong quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Cụ thể là những nguyên tắc
trong việc huy động vốn góp của xã viên các nguồn vốn khác để phát triển
sản xuất kinh doanh và phân phối lãi trong HTX nông nghiệp
2.4. Cơ sở khoa học về tổ chức quản lý HTX nông nghiệp
Các HTX nông nghiệp thực hiện quản lý dựa trên việc hình thành ba
định chế cơ bản đi từ dân chủ đến tập trung đó là: Đại hội xã viên, ban quản
trị, ban kiểm soát. Trong đó đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất và
thực hiện quyền lực của mình dựa trên nguyên tắc dân chủ tổng hợp quyền
lực của các xã viên, thể hiện ở chỗ có quyền quyết định mọi vấn đề về tổ
chức, hoạt động của HTX, có quyền lập ra ban quản trị, ban kiểm soát, chủ
nhiệm HTX cũng như các chức danh quan trọng khác.
Ban quản trị HTX nông nghiệp có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thực
hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ huy động vốn trong HTX nông
nghiệp. Ban quản trị có quyền lựa chọn kế toán trưởng, cơ cấu tổ chức và các
bộ phận nghiệp vụ, chuyên môn HTX
Ban kiểm soát thực hiện quyền giám sát, kiểm tra ban quản trị và xã viên
trong việc thực hiện nghị quyết của đại hội xã viên.
Chủ nhiệm HTX đại diện trước pháp luật để quan hệ đối ngoại, chủ động
điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, được quyền triệu tập
các cuộc họp ban quản trị để thảo luận và quyết định các vấn đề phát sinh.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2.5. Cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa nhà nước với HTX nông nghiệp.
Nhà nước được xem như một nhân tố cơ bản trong việc nuôi dưỡng phát
triển những nhu cầu hợp tác, hỗ trợ sự hình thành và trưởng thành của từng
tăng trưởng kinh tế mà là khu vực phụ trợ, song khu vực này có vai trò, vị trí
qan trọng trong giải quyết việc làm đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao
động( nhất là ở các nước đang phát triển) tạo sự ổn định xã hội và môi trường
thuận lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Quá trình phát triển kinh tế Việt Nam cũng cho thấy vai trò, vị trí của
các khu vực kinh tế ở từng thời kỳ là khác nhau. ở giai đoạn thực hiện cơ chế
kế hoạch hoá tập trung và phân chia nền kinh tế thành hai khu vực: Khu vực
kinh tế XHCN và khu vực kinh tế phi XHCN thì khu vực kinh tế XHCN đóng
góp 58.8% thu nhập quốc dân, khu vực kinh tế phi XHCN đóng góp 41,19%
thu nhập quốc dân.
Bước sang giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, so sánh
giữa vốn nắm giữ của các doanh nghiệp với kết quả đóng góp thấy khá rõ:
Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ tỷ trọng vốn lớn hơn 68% tổng vốn doannh
nghiệp nhưng đóng góp trong tổng sản phẩm xã hội GDP là 40,29%, ngược
lại khu vực ngoài quốc doanh chỉ nắm dưới 10% tổng số vốn các doanh
nghiệp nhưng đóng góp đến 41,4% tổng GDP, HTX góp 8,9%, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài 9,8% tổng GDP.
Chúng ta thấy rõ KTHT và HTX không phải là khu vực đem lại lợi
nhuận cao và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế vì mục tiêu hoạt động của khu
vực này không đơn thuần chạy theo lợi nhuận nhưng lại có vai trò to lớn trong
việc mang lại lợi ích cho người lao động cá lẻ đảm bảo sự ổn định xã hội,
thông qua sự giúp đỡ hỗ trợ với mọi người lao động có cơ hội tham gia vào
quá trình phát triển kinh tế, bản thân họ và cộng đồng mà nếu để họ tự làm sẽ
gặp không ít khó khăn. Mặt khác, hình thức hợp tác này họ có thể tiếp nhận
và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức
kinh tế xã hội đối với họ. Với đặc điểm kinh tế nước ta còn chưa phát triển và
kinh tế nông thôn, nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao (cả về lực lượng lao động
và giá trị đóng góp cho xã hội) bộ phận dân cư nghèo và yếu về kinh tế còn
khá lớn. Do đó đồng thời với quá trình tăng trưởng , thúc đẩy tăng trưởng vầ
phát triển kinh tế phải hết sức coi trọng xây dựng quan hệ sản xuất mới phù
ta đã hình thành chủ trương về đẩy mạnh hợp tác hoá trong nông nghiệp .
Thực hiện chủ trương đó trong nông nghiệp tính đến cuối 1957 đã thí điểm
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
xây dựng 42 HTX ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên và Thanh Hoá. Các HTX
thí điểm chủ yếu được hình thành từ các tổ đổi công có quy mô xóm hoặc
thôn bình quân 20-30 hộ xã viên, có ban quản trị rất gọn nhẹ từ 2-3 người và
1 kiểm soát viên, hình thức hợp tác chủ yếu là cùng làm chung và phân phối
theo công điểm. Các tư liệu sản xuất chung vẫn của riêng hộ xã viên, quyền
sở hữu ruộng đất của từng hộ vẫn được đảm bảo, nhưng được HTX sử dụng
để sản xuất chung và chia hoa lợi hàng năm cho hộ xã viên. Đất khai hoang,
tăng vụ được giảm và miễn thuế, được tự do thuê nhân công. Với chủ trương
đúng đắn đó đã tạo ra sự hăng hái phấn khởi trong nông dân, sản xuất phát
triển, đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ rệt, bình quân
lương thực đầu người tăng từ 257(1957) lên 304 kg (1958) và 334 kg (1959).
2. Giai đoạn 1959-1960:
Giai đoạn thực hiện và hoàn thành cơ bản phong trào hợp tác hoá trong
nông nghiệp ở miền Bắc.
Sau 3 năm tiến hành thí điểm thành lập HTX nông nghiệp đến tháng 4
năm 1959 Đảng và Nhà nước đã tổng kết và đánh giá: Xuất hiện mâu thuẫn
giữa phương thức tập thể với cá nhân, mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng năng suất
và kỹ thuật lạc hậu. Nghị quyết số 16 TW tháng 4/1959 nhận định” Còn chế
độ tư hữu tư nhân về TLSX và lối làm ăn cá thể thì vẫn còn cơ sở vật chất và
điều kiện cho khuynh hưóng TBCN phát triển”. Từ quan điểm này NQ 16
TW qưuyết định cần phải cải tạo sản xuất cá thể thành nền sản xuất tập thể,
chặn đứng con đường TBCN ở nông thôn, cứu nông dân thoát khỏi nanh vuốt
của CNTB góp phần củng cố liên minh công nông. Nguyên tắc xây dựng
HTX là” Dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi. Ưu tiên kết nạp xã viên là bần cố
nông, trung nông lớp dưới, sau đó mới kết nạp trung nông, không bố trí trung
nông vào vị tríchủ chốt”.
Ơ giai đoạn đầu 1961-1975 phong trào hợp tác hoá bộc lộ nhiều nhược
điểm biểu hiện là sự không phù hợp của mô hình HTX bậc cao. Quá trình
củng cố và mở rộng quy mô HTX luôn luôn trái ngược với kết quả trong sản
xuất nông nghiệp. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, sản xuất
nông nghiệp ngày càng sa sút, kinh tế HTX ngày càng biểu hiện tiêu cực: mất
đân chủ, tham ô , lãng phí thu nhập của xã viên HTX đã thấp lại càng giảm.
Thời kỳ1966-1972, tốc độ tăng thu nhập bình quân hàng năm là 13,6% thì tốc
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
độ tăng chi phí là 15,1%. Tương tự thời kỳ 1973-1975 là 23,75% và 75%.
Năm 1972, giá trị tài sản cố định HTX thất thoát tới 35,4%, quỹ tích luỹ khấu
hao tính khống 40,7%. Mức lương thực bình quân đầu người giảm từ
17kg/người/tháng 1965 xuống còn 10,4 kg năm 1980 Xã viên HTX chán nản,
ruộng đất bỏ hoang hoá, số lượng ngưòi xin ra khỏi HTX ngày càng tăng, đời
sống nông dân gặp nhiều khó khăn, bao trùm đời sống ở nông thôn miền núi
là tinh thần đoàn kết đùm bọc, chia sẻ khó khăn, tất cả giành cho tiền tuyến.
Giai đọan này khối lượng lương thực nhập khẩu tăng liên tục qua các
năm( Năm 1966 nhập khẩu 388,1 ngàn tấn, năm 1975: 1055 ngàn tấn).
Giai đoạn 1976-1980: ở miền Nam, số HTX tổ đổi công tăng lên nhanh
chóng, thậm chí dùng cả biện pháp hành chính đưa nông dân vào HTX. Giai
đoạn này nền kinh tế đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng,
trước hết là tình trạng khủng hoảng kinh tế tập thể trong nông nghiệp trên
phạm vi cả nước.
4. Giai đoạn 1981-1988:
Giai đoạn thực hiện chỉ thị 100 về cải tiến công tác khoán, mở rộng
khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp”.
Mục đích của chủ trương mở rộng khgoán sản phẩm là đảm bảo phát
triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế củng cố và tăng cường QHSX mới
ở nông thôn không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên , tăng
tích luỹ của HTX, làm tròn nghiã vụ và không ngừng tăng khối lượng nông
xã viên. Quan hệ HTX – hộ xã viên chuyển dần sang quan hệ hợp đồng kinh
tế giữa hai chủ thể bình đẳng theo các nguyên tắc thoả thuận, xoá bỏ chế độ
phân phối công điểm trong HTX . Bộ máy quản lý HTX giảm nhẹ, phổ biến
tới40-50%, các khoản chi phí bất hợp lý trong HTX cũng giảm, dần xoá bỏ tệ
rong công, phóng điểm và tham ô công quỹ.
Trước sự thay đổi của cơ chế mới, các HTX nông nghiệp kiểu cũ gặp
nhiều khó khăn, lúng túng, lâm vào tình trạng trì trệ, suy giảm tác dụng đối
với hộ xã viên tự chủ, thậm chí một bộ phận HTX , đặc biệt các tập đoàn sản
xuất tan rã: Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp &PTNT từ 1988 đến 1995 giải
thẻ 2958 HTX và 33804 TĐsản xuất nông nghiệp , đồng thời số hộ xã viên
tham gia HTX và TĐsản xuất cũng giảm mạnh từ 86%xuống còn 10% ở các
tỉnh Nam bộ, mỉền núi phía Bắc giảm từ 91% xuống 45%.
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Số HTX còn lại buộc phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ về cơ cấu tổ
chức và cơ chế quản lý nội bộ theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, nhiều chức
danh được lồng ghép để giảm bớt chi phí quản lý. Nhiều HTX phải chia nhỏ
cho phù hợp với trình độ quản lý, đến năm 1995 cả nước còn 16.243 HTX và
2548 TĐ sản xuất với 64% số hộ nông dân cả nước. Các HTX đang tồn tại có
thể chia thành ba nhóm theo mức độ dịch vụ cho hộ xã viên và hiệu quả hoạt
động:
Loại hoạt động tốt: 2528 đơn vị chiếm 15,5% tổng số, là những HTX
còn vốn, có đội ngũ cán bộ giỏi, có hướng hoạt động tốt, làm tốt công tác dịch
vụ tưới tiêu, BVTV, giống, kỹ thuật, vật tư, vốn cho xã viên, HTX có vốn và
tài sản. Bình quân tài sản cố định một HTX thuộc nhóm này khoảng 742 triệu
đồng.
Loại hoạt động cầm chừng ở một vài khâu công việc nhưng kết quả
thấp 6562 đơn vị, chiếm 40,4% tổng số. HTX còn ít vốn, nợ đọng nhiều và
ban quản lý kém năng động hoặc trì trệ.
Loại không hoạt động, tồn tại hình thức:7152 đơn vị chiếm 43,3%. Đây
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Bảng 1: Quy mô HTX tính theo số liệu xã viên của HTX đã chuyển đổi.
Chỉ tiêu chung Miền bắc Miền Trung,
Tây Nguyên
Miền Nam
Tổng
số
% Tổng
số
% Tổng
số
% Tổng
số
%
Số HTX có báo cáo 2127 10 1795 100 313 100 19 100
Số HTX có từ 7-50
xã viên
215 10,1 212 11,8 1 0,3 2 10,5
Số HTX có từ 51-
100 xã viên
131 6,1 122 6,8 1 0,3 8 42,1
Số HTX có trên
100 xã viên
1781 83,7 1461 81,3 311 99,3 9 47,3
Nguồn: số liệu điều tra xã hội học năm 1999.
Cụ thể các HTX sau chuyển đổi đạt được một số kết quả như sau:
Làm rõ tài chính của các HTX cũ và mới,tỷ lệ xã góp vốn của xã viên
bình quân tăng 2,5 lần so với trước khi chuyển đổi, cổ phần của xã viên trong
HTX được xác định rõ hơn. Từ bảng 2 cho thấy các chỉ số về tổng số vốn
X
(Triệu
đồng)
Số
lượng
(Triệu
đồng)
Bình
quân/HTX
(Triệu
đồng)
Chung
cả
nước
1948 1092.02
5
556 862.28
1
439 229.74
4
177
Miền
bắc
1954 722.160 453 595.77
1
373,7 12.869 79,3
Miền
Nam
354 369.865 1.044 266.51
0
Nguồn: số liệu điều tra xã hội học năm 1999.
Đối với khoản nợ HTX phải thu : tính bình quân một HTX có số nợ
phải thu khoảng 50 triệu đồng, trong đó xã viên nợ HTX chiếm khoảng 70-
90%. Đa số các HTX đã thực hiện việc giảm, xoá một số khoản nợ như: giảm
các khoản xã viên nợ từ trước năm 1998, giảm nợ của các hộ gia đình thương
binh, liệt sĩ, gia đình nghèo neo đơn, xoá nợ đối với những người đã chết, các
hộ gia đình chuyển đi nơi khác sinh sống.
Đối với các khoản nợ phải trả :hầu hết các HTX chuyển đổi đã làm rõ
về cơ sở pháp lý các khoản nợ HTX phải trả và đã loại trừ khỏi phần vốn khi
phân bổ vốn góp cho xã viên tham gia HTX mới. Nhìn chung sau khi đã cố
gắng thu nợ,các HTX đã bàn giao cho HTX mới hoặc UBND về các khoản
công nợ của HTX cũ.
Xác định nội dung và phạm vi hoạt động của HTX,xã viên được biết,
tham gia và có quyền kiểm tra hoạt động của HTX thông qua bộ máy quản lý
do đại hội xã viên lựa chọn.Nhiều HTX đã xây dựng được phương hướng sản
xuất kinh doanh có tính khả thi, phù hợp với nhu cầu của thị trường, HTX và
khả năng của cơ sở.
Quan hệ giữa xã viên với ban quản trị được quy đinh rõ trên cơ sở xác
định chức năng, quyền hạn của các bên.
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Xoá bỏ sự can thiệp hành chính của chính quyền địa phương vào công
viẹc nội bộ của HTX những việc làm trên đây đã không thể thực hiện được
trong những năm chưa có luật HTX, đồng thời quạ chuyển đổi có căn cứ để
đưa ra các biện pháp phù hợp giúp đỡ các HTX phát triển.
Thứ tư, việc thành lập HTX kiểu mới có sự phát trồng triển khá về số
lượng và loại hình; theo thống kê bước đầu số lượng HTX thành lập mới là
1563 đơn vị. Phần lớn các HTX này có đội ngũ cán bộ giỏi , có năng lực xã
viên là những người có quyết tâm cao trong việc xây dựng và phát triển HTX
của mình. Các HTX mới thành lập nhìn chung đã thực hiện tương đối đầy đủ
thức để đối phó với các quy định của Luật và các văn bản của Chính phủ, một
số HTX đã chuyển đổi nhưng lúng túng về phương hướng hoạt động, về tổ
chức xã viên xã viên thờ ơ với HTX. Qua khảo sát một số HTX đã chuyển
đổi cho thấy còn tồn tại các vấn đề: xử lý tài sản, công nợ, xác định vốn góp
của xã viên, điều lệ HTX do sao chép điều lệ mẫu là chủ yếu nên chưa rõ
ràng, phương án hoạt động quá chung, trách nhiệm, lợi ích của Ban quản lý
không được quy định rõ, hoặc sai quy định Một số HTX biểu hiện chuỷên đổi
hình thức chưa đảm bảo đầy đủ các tính chất và các nguyên tắc của HTX.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là: Một số văn bản hướng dẫn của Nhà
nước chưa có( như thông tư hướng dẫn nghị định số 02 CP về quản lý Nhà
nước với HTX, nghị định 43/CP về hưóng dẫn thi hành điều lệ mẫu HTX
nông nghiệp ). Mặt khác cán bộ triển khai thiếu, chưa thấu đáo tinh thần của
các văn bản pháp luật, thông tư hướng dẫn hoặc làm theo hướng dẫn thì khó
nên làm tuỳ tiện cho
qua việc.
Việc theo dõi và uốn nắn những lệch lạc của các HTX trong chuyển đổi
chưa được đặt thành nhiệm vụ quan trọng và cần thiết và chưa xác định rõ tổ
chức nào có trách nhiệm việc này. Cho đến nay theo Nghị định 16/CP ngày
21/2/1997 trách nhiệm thụ lý hồ sơ và cấp ĐKKD cho các HTX chuyển đổi
và thành lập mới là phòng kế hoạch và đầu tư các quận và huyện trong cả
nước, nhưng việc theo dõi, phát hiện những sai sót và xử lý kịp thời thì nghị
định chưa quy định cơ quan, tổ chức nào chịu trách nhiệm.
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các HTX còn thấp, không đồng bộ
và vẫn quen hoạt động theo lề lối cũ, kém năng động và chậm thích ứng với
cơ chế thị trường. đây cũng là một tồn tại khá cơ bản có tác động làm trì trệ
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
quá trình phát triển kinh tế HTX .Muốn khắc phục tồn tại này cần phải tổ
chức đào tạo và bồi dưỡng trình độ kinh tế thị trường cho đội ngũ này. Coi
đây là một phần đầu tư của Nhà nước cho sự nghiệp phát triển kinh tế HTX
Nhìn chung số lượng HTX từ khi có Nghị Quyết X về tiếp tục đổi mới
HTXNN, Với xu hướng số lượng HTX ngày càng giảm do các HTX làm ăn
kém hiệu quả, tổng số 519 HTX, qua quá trình đổi mới số HTX đổi mới có
hiệu quả là 104 = 20% .
Còn lại là số HTX đổi mới bước đầu và HTX yếu kém
- Các HTX đổi mới có hiệu quả có nội dung hoạt động khá phong phú
biết tận dụng và phát huy các thế mạnh, nội bộ đoàn kết, nhân dân đồng tình
tin tưởng vào HTX.
- Các HTX đổi mới bước đầu chiếm 66,5% số HTX
25