phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp hòa quang bắc đến năm 2015 - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ĐÀO ANH XUÂN
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HÒA QUANG BẮC
ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ


PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HÒA QUANG BẮC
ĐẾN NĂM 2015 Chuyên ngành:Quản trị kinh doanh
Mã số: 603405 LUẬN VĂN THẠC SĨ Cán bộ hướng dẫn khoa học:
GS.TS. NGUYỄN KẾ TUẤN Nha Trang – 2012

iLỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác
xã nông nghiệp Hòa Quang Bắc đến năm 2015” là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu được sử dụng là trung thực, nội dung trích dẫn đều được chỉ rõ
nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng
được công bố tại bất kỳ công trình nào khác.

Nha Trang, ngày tháng năm 2012

iiLỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã được sự giúp
đỡ nhiều mặt của quý Thầy Cô, sự ủng hộ của gia đình và sự nhiệt tình của cán bộ
nhiên viên UBND xã Hòa Quang Bắc và HTX NN HQB. Với tình cảm chân thành và
lòng cảm kích, tôi:
Xin chân thành cảm ơn thầy GS-TS. Nguyễn Kế Tuấn, người đã tận tình và
nhiệt thành hướng dẫn tôi trong công tác nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin gửi lời cảm tạ đến với Ban Quản trị và các bộ phận của HTX NN Hòa
Quang Bắc; Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các phòng ban của xã Hòa Quang Bắc và những
xã viên đã giúp đỡ, tư vấn và hỗ trợ các thông tin để hoàn thành tốt luận văn.
Xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô Khoa Kinh tế, Khoa Khoa học cơ bản,
Khoa Lý luận Mác - Lênin của Trường Đại học Nha Trang, quý thầy cô Trường Đại
học Kinh tế Đà Nẵng đã tận tâm và nhiệt tình giảng dạy tôi trong suốt chương trình
khóa học Cao học quản trị kinh doanh tại Trường Đại học Nha Trang, cũng như đã
giúp tôi trang bị những kiến thức mới mẽ và hữu ích nhất.
Xin chân thành cảm ơn Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ Kinh tế đã góp những
ý kiến quý báu để đề tài luận văn hoàn chỉnh hơn.
Xin gửi lời cảm ơn các anh chị em trong lớp Cao học quản trị kinh doanh 2010
Trường Đại học Nha Trang đã cùng tôi chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm học tập trong
suốt quá trình tham gia khóa học, từ đó bản thân tôi đã có thêm những hiểu biết bổ ích
và tình cảm chân thành sau khi hoàn thành khóa học.
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HÒA QUANG BẮC 30
2.1. Tổng quan về xã Hòa Quang Bắc và HTX Hòa Quang Bắc. 30
2.1.1. Tổng quan về xã Hòa Quang Bắc 30
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên. 30
2.1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội. 32

iv

2.1.2. Giới thiệu chung về hợp tác xã Hòa Quang Bắc. 34
2.1.2.1. Qúa trình phát triển 34
2.1.2.2. Các nguồn lực của HTX NN Hòa Quang Bắc. 38
2.2. Thực trạng hoạt động sản xuất - kinh doanh của Hợp tác xã HQB 41
2.2.1. Thực trạng thực hiện các hoạt động dịch vụ và kinh doanh. 41
2.2.1.1. Thực hiện dịch vụ tín dụng 42
2.2.1.2. Thực hiện dịch vụ vật tư phân bón 43
2.2.1.3. Thực hiện dịch vụ cho thuê mặt bằng. 43
2.2.1.4. Thực hiện dịch vụ gặt lúa. 44
2.2.1.5. Thực hiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt nông thôn 44
2.2.1.6. Thực hiện dịch vụ cày tuốt. 45
2.2.1.7. Thực hiện dịch vụ thủy lợi 46
2.2.1.8. Thực hiện dịch vụ cung cấp giống. 46
2.2.1.9. Thực hiện dịch vụ xây dựng. 47
2.2.2. Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. 47
2.2.2.1. Tình hình sản xuất kinh doanh 47
2.2.2.2. Hiệu quả về mặt xã hội trong hoạt động của HTX: 55
2.3. Đánh giá tổng quát về hoạt động sản xuất - kinh doanh của Hợp tác xã nông
nghiệp Hòa Quang Bắc 56
2.3.1. Những kết quả tích cực. 56
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân. 58
2.3.2.1. Hạn chế. 59


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tổng diện tích đất sử dụng 32
Bảng 2.2. Số lượng xã viên HTX qua các năm 39
Bảng 2.3: Qui mô vốn của HTX. 40
Bảng 2.4: Tình hình thực hiện hoạt động dịch vụ của HTX. 41
Bảng 2.5: Số tiền cho xã viên vay vốn 43
Bảng 2.6: Doanh thu và lợi nhuận từng dịch vụ. 47
Bảng 2.7: Kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX qua các năm. 49
Bảng 2.8: Tình hình nợ phải trả của HTX qua các năm 50
Bảng 2.9: Tình hình nợ phải thu của HTX qua các năm 51
Bảng 2.10: Hệ số sử dụng vốn của HTX qua các năm 52
Bảng 2.11: Mức độ thỏa mãn của xã viên trong năm 2011 53
Bảng 2.12: Chỉ tiêu lãi được chia cho 1.000 đồng vốn góp. 54
Bảng 2.13: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của HTX qua các năm. 54
Bảng 2.14: Kết quả điều tra lấy ý kiến của các hộ xã viên 58
Bảng 2.15: Trình độ chuyên môn của cán bộ HTX qua các năm 61
Bảng 2.16. Bảng lương của cán bộ HTX 62
Bảng 2.17: Sơ đồ ma trận SWOT. 66
Bảng: 3.2 Ý kiến của xã viên về hướng phát triển thời gian tới 75
viiDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HTX Hợp tác xã
LỜI MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hợp tác xã (HTX) là tổ chức kinh tế tập thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Khi đất nước mở cửa hội nhập với kinh tế
thế giới, nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, HTX cũng được đổi
mới cả về nội dung, hình thức hoạt động, biểu hiện cụ thể ở việc ban hành Luật HTX
năm 1996 và Luật HTX sửa đổi năm 2003. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của
các HTX nông nghiệp vấp phải rất nhiều khó khăn làm cho hiệu quả sản xuất kinh
doanh thấp.
Từ khi triển khai thực hiện Luật HTX năm 1996 đến nay, các hợp tác xã nông
nghiệp (HTX NN) có bước phát triển mới, đã đáp ứng được một phần nhu cầu của
nông dân, của hộ sản xuất - kinh doanh nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, các HTX NN cũng còn tồn
tại một số yếu kém như: nhận thức về HTX kiểu mới, Luật HTX chưa được thấu đáo
và quán triệt một cách đầy đủ; vốn và cơ sở vật chất của các HTX vẫn còn nhỏ lẻ và
yếu kém; trình độ quản lý của cán bộ HTX vẫn còn chưa theo kịp cơ chế quản lý mới;
cơ chế chính sách của Nhà nước đối với HTX vẫn còn chậm đến với cơ sở, gây không
ít khó khăn cho các HTX.
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách tháo gỡ vấn đề này
(NQTW 7 khóa X về nông nghiệp, nông thôn và nông dân; Kết luận số 08-KL/TW
ngày 14/12/2006 của Ban Bí thư về tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương
5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Nghị
định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích
phát triển hợp tác xã; Quyết định số 246/2006/QĐ-TTg ngày 27/10/2006 của Thủ
tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã…). Nhưng đây là
khu vực đặc thù ưu tiên, do vậy cần kết hợp các giải pháp tổng hợp (quản lý, kỹ thuật,
tài chính, thị trường…) với các giải pháp về xã hội để tạo điều kiện phát triển đối với

vai trò “bà đỡ” cho kinh tế hộ với sự hỗ trợ 100% chi phí tiêm vắc xin phòng ngừa
dịch bệnh gia súc, tổ chức sản xuất trình diễn, khuyến cáo xã viên thực hiện chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm tăng hiệu quả kinh tế.
Với niềm mong ước làm thế nào để nâng cao mức sống cho cán bộ, xã viên;
làm đổi thay vùng quê nghèo từng chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh, nhiều thế hệ
lãnh đạo HTX đã lặn lội đi nhiều địa phương học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu ứng
dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, năm 2004 hưởng ứng chương trình nuôi
bò sữa, HTX đã đầu tư xây dựng một trang trại nuôi bò sữa trên diện tích hơn 13ha

3

(gồm trại chăn nuôi bò và diện tích trồng cỏ), với tổng kinh phí hơn 1,5 tỷ đồng, tưởng
chừng sẽ đem lại thành công tạo đà để HTX tiếp tục mở rộng qui mô sản xuất. Nhưng
do khí hậu, thổ nhưỡng không phù hợp và sự thiếu kinh nghiệm trong việc chăm sóc
cho nên đàn bò không sinh trưởng và phát triển, đến đầu năm 2006 phải thanh lý đàn
bò, thế là dự án chăn nuôi bò sữa bị thất bại. Không chịu lùi bước trước khó khăn lãnh
đạo HTX NN Hòa Quang Bắc tiếp tục đầu tư nuôi heo, tận dụng diện tích chuồng trại
có sẵn nuôi heo thịt theo phương thức khoán cho hộ chăn nuôi, đến cuối năm 2006
xuất chuồng được 254 con, nhưng do sự biến động của giá cả thị trường xuống thấp
nên việc chăn nuôi heo không đem lại lợi nhuận. Mặc dù lãnh đạo HTX rất cố gắng
tìm mọi cách để phát triển nhưng thực tế cho thấy muốn thành công trong cơ chế thị
trường, nhất là khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế
trong nước chịu tác động mạnh mẽ của kinh tế quốc tế; chúng ta cần phải xây dựng kế
hoạch sản xuất kinh doanh, nắm bắt thông tin, dự báo thị trường để đưa ra hướng phát
triển sản xuất và đề ra những giải pháp khắc khục khi gặp khó khăn. Xuất phát từ thực
tiễn đó, tôi đã chọn đề tài “Phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông
nghiệp Hòa Quang Bắc đến năm 2015” để nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
* Những nghiên cứu liên quan đến đề tài: vấn đề HTX NN là chủ đề được nhiều
nhà nghiên cứu, cơ quan khoa học xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi và mức độ
khác nhau. Có thể nêu một số công trình tiêu biểu sau:

NN Hòa Quang Bắc từ năm 2008 - 2011; định hướng và giải pháp phát triển đến năm
2015, tầm nhìn 2020.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê: tổng hợp và phân tích từ những số liệu thứ cấp kết hợp
với các tư liệu sơ cấp để đánh giá thực trạng HTX NN Hòa Quang Bắc.
- Phương pháp nhân quả: Phương pháp này được sử dụng để tìm nguyên nhân
hình thành thực trạng của HTX NN Hòa Quang Bắc ở địa bàn nghiên cứu.
Đánh giá những nguyên nhân tích cực và những khó khăn, hạn chế đến sự phát
triển của HTX NN Hòa Quang Bắc; đề xuất biện pháp nâng cao năng lực hoạt động
của HTX.
- Điều tra, khảo sát thực tế: Chọn mẫu thuận tiện, phát phiếu điều tra đến 50 hộ
xã viên để lấy ý kiến về mức độ thỏa mãn của họ đối với những dịch vụ mà HTX cung
cấp, trong đó có đề xuất hướng phát triển trong thời gian tới; kết hợp với số liệu thứ
cấp thu thập từ HTX qua đó phân tích, đánh giá để nhận thấy được những điểm mạnh,
điểm yếu từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đề xuất

5

phương hướng phát triển trong thời gian tới; phân tích ma trận SWOT để nhận thấy
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức.
- Phương pháp mô tả: sử dụng phương pháp mô tả nhằm xác định thực trạng
của HTX nông nghiệp Hòa Quang Bắc đang diễn ra trên địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức thảo luận Chủ tịch UBND xã, Chủ nhiệm,
Phó Chủ nhiệm HTX NN Hòa Quang Bắc lấy ý kiến làm cơ sở đề xuất định hướng và
các giải pháp phát triển HTX.
1.5. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu.
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận về xác định
phương hướng phát triển của HTX và áp dụng trong thực tế.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu giúp HTX NN Hòa Quang Bắc nắm rõ
các yếu tố ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của HTX. Từ đó xác định được các vấn đề

Luật Hợp tác xã của các nước đều đưa ra định nghĩa về hợp tác xã.
Luật Hợp tác xã của Cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: “Hợp tác xã đăng ký
là những tập thể với đa số thành viên không hạn chế nhằm khuyến khích việc sản xuất,
kinh doanh của các thành viên, thông qua các cơ sở sản xuất, kinh doanh chung”
Luật Hợp tác xã của Inđônêxia định nghĩa: “Hợp tác xã Inđônêxia là tổ chức kinh tế
của nhân dân mang tính xã hội, gồm những người hoặc những tổ chức ở địa phương và
thành viên lập nên một hệ thống kinh tế như là nỗ lực chung đặt trên cơ sở nguyên tắc
của tình anh em”.
Luật Hợp tác xã của Philippin định nghĩa: “Hợp tác xã là sự hiểu biết của
những người có cam kết chung và tập hợp nhau lại một cách tự nguyện để đạt được
mục đích xã hội hoặc kinh tế chung, có sự đóng góp công bằng vào vốn và chấp nhận
phần đóng góp hợp lý vào các công việc và phần lợi ích của việc kinh doanh theo
nguyên tắc hợp tác xã đã được chấp nhận chung” [9, tr. 6].
Các nước: Thụy Điển, Canađa quan niệm HTX là một tập hợp gồm những
người có nhu cầu chung về kinh tế và xã hội để thành lập một doanh nghiệp phù hợp
với các nguyên tắc hoạt động của HTX, nhằm đáp ứng nhu cầu của họ.
Như vậy, HTX là một tổ chức doanh nghiệp khác về cơ bản với công ty cổ
phần. Đặc trưng của HTX là thông qua hoạt động kinh doanh để liên kết các thành
viên với nhau và hạn chế phân chia lợi nhuận theo cổ phần đã đóng.

7

Từ những định nghĩa hợp tác xã nêu trên, có thể hiểu hợp tác xã là một tổ chức
kinh tế của những cá nhân, tập thể tự nguyện liên kết với nhau nhằm mục đích chung,
thỏa mãn nhu cầu chung, nhằm hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau tiến hành công việc kinh doanh
có hiệu quả nhất theo nguyên tắc liên kết tự nguyện.
- Khái niệm HTX ở Việt Nam:
Theo điều I Luật HTX năm 2003: “Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do
các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo qui định của luật này để phát huy sức

Duy Sơn II đã đầu tư nâng cấp gần 1,5 km kênh mương cấp I, cấp II bằng bê tông kiên
cố; nạo vét, đào lại các tuyến mương, trạm bơm tổng kinh phí đầu tư 800 triệu đồng
bằng nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước và vốn của HTX, góp phần phục vụ cho công tác
thủy lợi và chống hạn; ngoài ra, HTX còn trích quỹ phúc lợi để lo bảo hiểm tự nguyện
cho xã viên toàn HTX, hỗ trợ ốm đau, thiệt hại do lũ lụt, không thu thủy lợi phí đối với
diện tích ruộng để thờ phụng Liệt sỹ, đóng góp quỹ người nghèo, gia đình chính sách
gặp khó khăn, phụng dưỡng bà Mẹ Việt Nam Anh hùng.
HTX NN hỗ trợ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển. Hơn nữa nó làm
điểm tựa để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới, đồng thời mở
mang ngành nghề, phân công lại lao động, tiến tới xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Mô hình thủy điện của
HTX NN Duy Sơn II đã mang lại nhiều lợi ích trong sản xuất và cuộc sống của hàng
nghìn người dân địa phương. Những cố gắng không chỉ dừng lại ở đó, HTX NN Duy
Sơn II đã không ngừng nỗ lực để tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
cho các xã viên. Các xưởng dệt, xí nghiệp mây tre đan xuất khẩu, cũng đã được ra
đời tạo công ăn việc làm cho trên 200 lao động và doanh thu đạt từ 3 - 4 tỷ đồng
1.1.2. Đặc trưng của HTX NN.
* HTX NN có những đặc trưng cơ bản sau:
- HTX NN là tổ chức kinh tế - xã hội. Hoạt động của HTX không chỉ hướng tới
lợi ích kinh tế, mà còn quan tâm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng của xã viên về
xã hội, văn hóa và tập hợp những người lao động cùng ngành nghề, cùng địa bàn, phát
huy tính cộng đồng, phát triển quan hệ tình làng nghĩa xóm…
- Dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra,
giám sát hợp tác xã và có quyền ngang nhau trong biểu quyết; thực hiện công khai
phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quy
định trong Điều lệ hợp tác xã [19, tr.4].

9

- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: hợp tác xã tự chủ và tự chịu trách


10

* So sánh HTX với công ty cổ phần và công ty TNHH có hai thành viên trở lên:
- Những điểm giống nhau:
HTX, công ty cổ phần và công ty TNHH đều là tổ chức kinh tế có tư cách pháp
nhân và đều có sự bình đẳng như nhau trước pháp luật; đều được Nhà nước công nhận
và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Khi tham gia HTX, công ty cổ phần, công ty TNHH, xã viên HTX, thành viên
công ty đều phải góp vốn theo quy định theo Điều lệ HTX hoặc Điều lệ công ty và chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ trong phạm vi vốn góp vào HTX hoặc
vào công ty (đối với công ty TNHH là số vốn đã cam kết, đối với công ty cổ phần là số
cổ phần đã mua).
- Những điểm khác nhau:
+ Về mục tiêu: Mục tiêu HTX nhằm giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau bên cạnh mục
tiêu lợi nhuận trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Còn mục tiêu của công ty cổ
phần, công ty TNHH là lợi nhuận.
+ Về loại hình tổ chức: HTX là tổ chức kinh tế - xã hội. Hoạt động của HTX
không chỉ hướng tới lợi ích kinh tế, mà còn quan tâm đáp ứng các nhu cầu và nguyện
vọng của xã viên về xã hội, văn hóa và các nhu cầu khác. Còn công ty TNHH, công ty
cổ phần là loại hình doanh nghiệp, thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích
sinh lời.
+ Về sở hữu: Trong HTX có sở hữu tập thể và sở hữu xã viên. Sở hữu tập thể
của HTX gồm các nguồn vốn tích lũy từ quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, các
tài sản do Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tại trợ làm tài sản
không chia và các quỹ không chia của HTX. Sở hữu của xã viên là vốn góp. Còn công
ty TNHH, công ty cổ phần không có sở hữu tập thể, chỉ có sở hữu thành viên là vốn
góp cổ phần.
+ Về nguyên tắc quản lý: Quản lý trong HTX dựa trên cơ sở “đối nhân”, tức là
yếu tố con người sẽ quyết định đến mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, tổ chức quản

quy định của pháp luật về chứng khoán.
1.1.3. Qúa trình phát triển HTX ở Việt Nam.
Trong hơn 50 năm qua, phong trào hợp tác hóa đã diễn ra theo trình tự: từ hộ
nông dân cá thể, chuyển qua hình thức từ tổ đổi công lên hình thức HTX bậc thấp đi
lên HTX bậc cao, từ qui mô nhỏ đến qui mô lớn. Quá trình phát triển kinh tế hợp tác
và HTX ở nước ta có thể tóm lược như sau:

12

* Giai đoạn từ 1954-1975:
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải
phóng và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là đưa
nông dân vào con đường làm ăn tập thể dưới nhiều hình thức, từ tổ đổi công lên HTX
bậc thấp đến HTX bậc cao, cụ thể là:
- Giai đoạn thí điểm xây dựng HTX ở miền Bắc (8/1955-1958):
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa II) tháng
8/1955 đã đề ra chủ trương xây dựng thí điểm HTX NN. Trong 3 năm thực hiện thí
điểm, chúng ta đã xây dựng được 45 HTX và trên 100.000 tổ đổi công. Tuy số lượng
còn ít, trình độ phát triển thấp, nhưng thực tiễn cho thấy trong hoàn cảnh trình độ sản
xuất thấp kém, việc phát huy vai trò kinh tế hộ gia đình nông dân và hình thức hợp tác
giản đơn giữa các hộ nông dân là phù hợp và có hiệu quả. Tuy nhiên, trong thời kì này
có một số tồn tại như: một số HTX tan vỡ trong vụ chim xuân 1958, trong 26 HTX ở
Phú Thọ, Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hóa có 101/300 hộ thu nhập kém hơn năm
1956.
- Giai đoạn tổ chức xây dựng HTX (1958-1960):
Sau thời kỳ thí điểm ban đầu, khi chủ trương hợp tác hóa được đưa vào thực
hiện, các địa phương đã triển khai với một khí thế cách mạng đặc biệt. Phần đông
nông dân tin theo Đảng, tự nguyện gia nhập HTX. Vì vậy phong trào hợp tác hoá đã
phát triển với tốc độ không ngờ. Từ đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (khóa II) đã
quyết định chính thức đường lối, phương châm, chính sách hợp tác hóa nông nghiệp.

Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ở
miền Bắc đến khi giải phóng miền Nam (1966-1975)
Ở thời kỳ này, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đã diễn ra quyết liệt
trên cả hai miền Nam - Bắc. Phong trào phát triển HTX ở miền Bắc tiếp tục được củng
cố. Cũng thời kỳ này, mục đích phát triển HTX là phát huy vai trò tích cực trong sự
nghiệp ổn định hậu phương, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Qui mô HTX
ngày càng mở rộng. Bên cạnh đó chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã làm thiệt hại
nhiều về tính mạng và tài sản, nhiều thanh niên trẻ, khỏe đã phải lên đường chiến đấu,
lực lượng lao động còn lại trong HTX chủ yếu là phụ nữ, người già. Do vậy, HTX
trong thời kỳ này đã yếu hẳn nội lực cả về con người và vật chất, đời sống của xã viên
gặp nhiều khó khăn.

14

Năm 1966, Đảng ta chủ trương vận động cải tiến quản lý HTX vòng 2 thông
qua thực hiện chế độ 3 khoán thống nhất trong HTX nông nghiệp, nhưng tình hình
HTX vẫn tiếp tục khó khăn trì truệ. Trong bối cảnh chế độ 3 khoán đang được mở
rộng ở nhiều địa phương, thì tháng 9/1966 ở Vĩnh Phú lại xuất hiện hình thức khoán
hộ. Trên thực tế, hình thức khoán hộ đã làm cho nông dân phấn khởi, sản xuất phát
triển, một số mặt yếu kém và hiện tượng tiêu cực trong HTX có chiều hướng giảm bớt.
Dựa vào kết quả ấy, Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã ra Nghị quyết số 68 chủ trương mở rộng
khoán hộ trong phạm vi toàn Tỉnh.
Khoán hộ ở Vĩnh Phú, cũng như Hải Phòng trước đây là tín hiệu dự báo một
hướng đi mới của nông nghiệp, nông thôn nước ta. Nhưng ở thời điểm bấy giờ, điều
kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi để việc khoán hộ khẳng định vị trí của
nó trong thực tiễn.
Sau năm 1972, khi đế quốc Mỹ ngừng ném bom phá hoại miền Bắc, sản xuất có
phục hồi, nhưng chúng ta vẫn phải chi viện cho chiến trường miền Nam, tình hình
HTX nhìn chung vẫn còn khó khăn, việc mở rộng qui mô HTX được tiến hành liên tục
với quan niệm để lên sản xuất lớn, trong khi cơ sở vật chất và công tác quản lý HTX

quyết những vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội nhằm tạo điều kiện cho sản xuất
“bung ra”, một số HTX thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ, cho phép xã viên bỏ
vốn, sức lao động đầu tư thâm canh để được hưởng phần sản phẩm vượt khoán và hiện
tượng “khoán chui” ngày càng mở rộng. Để chấn chỉnh tình hình, Ban Bí thư Trung
ương Đảng đã ra Thông báo số 22 cho tổ chức tổng kết thực tiễn đến ngày 13/01/1981
chính thức ra Chỉ thị số 100 - CT/TW khẳng định chủ trương hình thức khoán sản
phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động.
Trong thực tiễn hoạt động của HTX trong suốt những năm 70 của thế kỷ XX đã
bộc lộ một số khó khăn, yếu kém như quá chú trọng tập thể hóa mà không coi trọng
đúng các quan hệ lợi ích giữa tập thể và hộ gia đình cũng như bản thân xã viên,
phương thức quản lý kém hiệu quả, xã viên không còn gắn bó với HTX, ruộng đất, tài
sản không còn sử dụng một cách có hiệu quả, qui mô HTX càng được mở rộng thì tình
trạng lãng phí và vô chủ ngày càng trầm trọng, các chính sách của Nhà nước chậm
được sửa đổi cho phù hợp, công tác tổ chức và quản lý của HTX mang nặng tính chất
hành chính cứng nhắc, làm sai lệch bản chất kinh tế đích thực của nó, thậm chí HTX bị
coi như là một tổ chức xã hội. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, yếu kém về cơ
chế, chính sách là do chúng ta nhận thức chưa đầy đủ về chủ nghĩa xã hội, nôn nóng đi
lên chủ nghĩa xã hội mà không nhận thức và không coi trọng đầy đủ yêu cầu và tác
động của các qui luật kinh tế khách quan mà đặc biệt là qui luật quan hệ sản xuất phải
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; coi nhẹ, thậm chí

16

phủ nhận vai trò và sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác trong thời kỳ quá độ.
Trong xây dựng và phát triển HTX, các nguyên tắc xây dựng HTX đã bị vi phạm. Đã
vô tình đồng hóa cả 3 khái niệm là: hợp tác hoá, tập thể hoá và HTX; về thực chất 3
khái niệm này hoàn toàn khác nhau về bản chất.
- Giai đoạn từ 1986 - 1996 (Luật HTX năm 1996 ra đời):
Những động lực được tạo ra từ Chỉ thị số 100 – CT/TW của Ban Bí thư bị giảm
dần do cơ chế quản lý HTX vẫn bị chi phối bởi các cơ chế tập trung quan liêu bao cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status