Lời mở đầu
Kể từ khi có Luật hợp tác xã mới (1/1/1997), kinh tế tập thể mà nòng cốt
là HTX kiểu mới phát triển dưới nhiều hình thức, trình độ khác nhau trong các
ngành các lĩnh vực, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn, đã đáp ứng một phần
nhu cầu của những người lao động, hộ sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng
vào quá trình phát triển đất nước.
Tuy nhiên hiện nay kinh tế HTX đặc biệt là các HTX trong nông nghiệp
còn nhiều mặt yếu kém, năng lực nội tại hạn chế, số HTX làm ăn có hiệu quả còn
ít, lợi ích đem lại cho các thành viên chưa nhiều. Những hạn chế, yếu kém đó có
thể do trình độ phát triển thấp của lực lượng sản xuất nhưng quan trọng hom là do
những thiếu sót kuyết điểm của các cấp uỷ Đảng và Chính quyền từ Trung ương
đến địa phương: nhận thức về vị trí ,vai trò tất yếu khách quan của Kinh tế tập thể
mà nòng cốt là kinh tế HTX chưa thống nhất,việc tuyên truyền chính sách của
Đảng và Nhà nước, giải thích mô hình HTX kiểu mới chưa được quan tâm đúng
mức, bộ máy quản lý của Nhà nước đối với các HTX hầu như không còn; Nhà
nước vừa lúng túng vừa buông lỏng ừong tổ chức chỉ đạo, chưa làm tốt việc tổ
chức thi hành luật HTX, chưa quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và kịp
thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho HTX; chưa huy động được sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị để đẩy mạnh phát triển các HTX. Tâm lý hoài nghi,
mặc cảm với mô hình HTX kiểu cũ ừong xã hội còn phổ biến.
Nghị quyết Đảng IX đã xác định “ Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình
thức đa dạng trong đó nòng cốt là các HTX” Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế
tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền Kinh tế quốc dân. Các
HTX nông nghiệp trước hết tập trung làm các dịch vụ đầu vào ,đầu ra phục vụ
hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ thành viên, từng bước mở rộng ngành
nghề sản xuất kinh doanh tổng hợp.MỞ rộng các hình thức liên doanh liên kết
kinh tế giữa HTX với các doanh nghiệp thuộc mọi thảnh phàn kinh tế, nhất là
doanh nghiệp Nhà nước. Khi HTX phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình
thành các doanh nghiệp của HTX, các liên hiệp HTX.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phát triển các HTX trong kinh
tế nông thôn nói riêng và trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng ho á nói
người sản xuất. Sản xuất nông nghiệp còn mang tính thời vụ nên trong nhiều
trường hợp đòi hỏi sự tập trung sức lao động và công cụ lao động để hoàn thảnh
một số công việc trong khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, những người sản
xuất nông nghiệp lại chủ yếu là các hộ nông dân với nguồn lực rất có hạn. Do vậy
khác với các ngành sản xuất khác, sản xuất nông nghiệp luôn đòi hỏi sự liên kết,
sự chung sức tự nguyện giữa những người sản xuất để hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau
trong hoạt động sản xuất. Tuy nhiên trong nông nghiệp do điều kiện sản xuất
cũng như nội dung, tính chất của các hoạt động sản xuất kinh doanh rất đa dạng
mà sự liên kết giữa những người sản xuất cũng đa dạng và được thực hiện với
những hình thức, quy mô và nội dung khác nhau.
Trong các lĩnh vục kinh tế khác nhau, do các hoạt động kinh tế có những đặc
điểm riêng mà kinh tế hợp tác có đặc điểm khác. Trong công nghiệp họp tác giữa
những người lao động sản xuất có thể thực hiện trong mọi khâu của quá trình sản
xuất, từ đảm bảo các yếu tố đầu vào đến khâu trực tiếp sản xuất và tiêu thụ sản
2
phẩm. Ngược lại trong nông nghiệp, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là
những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên và rất mẫn cảm với các
tác động của tự nhiên và của con người, chúng luôn đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mỉ và
thường xuyên của những người chủ thực sự và trực tiếp của đồng ruộng và
chuồng trại. Vì vậy trong nông nghiệp họp tác giữa những người lao động sản
xuất thường là hợp tác trong các khâu cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, còn khâu sản xuất trực tiếp thì do các hộ nông dân
đảm nhiệm.
Traianôp cho rằng: Hợp tác xã nông nghiệp là bổ sung cho các hộ nông dân
xã viên, phục vụ nó và nếu không có nó thì kinh tế họp tác không có ý nghĩa. Nhà
lý luận người Mỹ Êmiliannôp quan niệm rằng: Hợp tác xã không phải là một xí
nghiệp tập thể mà là tập họp xí nghiệp các hộ thành viên vẫn giữ được tính độc
lập của mình, khác với các bộ phận của một xí nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào xí
kinh doanh cũng đa dạng, từ đó dẫn tới tính đa dạng của các hình thức hợp tác
trong nông nghiệp. Các hình thức hợp tác này phân biệt với nhau bởi tính chất,
nội dung hoạt động, quy mô hoạt động, quy mô và trình độ tổ chức. Có thể nêu ra
một số hình thức chủ yếu của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.
- Tổ hợp tác: Tổ hợp tác thường có quy mô nhỏ, có nội dung hoạt động hẹp,
đơn mục tiêu, hình thảnh và hoạt động trên cơ sở hợp tác giản đơn, chưa có tổ
chức chặt chẽ, thường có vốn quỹ chung, hoạt động chưa có điều lệ, không phải
đăng ký kinh doanh nên chưa phải là pháp nhân kinh tế. Các tổ hợp tác trong
nông nghiệp thường không cố định.
- Họp tác xã: Họp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ,
có vốn quỹ chung, được cấp đãng ký kinh doanh và có tư cách pháp nhân. Luật
HTX nước ta quy định “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao
động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy
định của pháp luật”, ở nước ta HTX được xem là hình thức cơ bản của KTHT.
- Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp: Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp là một hình
thức họp tác có phạm vi hoạt động linh hoạt, thường gắn với một loại sản phẩm
trồng trọt, chăn nuôi hay một lĩnh vực hoạt động nào đó (nhu hội sinh vật cảnh,
hội làm vướn, hội nuôi ong), song không phải là một tổ chức sản xuất kinh doanh,
không có tư cách pháp nhân. Các thành viên tham gia chủ yếu là để trao đổi, giúp
đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Hiệp hội theo sản phẩm hay nhóm sản phẩm: Đây là hình thức họp tác có
phạm vi hoạt động rộng, có thể là phạm vi một vùng, một miền hay cả nước.
4
Thành viên của hiệp hội là những chủ thể kinh tế (có thể thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau) tham gia hiệp hội nhằm phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong sản
xuất kinh doanh. Hiệp hội có điều lệ hoạt động song không phải là đơn vị sản
xuất kinh doanh.
Mỗi hình thức KTHT nêu trên đều có vị trí, vai trò quan họng thích hợp trong
kinh tế- xã hội của đất nước. Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, có tổ chức chặt
chẽ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình và được
đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác.
- Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã: Khi xây dụng HTX kiểu
mới phải đảm bảo 5 nguyên tắc cơ bản: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX theo
quy định của điều lệ HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng, mỗi xã viên đều có
quyền ngang nhau trong biểu quyết; tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; chia lãi
bảo đảm kết họp lợi ích của xã viên với sự phát triển của HTX.
- Quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX: Khi ra nhập HTX mỗi xã viên
bắt buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ. Phần vốn góp của xã viên thuộc
sở hữu của từng thành viên, các nguồn khác thuộc sở hữu chung của HTX. Sau
khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối như sau: Thanh
toán các khoản bù lỗ; trích lập các quỹ của HTX; chia lãi theo vốn góp và công
sức đóng góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch vụ của HTX.
- Xã viên HTX: Có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình, mỗi xã viên có thể đồng
thời là thành viên cuả nhiều HTX, không phân biệt ngành, nghề, địa giới hành
chính. Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
- Quan hệ giữa HTX và xã viên: HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh
tế của xã viên. Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp không phá vỡ tính
độc lập tự chủ của kinh tế hộ, trang trại gia đình. Nó có tác đụng tạo điều kiện
phát triển tăng thu nhập cho kinh tế của các hộ xã viên. Trên cơ sở đó mà thúc đẩy
sự phát triển của kinh tế HTX.
- Điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể HTX: Khi thành lập HTX càn
phải có điều lệ, phương án sản xuất kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được đại
hội xã viên thông qua và cơ quan có trách nhiệm phê duyệt. Trong trường hợp
giải thể theo nghị quyết của đại hội xã viên, hoặc bị buộc phải giải thể theo quyết
định của pháp luật, HTX phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với cơ quan có thẩm
quyền. Đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên có thẩm quyền quyết định
cao nhất đối với mọi hoạt động của HTX.
- HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên tự nguyện lập ra, nó không
Il.kháỉ niệm và đặc điểm Họp tác xã nông nghiệp.
1. Khái niệm.
Từ khái niệm về họp tác và kinh tế hợp tác xã ta có thể hiểu hợp tác xã
7
trong Nông nghiệp như sau: HTX nông nghiệp trước hết là một tổ chức của kinh
tế hợp tác của những người sản xuất nông nghiệp. Được thành lập trên nguyên
tắc tự nguyện, dân chủ nhằm đáp ứng những yêu cầu về dịch vụ đa dạng trong sản
xuất nông - lâm - ngư và đời sống của chính các xã viên tham gia. HTX nông
nghiệp có thể là các tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân, ít nhất trên 3 lĩnh vực:
thứ nhất đó là lĩnh vực cung ứng các yếu tố đầu vào của sản xuất như phân bón,
thuốc trừ sâu... họp tác trong khâu làm đất, thuỷ lợi, thứ hai trong lĩnh vực giải
quyết đầu ra của sản xuất nông nghiệp bao gồm hoạt động thu mua chế biến đóng
gói và tiêu thụ nông sản ở thị trường trong và ngoài nước, thứ ba trong lĩnh vực
trực tiếp tổ chức sản xuất tập trung trong trồng trọt, chăn nuôi, kể cả nuôi thuỷ
sản.
2. Đặc điểm của họp tác xã nông nghiệp.
2.1. Quyền hạn và nghĩa vụ của hợp HTX nông nghiệp.
- HTX nông nghiệp có quyền về lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, quy mô sản
xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động, quyết định cơ cấu tổ chức, thuê lao động,
xuất nhập khẩu, phân phối thu nhập, huy động vốn, được bảo hộ bí quyết về công
nghệ và quyền từ chối những can thiệp từ bên ngoài trái với quy định của pháp
luật.
Cụ thể hơn chi tiết hơn một số nội dung đặc thù của HTX nông nghiệp: thứ
nhất chủ động tổ chức các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp theo khả
năng, lợi thế và tập quán sản xuất. Thứ hai, chủ động tìm kiếm các khả năng phát
triển các ngành nghề khác nhau để đa dạng hoá kinh tế HTX, thoát dần khỏi tình
từ bên ngoài. Quan hệ tài sản ừong HTX nông nghiệp rất đa dạng, những tài sản
mang tính cộng đồng là những tài sản có giá trị lớn thường là tài sản thuộc về các
công trình công cộng.
Quan hệ tài chính trong HTX nông nghiệp: Quan hệ tài chính trong HTX
nông nghiệp phản ánh sự vận động của các dòng tiền tệ diễn ra trong HTX trong
quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Cụ thể là những nguyên tắc trong việc
huy động vốn góp của xã viên các nguồn vốn khác để phát triển sản xuất kinh
doanh và phân phối lãi trong HTX nông nghiệp
2.4. Cơ sở khoa học về tỏ chức quản lý HTX nông nghiệp
Các HTX nông nghiệp thực hiện quản lý dựa trên việc hình thành ba định
chế cơ bản đi từ dân chủ đến tập trung đó là: Đại hội xã viên, ban quản trị, ban
kiểm soát. Trong đó đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất và thực hiện
9
quyền lực của mình dựa trên nguyên tắc dân chủ tổng hợp quyền lực của các xã
viên, thể hiện ở chỗ có quyền quyết định mọi vấn đề về tổ chức, hoạt động của
HTX, có quyền lập ra ban quản trị, ban kiểm soát, chủ nhiệm HTX cũng như các
chức danh quan trọng khác.
Ban quản trị HTX nông nghiệp có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thực hiện
kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ huy động vốn trong HTX nông nghiệp.
Ban quản trị có quyền lựa chọn kế toán trưởng, cơ cấu tổ chức và các bộ phận
nghiệp vụ, chuyên môn HTX
Ban kiểm soát thực hiện quyền giám sát, kiểm tra ban quản trị và xã viên
trong việc thực hiện nghị quyết của đại hội xã viên.
Chủ nhiệm HTX đại diện trước pháp luật để quan hệ đối ngoại, chủ động
điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, được quyền triệu tập các
cuộc họp ban quản trị để thảo luận và quyết định các vấn đề phát sinh.
2.5. Cơ sở khoa học cửa mối quan hệ giữa nhà nước với HTX nông nghiệp.
Nhà nước được xem như một nhân tố cơ bản trong việc nuôi dưỡng phát
trệ kém năng động, hiệu quả kinh tế thấp kém hơn khu vục tư nhân, song lại có
vai trò tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân và các khu vục khác phát triển. Song
song với hai khu vực kinh tế trên, hình thức tổ chức HTX ngày càng phát triển,
tuy không phải là khu vực chính để tạo ra tăng trưởng kinh tế mà là khu vực phụ
trợ, song khu vực này có vai trò, vị trí qan trọng trong giải quyết việc làm đảm
bảo đời sống cho đông đảo người lao động( nhất là ở các nước đang phát triển)
tạo sự ổn định xã hội và môi trường thuận lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia.
Quá trình phát triển kinh tế Việt Nam cũng cho thấy vai trò, vị trí của các
khu vực kinh tế ở từng thời kỳ là khác nhau, ở giai đoạn thực hiện cơ chế kế
hoạch hoá tập trung và phân chia nền kinh tế thành hai khu vực: Khu vực kinh tế
XHCN và khu vực kinh tế phi XHCN thì khu vực kinh tế XHCN đóng góp 58.8%
thu nhập quốc dân, khu vực kinh tế phi XHCN đóng góp 41,19% thu nhập quốc
dân.
Bước sang giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, so sánh giữa
vốn nắm giữ của các doanh nghiệp với kết quả đóng góp thấy khá rõ: Doanh
nghiệp nhà nước nắm giữ tỷ trọng vốn lớn hơn 68% tổng vốn doannh nghiệp
nhưng đóng góp trong tổng sản phẩm xã hội GDP là 40,29%, ngược lại khu vực
ngoài quốc doanh chỉ nắm dưới 10% tổng số vốn các doanh nghiệp nhưng đóng
góp đến 41,4% tổng GDP, HTX góp 8,9%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài 9,8% tổng GDP.
Chúng ta thấy rõ KTHT và HTX không phải là khu vực đem lại lợi nhuận
11
cao và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế vì mục tiêu hoạt động của khu vực này
không đơn thuần chạy theo lợi nhuận nhưng lại có vai trò to lớn trong việc mang
lại lợi ích cho người lao động cá lẻ đảm bảo sự ổn định xã hội, thông qua sự giúp
đỡ hỗ trợ với mọi người lao động có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển kinh
tế, bản thân họ và cộng đồng mà nếu để họ tự làm sẽ gặp không ít khó khăn. Mặt
Khởi đầu là các tổ vần đổi công. Đổi công tự nguyện của nông dân. Ngay từ đầu
1955 đã thảnh lập 153.000 tổ đổi công với 1.094.000 hộ tham gia, chiếm 40,5%
số hộ nông dân trong đó 12400 là các tổ đổi công thường xuyên với số hộ nông
dân bằng 8,1% số hộ tham gia các tổ đổi công. Đến 1958 tổng số tổ đổi công tăng
lên 244.000 thu hút 65.7% tổng số hộ nông dân, trong đó tổ thường xuyên là
74.500 thu hút 32% số hộ tham gia hợp tác. Hình thức họp tác lao động giản đơn
dưới dạng tổ đổi công tự nguyện trong giai đoạn này rất có hiệu quả, phù họp với
tâm lí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân, nên đã có tác dụng tích cực đến
sản xuất nông nghiệp và quan hệ sản xuất mới trong nông thôn . Trên cơ sở xác
định các tổ đổi công, Đảng ta đã hình thành chủ trương về đẩy mạnh họp tác hoá
trong nông nghiệp . Thực hiện chủ trương đó trong nông nghiệp tính đến cuối
1957 đã thí điểm xây dựng 42 HTX ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên và Thanh
Hoá. Các HTX thí điểm chủ yếu được hình thành từ các tổ đổi công có quy mô
xóm hoặc thôn bình quân 20-30 hộ xã viên, có ban quản trị rất gọn nhẹ từ 2-3
người và 1 kiểm soát viên, hình thức hợp tác chủ yếu là cùng làm chung và phân
phối theo công điểm. Các tư liệu sản xuất chung vẫn của riêng hộ xã viên, quyền
sở hữu ruộng đất của từng hộ vẫn được đảm bảo, nhưng được HTX sử dụng để
sản xuất chung và chia hoa lợi hàng năm cho hộ xã viên. Đất khai hoang, tăng vụ
được giảm và miễn thuế, được tự do thuê nhân công. Với chủ trương đúng đắn đó
đã tạo ra sự hăng hái phấn khởi trong nông dân, sản xuất phát triển, đời sống nông
dân và bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ rệt, bình quân lương thực đầu người
tăng từ 257(1957) lên 304 kg (1958) và 334 kg (1959).
2. Giai đoạn 1959-1960:
Giai đoạn thực hiện và hoàn thành cơ bản phong trào hợp tác hoá trong
nông nghiệp ở miền Bắc.
Sau 3 năm tiến hành thí điểm thành lập HTX nông nghiệp đến tháng 4
năm 1959 Đảng và Nhà nước đã tổng kết và đánh giá: Xuất hiện mâu thuẫn giữa
phương thức tập thể với cá nhân, mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng năng suất và kỹ
thuật lạc hậu. Nghị quyết số 16 TW tháng 4/1959 nhận định” Còn chế độ tư hữu
tư nhân về TLSX và lối làm ăn cá thể thì vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện cho
xây dựng và phát triển các HTX tín dụng , đến năm 1956 đã xây dựng được 5294
cơ sở với 2082000 xã viên tham gia chiếm 71% tổng số hộ nông dân miền Bắc.
Mỗi HTX tín dụng hoạt động trên quy mô một xã, đóng vai trò cho kinh tế phụ
gia đình vay vốn để mua lương thực, thuốc men, sửa chữa nhà cửa của xã viên
HTX nông nghiệp.
3. Giai đoạn 1961-1980:
Giai đoạn củng cố hoàn thiện đưa HTX nông nghiệp bậc thấp lên bậc cao,
mở rộng quy mô HTX theo mô hình tập thể hóa. Xây dựng các HTX cấp huyện ở
miền Bắc và thực hiện mô hình HTX tập thể hoá ở miền Nam sau giải phóng với
14
mong muốn thúc đẩy nhanh quá trình cải tạo XHCN trên phạm vi cả nước thống
nhất cùng đi lên CNXH.
ơ giai đoạn đầu 1961-1975 phong trào hợp tác hoá bộc lộ nhiều nhược
điểm biểu hiện là sự không phù họp của mô hình HTX bậc cao. Quá trình củng cố
và mở rộng quy mô HTX luôn luôn trái ngược với kết quả trong sản xuất nông
nghiệp. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, sản xuất nông nghiệp
ngày càng sa sút, kinh tế HTX ngày càng biểu hiện tiêu cực: mất dân chủ, tham ô
, lãng phí thu nhập của xã viên HTX đã thấp lại càng giảm. Thời kỳl966-1972,
tốc độ tăng thu nhập bình quân hàng năm là 13,6% thì tốc độ tăng chi phí là
15,1%. Tương tự thời kỳ 1973-1975 là 23,75% và 75%. Năm 1972, giá trị tài sản
cố định HTX thất thoát tới 35,4%, quỹ tích luỹ khấu hao tính khống 40,7%. Mức
lương thực bình quân đầu người giảm từ 17kg/người/tháng 1965 xuống còn 10,4
kg năm 1980 Xã viên HTX chán nản, ruộng đất bỏ hoang hoá, số lượng ngưòi xin
ra khỏi HTX ngày càng tăng, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn, bao trùm
đời sống ở nông thôn miền núi là tinh thần đoàn kết đùm bọc, chia sẻ khó khăn,
tất cả giành cho tiền tuyến. Giai đọan này khối lượng lương thực nhập khẩu tăng
liên tục qua các năm( Năm 1966 nhập khẩu 388,1 ngàn tấn, năm 1975: 1055 ngàn
tấn).
Tuy nhiên, cơ chế khoán theo chỉ thị 100 chủ yếu mới giải phóng lao động
và một phần quan hệ phân phôi, quan hệ sở hữ vẫn như tình trạng bao cấp, phân
phối theo công điểm, quản lý tập trung, mệnh lệnh, thu nhập từ kinh tế tập thể
thấp, mức khoản không ổn định, tình trạng tham ô, lãng phí trong HTX vẫn tiếp
diễn nông dân xã viên vẫn phải chịu nhiều khoản đóng góp, điều bất hợp lý, làm
cho mức thu nhập giảm dàn, động lực tạo ra nhanh chóng bị suy giảm, người sản
xuất không yên tâm, tình trạng chán nản tăng lên, hộ xã viên trả lại ruộng khoán
ngày một tăng.
Năm 1993, Luật HTX được ban hành , hộ xã viên được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lâu dài và được hưởng 5 quyền. HTX rút dần khỏi các
hoạt động trực tiếp tiến hành sản xuất để chuyển giao quyền tự chủ cho hộ xã
viên. Quan hệ HTX - hộ xã viên chuyển dần sang quan hệ hợp đồng kinh tế giữa
hai chủ thể bình đẳng theo các nguyên tắc thoả thuận, xoá bỏ chế độ phân phối
công điểm trong HTX . Bộ máy quản lý HTX giảm nhẹ, phổ biến tới40-50%, các
khoản chi phí bất hợp lý trong HTX cũng giảm, dần xoá bỏ tệ rong công, phóng
điểm và tham ô công quỹ.
Trước sự thay đổi của cơ chế mới, các HTX nông nghiệp kiểu cũ gặp
16
nhiều khó khăn, lúng túng, lâm vào tình trạng trì trệ, suy giảm tác dụng đối với hộ
xã viên tự chủ, thậm chí một bộ phận HTX , đặc biệt các tập đoàn sản xuất tan rã:
Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp &PTNT từ 1988 đến 1995 giải thẻ 2958 HTX
và 33804 TĐsản xuất nông nghiệp , đồng thời số hộ xã viên tham gia HTX và
TĐsản xuất cũng giảm mạnh từ 86%xuống còn 10% ở các tỉnh Nam bộ, mỉền núi
phía Bắc giảm từ 91% xuống 45%.
số HTX còn lại buộc phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức và
cơ chế quản lý nội bộ theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, nhiều chức danh được lồng
ghép để giảm bớt chi phí quản lý. Nhiều HTX phải chia nhỏ cho phù hợp với
trình độ quản lý, đến năm 1995 cả nước còn 16.243 HTX và 2548 TĐ sản xuất
từ trước đến nay chưa từng được quy định. Với những quy định và ràng buộc như
vậy rõ ràng là việc chuyển đổi các HTX cũ cũng như việc thành lập HTX mới
theo Luật HTX đã thể hiện rõ tính chất tích cực và toàn diện, đề cao chất lượng và
các nguyên tắc hợp tác cũng như nhu cầu khách quan là điều kiện tiên quyết.
Thứ ba: kết quả chuyển đổi các HTX cũ thu được một sổ kết quả như sau:
nhìn chung, mô hình HTX sau chuyển đổi thường gồm hai loại, thứ nhất HTX có
đông xã viên, thứ hai HTX có ít xã viên, số HTX sau chuyển đổi loại có đông xã
viên chiếm tỷ lệ cao hơn số HTX có ít xã viên, tuy nhiên hiệu quả hoạt động thì
loại HTX có ít xã viên hoạt động tốt hơn. (xem bảng 1.)
18
Bảng 1: Quy mô HTX tính theo sổ liệu xã viên của HTX đã chuyển đồi.
Chỉ tiêu
chung
Miền bắc
Miền Nam
Miền
Trung,
Số HTX có báo cáo
%
2127
1795
10
10,1 212
19
2
100
10,5
0,3
8
42,1
99,3
9
47,3
viên
Số HTX có từ 51- 100
131
122
1
xã viên
Số HTX có trên 100 1781
Số
Số
Bình
Bình
theo đồng)
X
lượng
lượng
quân/HT
quân/HT
báo
(Triệu
(Triệu
(Triệu
X
X
cáo
đồng)
đồng)
đồng)
(Triệu
(Triệu
đồng)
đồng)
1948 1092.025 556
862.281 439
229.744 177
Chung
cả
nước
233
2583
Tây
nguyên
24
9416
392
6479
đong
nam bộ
ĐBSC 4
3163
790
2461
L
Nguồn: số liệu điều tra xã hội học năm 1999.
752
103.355 292
180,4
16.994
30,7
397,7
533,7
xã viên nợ từ trước năm 1998, giảm nợ của các hộ gia đình thưcmg binh, liệt sĩ,
gia đình nghèo neo đơn, xoá nợ đối với những người đã chết, các hộ gia đình
chuyển đi nơi khác sinh sống.
Đối với các khoản nợ phải trả :hầu hết các HTX chuyển đổi đã làm rõ về
cơ sở pháp lý các khoản nợ HTX phải trả và đã loại trừ khỏi phần vốn khi phân
bổ vốn góp cho xã viên tham gia HTX mới. Nhìn chung sau khi đã cố gắng thu
nợ,các HTX đã bàn giao cho HTX mới hoặc UBND về các khoản công nợ
củaHTX cũ.
Xác định nội dung và phạm vi hoạt động của HTX,xã viên được biết, tham
gia và có quyền kiểm ữa hoạt động của HTX thông qua bộ máy quản lý do đại
hội xã viên lựa chọn.Nhiều HTX đã xây dựng được phương hướng sản xuất kinh
doanh có tính khả thi, phù hợp với nhu cầu của thị trường, HTX và khả năng của
cơ sở.
Quan hệ giữa xã viên với ban quản trị được quy đinh rõ trên cơ sở xác
định chức năng, quyền hạn của các bên.
20
Xoá bỏ sự can thiệp hành chính của chính quyền địa phương vào công
viẹc nội bộ của HTX những việc làm trên đây đã không thể thực hiện được trong
những năm chưa có luật HTX, đồng thời quạ chuyển đổi có căn cứ để đưa ra các
biện pháp phù họp giúp đỡ các HTX phát triển.
Thứ tư, việc thành lập HTX kiểu mới có sự phát trồng triển khá về số
lượng và loại hình; theo thống kê bước đầu số lượng HTX thành lập mới là 1563
đơn vị. Phần lớn các HTX này có đội ngũ cán bộ giỏi, có năng lực xã viên là
những người có quyết tâm cao trong việc xây dựng và phát triển HTX của mình.
Các HTX mới thành lập nhìn chung đã thực hiện tương đối đầy đủ quy định của
luật pháp: xác định rõ xã viên, góp vốn khi vào HTX, có phương án sản xuất
kinh doanh và điều lệ rõ ràng. Bên cạnh vệc hình thành các HTX kiểu mới, đã
xuất hiện một số mô hình hợp tác, liên kết giữa HTX với các loại hình HTX
tồn tại các vấn đề: xử lý tài sản, công nợ, xác định vốn góp của xã viên, điều lệ
HTX do sao chép điều lệ mẫu là chủ yếu nên chưa rõ ràng, phương án hoạt động
quá chung, trách nhiệm, lợi ích của Ban quản lý không được quy định rõ, hoặc
sai quy định Một số HTX biểu hiện chuỷên đổi hình thức chưa đảm bảo đầy đủ
các tính chất và các nguyên tắc của HTX. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên
là: Một số văn bản hướng dẫn của Nhà nước chưa có( như thông tư hướng dẫn
nghị định số 02 CP về quản lý Nhà nước với HTX, nghị định 43/CP về hưóng
dẫn thi hành điều lệ mẫu HTX nông nghiệp ). Mặt khác cán bộ triển khai thiếu,
chưa thấu đáo tinh thần của các văn bản pháp luật, thông tư hướng dẫn hoặc làm
theo hướng dẫn thì khó nên làm tuỳ tiện cho qua việc.
Việc theo dõi và uốn nắn những lệch lạc của các HTX trong chuyển đổi
chưa được đặt thảnh nhiệm vụ quan ữọng và cần thiết và chưa xác định rõ tổ
chức nào có trách nhiệm việc này. Cho đến nay theo Nghị định 16/CP ngày
21/2/1997 trách nhiệm thụ lý hồ sơ và cấp ĐKKD cho các HTX chuyển đổi và
thành lập mới là phòng kế hoạch và đầu tư các quận và huyện trong cả nước,
nhưng việc theo dõi, phát hiện những sai sót và xử lý kịp thời thì nghị định chưa
quy định cơ quan, tổ chức nào chịu trách nhiệm.
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các HTX còn thấp, không đồng bộ và
vẫn quen hoạt động theo lề lối cũ, kém năng động và chậm thích ứng với cơ chế
thị trường, đây cũng là một tồn tại khá cơ bản có tác động làm trì trệ quá trình
phát triển kinh tế HTX .Muốn khắc phục tồn tại này cần phải tổ chức đào tạo và
bồi dưỡng trình độ kinh tế thị trường cho đội ngũ này. Coi đây là một phần đầu
tư của Nhà nước cho sự nghiệp phát triển kinh tế HTX trong tưomg lai.
22
Các chính sách của Nhà nước đối với HTX chưa được tổ chức thực hiện:
như chính sách đất đai, chính sách về xử lý công nợ đối với HTX cũ đã chuyển
đổi, chính sách miễn , giảm thuế lợi tức, thuế doanh thu đối với HTX làm dịch
vụ phục vụ các hộ xã viên, chính sách về thuế môn bài của các HTX đã chuyển
số 519 HTX, qua quá trình đổi mới số HTX đổi mới có hiệu quả là 104 = 20% .
Còn lại là số HTX đổi mới bước đầu và HTX yếu kém
- Các HTX đổi mới có hiệu quả có nội dung hoạt động khá phong phú biết tận
dụng và phát huy các thế mạnh, nội bộ đoàn kết, nhân dân đồng tình tin tưởng vào
HTX.
- Các HTX đổi mới bước đầu chiếm 66,5% số HTX
vốn quỹ nợ đọng sản phẩm nhiều, sơ sở vật chất kỹ thuật có phát triển nhung
không đáng kể( giá trị TSCĐ có từ 300- 500 triệu đồng, vốn lưu động và quỹ thực có từ
10 - 50 triệu đồng nợ đọng sản phẩm từ 50- 150 tấn/ 1 HTX.
24
*Ban quản lý HTX thường thụ động chưa biết khai thác các tiềm năng của địa
phương, không dám vươn lên kinh doanh,dịch vụ những mặt hàng mới, sản xuất kinh
doanh kém hiệu quả.
* Đối với HTX yếu kém: Chiếm 13,5% số HTX 1 số HTX cụ thể như HTX
Thư Phú( Thường Tín), Ngọ xá, Hậu Xá ( ứng Hoà), An Tiến( Mỹ Đức), Quyên Cao(
Ba Vì), Phương Viên( Hoài Đức)....
Ban Quản Lý HTX chỉ tổ chức làm được 1 số khâu dịch vụ như nước, bảo vệ
đồng, cung ứng gióng mới, chất lượng dịch vụ thấp. Hộ xã viên tự lo liệu là chính, hộ
xã viên không quan tâm tới HTX.
HTX không có vốn quỹ hoạt động, nợ đọng sản phẩm nhiều, nội mất đoàn kết,
một số nơi tuy đã được củng cố lại nhưng chưa thể khắc phục ngay được trong một thời
gian ngắn.
Tóm lại: Những tồn tại chung trong HTXNN trước 1996 như sau:
a. Nội dung hoạt động của HTX trừ 1 số HTX có nội dung hoạt động tốt được hộ xã
viên đồng tình còn phần lớn các HTX có nội dung hoạt động chung chung chưa cụ thể
như: chưa phân định rõ trách nhiệm của ban quản lý HTX, trách nhiệm của tổ dịch vụ,
trách nhiệm của hộ xã viên trong việc hướng dẫn sản xuất cũng như các dịch vụ sản