Khóa luận tốt nghiệp
Lời mở đầu
Từ hàng ngàn đời nay, có ba dòng sông miệt mài chảy để rồi hội tụ vào
sông Hồng ở ngã ba Hạc (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Sự hội
tụ đó đã đem đến cho miền hạ lu trớc núi nguồn phù sa vô tận và màu mỡ. Nơi
đó núi không cao, có đồi gò san sát nh bát úp, có sông suối lạch ngòi, có đồng
ruộng phì nhiêu, khí hậu ôn hòa, cảnh vật nên thơ. Miền đất cổ thiên thời, địa
lợi nh thế nên từ buổi hoang so hàng vạn năm về trớc đã có con ngời đến ngụ
c, sinh sống. Dấu tích của họ còn để lại trên các đồi gò và thềm sông cổ.
Bớc vào thời đại văn minh, khi con ngời biết đến kim loại, miền đất ấy
vẫn là nơi cuốn hút các nhóm c dân thời văn minh tụ hội. Trong đó nổi trội và
đông đảo nhất là c dân văn hóa Phùng Nguyên. Đó chính là những ngời đã
làm nên một nền văn hóa mở đầu cho lịch sử văn minh thời các Vua Hùng
văn hóa Phùng Nguyên.
Ngày nay, trên mảnh đất ấy còn lại rất nhiều dấu tích ghi dấu thời các
Vua Hùng. Trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là địa điểm có ý nghĩa lịch
sử quan trọng nhất. Việc lu giữ và phát huy những giá trị văn hóa đó đã và
đang đợc nhiều cấp, ngành trên quê hơng Đất Tổ thực hiện. Bảo tàng Hùng V-
ơng đợc ra đời trong khu Di tích lịch sử Đền Hùng cũng không nằm ngoài
mục đích đó.
Với nội dung văn hóa Phùng Nguyên đợc giới thiệu tại bảo tàng Hùng
Vơng, sẽ giúp cho thế hệ sau nhận biết đợc tổ tiên chúng ta thời Hùng Vơng.
Đó là chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên những ngời đã lao động và sáng tạo
không ngừng để đạt đợc những thành tựu trên mọi lĩnh vực, xây dựng nên mọi
cơ sở vật chất và tinh thần cho xã hội thời Hùng Vơng.
Là một ngời con thuộc thế hệ con cháu Vua Hùng, em thấy rằng việc
tìm hiểu lịch sử, tìm hiểu những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông là điều vô
cùng cần thiết. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài : Tìm hiểu những hiện vật
thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng
để tìm hiểu về văn hóa Phùng Nguyên - nền văn hóa khởi đầu thời kỳ Hùng
Vơng dựng nớc.
2.1. Khái quát về nội dung trng bày của bảo tàng Hùng Vơng 62
2.2. Hiện vật văn hóa Phùng Nguyên trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng 64
2.2.1. Khái quát phần trng bày văn hóa Phùng Nguyên 64
2.2.2. Những hiện vật tiêu biểu của văn hóa Phùng Nguyên đợc trng bày 65
2.2.2.1. Đồ đá 65
2.2.2.2. Đồ gốm 68
2.2.3. Nhận xét về hệ thống trng bày 70
2.2.4. ý nghĩa của việc trng bày 71
Đặng Mỹ Trang - BT22
3
Khóa luận tốt nghiệp
Chơng 3 : Giá trị những hiện vật văn hóa Phùng
Nguyên trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng 73
3.1. Những giá trị cơ bản 73
3.1.1. Giá trị lịch sử 73
3.1.2. Giá trị nghệ thuật 75
3.1.3. Giá trị văn hóa 77
3.2. Mối quan hệ giữa văn hóa Phùng Nguyên và các nền văn hóa khác
thông qua các hiện vật trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng 79
3.3. Văn hóa Phùng Nguyên - tiền đề cơ bản cho sự phát triển của các giai
đoạn văn hóa tiếp theo 83
Kết luận 88
Đặng Mỹ Trang - BT22
4
Khóa luận tốt nghiệp
Chơng 1
Khái quát về thời đại Hùng Vơng
và nền văn hóa Phùng Nguyên
1.1 Khái quát về thời đại Hùng Vơng
1.1.1 Niên đại là một vấn đề mấu chốt nhất trong khi nghiên cứu thời kỳ
5
Khóa luận tốt nghiệp
nam: những di tích muộn hơn trớc có niên đại khoảng nửa đầu thiên niên kỷ
thứ II nh Lũng Hòa,Đồng Đậu chủ yếu đều phân bố ở những tỉnh Vĩnh Yên,
Phúc Yên, Bắc Ninh cũ. Tới giai đoạn phát triển đồng thau-khoảng nửa đầu
thiên niên kỷ thứ I trớc công nguyên, khối c dân nòng cốt của Văn Lang vẫn
còn chủ yếu sinh tụ trong phạm vi cơng vực hẹp của nớc Văn Lang bao gồm
vùng bắc và một phần vùng trung tâm và nam của đồng bằng Bắc Bộ theo sự
phân vùng địa lý. Về thời gian này, sử sách xa nhất còn lại đã ghi nhận sự hng
khởi của bộ lạc Văn Lang với các vua Hùng. Nh vậy là cho đến giữa thiên
niên kỷ thứ I trớc công nguyên, về căn bản toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ đã đợc
khai thác. Chỉ còn một vùng chúng ta cha đợc hiểu rõ lắm đó là vùng đất ven
biển kể từ dới chỗ sông Hồng đổ ra biển vào tới miền Bắc đồng bằng Thanh
Hóa thuộc tỉnh Ninh Bình. Trong bốn vùng đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ đợc
khai thác trớc tiên cùng với một bộ phận phía bắc của vùng trung tâm và vùng
phía nam, kế đó là những dải đất hẹp thuộc những thềm sông Hồng, sông Đáy,
và cuối cùng là phần còn lại của cả đồng bằng. Đó là quá trình lập c ở đồng
bằng Bắc Bộ trong đoạn đầu tiên mà khảo cổ học cho biết. Đất nớc trù phú,
điêù kiện nhiên thuận lợi cho sinh hoạt của con ngời, thêm vào đó trình độ
phát triển văn minh cao của dân c cũng có thể làm cho chúng ta phán đoán đ-
ợc rằng c dân Văn Lang hẳn phải là đông đúc lắm. Tuy nhiên tài liệu ghi chép
lại không thỏa mãn đợc nguyện vọng muốn hiểu biết về vấn đề này. Tình hình
phân bố dân c trong nội nớc Văn Lang cũng không đều nhau. Vùng đồng
bằng Bắc Bộ đông đúc hơn cả, đồng bằng sông Mă tha nhất là vùng núi và
vùng Nghệ Tĩnh. Dân số đông đúc cũng là một chỉ tiêu phản ánh trình độ
phát triển của nớc Văn Lang. Hầu nh mọi nguồn tài liệu thông báo về tình
hình c dân Văn Lang đều thống nhất ở một chỗ: ngay từ thuở dựng nớc, đất n-
ớc ta đã là nơi có nhiều dân tộc anh em sinh sống, cùng chung sức xây dựng
và bảo vệ đất nớc.
1.1.4 Về kinh tế xã hội Văn Lang là xă hội có một nền kinh tế đã phát
cây ăn quả đã xuất hiện. Nhiều sách Trung Quốc đã chép về nhiều loại rau củ
và cây ăn quả ở Việt Nam trong thời Bắc thuộc. Nh vậy là những cây trồng đó
không phải đến thời kỳ Bắc thuộc mới bắt đầu đợc thuần hóa mà chúng đã đợc
trồng từ trớc trong thời kỳ Hùng Vơng. Bên cạnh nghề trồng lúa, c dân văn
Lang còn chăn nuôi gia xúc, gia cầm. Trâu bò, lợn, chó, ngựa, gà, vịt đã đợc
thuần dỡng từ trớc thời Hùng Vơng. Đến thời Hùng Vơng do nông nghiệp
phát triển, các gia súc, gia cầm lại có rất nhiều. Thời kỳ thứ nhất của thời đại
Hùng Vơng, tức là thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, nghề đánh cá đã xuất hiện,
nhất là ở các vùng ven sông, ven hồ. Sang thời kỳ thứ hai của thời đại Hùng
Vơng nghề đánh cá càng phát triển. Sang giai đoạn cuối của văn hóa Đông
Sơn, ngời thời Hùng Vơng đã biết đóng thuyền lớn. Do đó chúng ta có thể nói
rằng nghề đánh cá đã rất phát triển. Ngời thời Hùng Vơng không những đã có
điều kiện dùng lới đánh cá theo quy mô lớn trên sông mà còn có thể đánh cá
trên mặt biển nữa. Kinh tế thời Hùng Vơng là một nền kinh tế có tính chất
tổng hợp, lấy nông nghiệp làm gốc. Thực chất nông nghiệp thời kỳ này là
Đặng Mỹ Trang - BT22
7
Khóa luận tốt nghiệp
nông nghiệp trồng lúa nớc. Điều đó nói lên rằng, ngay từ buổi đầu dựng nớc
đầu tiên, ông cha chúng ta đã chú ý đến vấn đề nông nghiệp, đến cây lúa.
Kinh tế nông nghiệp đã trở thành một truyền thống của dân tộc ta. Chính
truyền thống ấy đã ảnh hởng và chi phối mọi hình thái ý thức và ngay cả tâm
t, tình cảm của dân tộc ta.
Bên cạnh nông nghiệp, các ngành thủ công nghiệp cũng càng ngày càng
phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong đời sống của con ngời thời
Hùng Vơng. Nghề làm đồ đá thời Hùng Vơng đã kéo dài đến 2000 năm. Ngay
ở giai đoạn Phùng Nguyên kỹ thuật làm đá đã đạt đến trình độ hoàn thiện.
Con ngời đã biết ca mài khoan thành thạo. Khoan có nhiều kiểu. Những mũi
khoan dùng để khoan lỗ các hạt chuỗi. Ngời ta dùng phơng pháp khoan tách
lõi để khoan các vòng trang sức. Phơng pháp khoan tạo ra các rãnh tròn rất
thuật ổn định. Một ngành thủ công quan trọng khác có tác dụng lớn về kinh tế
cũng nh xã hội của thời kỳ Hùng Vơng là luyện kim. Nghề luyện kim đã xuất
hiện từ giai đoạn sớm nhất của thời kỳ Hùng Vơng, giai đoạn Phùng Nguyên.
Hiện nay đã tìm thấy dấu vết của đồng ở một số di chỉ thuộc văn hóa Phùng
Nguyên nh Gò Bông, Xóm Dền, Đồng Xấu, Đồng Vông Đó là những cục
đồng vụn, xỉ đồng hay gỉ đồng. Kỹ thuật luyện đồng đã phát triển rực rỡ ở giai
đoạn Đông Sơn thì nghề làm đồ sắt cũng bắt đầu xuất hiện. Trớc đây nhiều ng-
ời còn cho rằng kỹ thuật làm đồ sắt do ngời phơng Bắc đa vào Việt Nam trong
thời Bắc thuôc. Những phát hiện mới trong mấy năm gần đây đã bác bỏ nhận
định đó. Ngời ta đã tìm thấy nhiều công cụ sắt trong các di chỉ thuộc giai đoạn
Đông Sơn ở miền Bắc.
Căn cứ vào các phát hiện của khảo cổ học, chúng ta có thể tìm hiểu đợc
ngời Hùng Vơng đã tổ chức nh thế nào để tiến hành công việc sản xuất. Tất
cả những điều mà chúng ta có thể biết đợc về sản xuất đồ gốm thời Hùng V-
ơng là việc sản xuất không rải ra ở tát cả các miền của nớc Văn Lang; chỉ có ở
một số vùng có điều kiện thuận lợi về nguyên vật liệu, về đờng giao thông để
có thể tiến hành sản xuất đồ gốm đợc; nhng cho đến cuối thời đại Hùng Vơng
vẫn không thấy xuất hiện những công xởng chuyên sản xuất đồ gốm. Công
việc sản xuất đồ gốm vẫn là công việc của từng công xã. Ngời thợ gốm nói
chung vẫn sống trong công xã, đời sống của họ vẫn lệ thuộc vào sản xuất nông
nghiệp của công xã. Trớc thời đại Hùng Vơng, trên miền đất sau này là Văn
Lang, giữa các khu vực đă có sự trao đổi kinh tế và giao lu văn hóa. Khi nớc
Văn Lang ra đời, việc trao đổi kinh tế giữa các khu vực vẫn tiếp tục và ngay
càng chặt chẽ.
Nh vậy là cho đến nay kinh tế thời Hùng Vơng vẫn còn là vấn đề cần đợc
nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã đã nhận thức đợc về cơ bản bộ
mặt kinh tế thời kỳ này chuyển biến qua các giai đoạn từ thấp đến cao. Đó là
nền kinh tế mà nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Các ngành thủ công nghiệp
ngày một phát triển nhng vẫn gắn liền với nông nghiệp trừ ngành luyện kim.
Kỹ thuật luyện đồng đã đạt đến đỉnh cao và bắt đầu phát triển nghề luyện sắt.
trên quan hệ dòng máu, một bên không. Trong giai đoạn tan rã của chế độ
công xã nguyên thủy hình thành xã hội có giai cấp, các nhóm thị tộc hỗn hợp
với nhau, do đó quan hệ dòng máu ngày một trở nên không quan trọng. Không
phải chỉ có sự phát triển của sức sản xuất là nguyên nhân làm cho hình thức xã
hội dựa trên quan hệ dòng máu lâm vào suy yếu, sự phát triển của quân sự và
chính trị càng có tác dụng phá hoại mạnh hơn. Giữa các bộ lạc khác nhau th-
ờng diễn ra những cuộc chiến tranh, cớp bóc. Do hậu quả của chiến tranh, một
số thị tộc bộ lạc này rơi vào địa vị phụ thuộc một số thị tộc bộ lạc khác. Lúc
này quan hệ dòng máu sẽ phải nhờng chỗ cho quan hệ lãnh thổ. Tuy nhiên
Đặng Mỹ Trang - BT22
10
Khóa luận tốt nghiệp
không phải vì thế mà hình thức công xã gia đình đã bị xóa sạch. Sự tồn tại của
những công xã gia đình không làm trở ngại đến sự phát triển của xã hội nông
nghiệp. Tất nhiên trong lúc xã hội đã biến chuyển biến thì những công xã này
cũng phải có những thay đổi nhất định. Nh vậy vào thời Hùng Vơng cả hai
loại công xã đồng thời cùng tồn tại nhng công xã láng giềng dần dần chiếm u
thế. Mọi thành viên trong công xã đều có nghĩa vụ lao động thực hiện các
công trình chung và có nghĩa vụ quân sự. Giữa các công xã không phải là
không có tranh chấp. Khi chiến tranh xảy ra hay khi có giặc đến xâm lợc, mọi
thành viên đều phải tham gia chiến đấu hoặc hậu cần. Mỗi công xã đều có
lãnh thổ của mình. Trong lãnh thổ có ruộng nơng đã khai phá, có đất hoang,
có rừng rú, sông ngòi, ao hồ Tất cả đều là vật sở hữu chung; các thành viên
của công xã có bổn phận chống lại sự xâm phạm của ngời ngoài, đồng thời
chống lại sự sở hữu riêng trong nội bộ.
Bộ tộc Xã hội lúc này đang trên con đờng hình thành bộ tộc. Sự hình
thành bộ tộc cũng có tiền đề của sự hình thành công xã láng giềng. Trớc thời
Hùng Vơng, chế độ bộ lạc ngự trị khắp nơi. Nhng bớc vào thời Hùng Vơng
đời sống kinh tế của bộ lạc dần dần đợc mở rộng. Hầu hết các bộ lạc làm nông
nghiệp ruộng nớc ở lu vực sông Hồng và sông Mã do trao đổi, chiến tranh, nợ
đẳng trong kinh tế, xã hội. Tầng lớp thống trị đã vợt lên trên xã hội nhng cha
tách hẳn khỏi nhân dân và mức độ bóc lột không gay gắt. Tầng lớp nô tỳ bóc
lột nặng nề hơn và chỉ là tầng lớp thứ yếu trong xã hội. Đó là bức tranh khái
quát về cơ cấu xã hội cuối thời Hùng Vơng đợc phác họa trên t liệu và sự hiểu
biết hiện nay.
1.2 Khái quát về nền văn hóa Phùng Nguyên
1.2.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu
Văn hóa Phùng Nguyên là một văn hóa khảo cổ mang tên thôn Phùng
Nguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Có thể lấy năm 1959,
năm phát hiện di chỉ Phùng Nguyên và đầu năm 1971, năm tổ chức hội nghị
nghiên cứu thời Hùng Vơng lần thứ IV là mốc mở đầu và kết thúc lịch sử
nghiên cứu nền văn hóa này. Công cuộc nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên đã
đạt đợc những thành tựu xuất sắc. T liệu phát hiện và nghiên cứu về văn hóa
Phùng Nguyên đã dày hàng ngàn trang. Vị trí ý nghĩa và khoa học của văn
hóa Phùng Nguyên là rất lớn đối với lịch sử Việt Nam nói chung và khảo cổ
học Việt Nam nói riêng.
Phần lớn những di chỉ quan trọng đã đợc khai quật, nghiên cứu trong giai
đoạn này. Các nhà khảo cổ của nhiều cơ quan Viện khảo cổ học, Khoa Sử các
trờng đại học Tổng hợp, S phạm Hà Nội, S phạm Việt Bắc, Viện Bảo tàng Lịch
Sử phối hợp với các Ty Văn Hóa các tỉnh thực hiện những đợt điều tra cơ bản,
trớc hết tập trung trên vùng đất tổ Phong Châu và những vùng phụ cận thuộc
tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Gần 30 địa điểm đợc phát hiện, trong đó đã có 25 di
tích thuộc các tính này. Có 15 địa điểm đợc khai quật với những quy mô khác
nhau, từ gần một trăm mét vuông đến vài nghìn mét vuông.
Mùa xuân năm 1959, công trình thủy nông Lâm - Hạc khi đào qua thôn
Đặng Mỹ Trang - BT22
12
Khóa luận tốt nghiệp
Phùng Nguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao đã làm lộ ra nhiều di vật là
những công cụ bằng đá và đất nung Các cán bộ chuyên môn đã tới hiện tr-
không xa nó, có những đặc trng văn hóa tơng tự. Có thể kể tên những di tích
chính nh sau: Gò Mả Muộn, An Đạo, Xóm Rền, Xóm Kiếu, Đồng Sấu, Lê
Tính thuộc địa phận huyện Phong Châu, Gò Bông, Ô Rô, Thọ Sơn, Gò Chè
thuộc huyện Tam Thanh, Đôn Nhân thuộc huyện Lập Thạch; Nghĩa Lập, Lũng
Đặng Mỹ Trang - BT22
13
Khóa luận tốt nghiệp
Hòa thuộc huyện Vĩnh Tờng; Đồng Đậu thuộc huyện Vĩnh Lạc.
Di chỉ Gò Bông thuộc địa phận xã Thợng Nông, huyện Tam Thanh. Di chỉ
đợc khoa Sử trờng Đại Học Tổng Hợp tiến hành mở 2 hố thám sát, mỗi hố
khai quật với diện tích 70m2 vào năm 1965. Di vật đá, gốm, đồng thu đợc khá
phong phú, đa dạng và độc đáo. Tháng 2 năm 1967, Đại học Tổng Hợp Hà
Nội lại trở lại khai quật di chỉ Gò Bông lần thứ hai. Lần này họ đã mở một hố
khai quật rộng 100m2. Phụ trách khai quật là Hà Văn Tấn. Nh vậy diện tích
thám sát và khai quật tại di chỉ Gò Bông là 178m2. Tài liệu thu đơc từ hai
cuộc khai quật rất phong phú với trên 500 di vật đá các loại, trên 4 vạn mảnh
gốm và một số cục đồng, gỉ đồng. Tầng văn hóa Gò Bông dày hơn hẳn Phùng
Nguyên (chỗ dày nhất lên tới 1,6m). Di chỉ Gò Bông quan trọng ở chỗ nó là
di tích tiêu biểu cho giai đoạn phát triển sớm nhất trong hệ thống các giai
đoạn phát triển văn hóa Phùng Nguyên với những dấu vết chế tác kim loại đầu
tiên.
Di chỉ Xóm Rền là một trong số không nhiều di chỉ thuộc văn hóa Phùng
Nguyên có tầng văn hóa dày tới 2m2. Di chỉ Xóm Rền tọa lạc gần nh trọn
toàn bộ một quả đòi thầp, đợc gọi là Xóm Rền, thuộc địa phận xã Gia Thanh,
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Di chỉ này đợc bộ môn Khảo Cổ Học, trờng
Đại Học Tổng Hợp Hà Nội phát hiện vào năm 1968 và khai quật đợt 1 vào
năm 1969. Các cuộc khai quật do Hà Văn Tấn chủ trì. Có hai hố khai quật, hố
thứ nhất có diện tích 100m2,hố thứ hai: 51m2. Di vật phát hiện từ hai hố khai
quật gồm có 270 hiện vật đá, 16 đồ gốm nguyên và 39364 mảnh gốm lớn nhỏ.
Tầng văn hóa thuần nhất, khá dày, trên dới 2m. Ngoài đồ đá, đồ gốm còn phát
vật đợc phát hiện gồm: 322 hiện vật đá, 41.231 mảnh gốm lớn nhỏ và 71 đồ
gốm nguyên hoặc phục nguyên đợc.
Tháng 12 năm 2004 Bộ môn khảo cổ học kết hợp với Bảo tàng Phú Thọ
tiến hành khai quật di chỉ Xóm Rền lần thứ V. Họ đã khai quật đợc 5 hố nhỏ:
Hai hố ở phía Bắc Xóm Rền, mỗi hố có diện tích 12m2; ba hố ở phía nam
Xóm Rền, trong đó một hố rộng 12m2, hai hố còn lại, mỗi hố 8m2. Nh vậy
tổng diện tích khai quật lần này là 52m2. Tầng văn hóa và di vật ở đây giống
các đợt khai quật trớc: một tầng văn hóa thuần nhất, đồ đá và đồ gốm rất
phong phú, đa dạng. Trong lần khai quật lần này cũng phát hiện đợc một số di
vật đáng chú ý: vật dạng ấm nắp liền và vòi cực ngắn, thố có áo trắng ở trong
lòng, vòng chữ T bản rộng và hẹp với gờ rộng bản. Các di vật có số lợng khá
lớn, bao gồm 284 đồ đá, 41928 mảnh gốm vỡ và 103 gốm nguyên hoặc gần
nguyên.
Nh vậy di chỉ Xóm Rền đã thám sát và khai quật đợc 5 lần với diện tích
415,5m2. Số lợng di vật thu đợc qua 5 mùa điền dã gồm 2378 hiện vật
đá,447144 mảnh gốm lớn nhỏ, 528 đồ gốm nguyên hoặc phục nguyên, trong
đó có một số loại di vật độc đáo nh bát bồng và thố, vòng gốm hình trống và
con dấu bằng gốm, thố có lớp áotrắng ở phía trong lòng, gốm có quai dọc và
gốm có tai ngang, gốm có trang trí khắc vạch in chấm kết hợp xoa bột trắng
và gốm nhuộm màu đen bóng láng. Ngoài ra còn phải kể đến 3 nha chơng
Đặng Mỹ Trang - BT22
15
Khóa luận tốt nghiệp
phát hiện ngẫu nhiên trong khi đào ao vào các năm 1975,1976 và 2004. Chúng
ta có thể khẳng định rằng Xóm Rền là một di tích khảo cổ học đặc biệt quan
trọng, đáng xếp ở vị trí số một trong 70 di tích thuộc Văn hóa Phùng Nguyên.
Di chỉ Khu Đờng. Di chỉ Khu Đờng thuộc xã Vĩnh Lại(Lâm Thao), phát
hiện và thám sát vào tháng 12-1962. Trờng Đại học Tổng Hợp Hà Nội tổ chức
khai quật Khu Đờng lần thứ nhất năm 1971. Ngời chủ trì khai quật là Hán
Văn Khẩn. Cho đến nay, toàn bộ kết quả vẫn cha đợc công bố. Toàn bộ hiện
Khóa luận tốt nghiệp
thời kỳ đồng thau phát triển là Gò Tro Trên và Gò Tro Dới. Ba quả gò có dấu
tích văn hóa này chỉ nằm cách nhau khoảng trên dới 100m.
Di chỉ nhiều tầng văn hóa Đồng Đậu thuộc xã Minh Tân, huyện Yên
Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đợc coi là địa điểm khảo cổ học quan trọng nhất trong
việc xác lập phổ hệ 4 giai đoạn phát triển văn hóa thời đại kim khí trên lu vực
sông Hồng. Lớp văn hóa dới cùng của di chỉ có niên đại cuối Phùng Nguyên,
bắt đầu chuyển sang văn hóa Đồng Đậu. Di chỉ đợc cán bộ Đội khảo cổ học
phát hiện năm 1962. Sau đó Đội khảo cổ tiến hành khai quật vào cuối năm
1965 đầu năm 1966 và Viện Khảo Cổ Học khai quật vào đầu năm 1969.
Xen giữa 2 đợt khai quật trên, Viện Bảo tàng Lịch Sử đào một hố khai
quật nhỏ vào năm 1967. Tổng diện tích khai quật là 550m2. Di tích và di vật
phát hiện đợc trong các hố khai quật khá phong phú. Trong lớp văn hóa Phùng
Nguyên(dày trên dới 1 m) tìm thấy rất nhiều đồ đá, đồ gốm, đồ xơng Không
gặp di vật bằng đồng trong lớp này, chỉ có lớp đất bên trên mới có rất ít vết
tích gỉ đồng, cục đồng nhỏ. Vì tầm quan trọng của địa điểm khảo cổ học này,
các nhà nghiên cứu còn trở lại đây khai quật 2 đợt nữa vào năm 1984(117m2)
và 1986.
Ngay trong giai đoạn 10 năm đầu của chơng trình nghiên cứu năm hóa
Phùng Nguyên,các nhà nghiên cứu đã mở rộng mối quan tâm đến những vùng
xa trung tâm đất Phong Châu xa.Di chỉ Văn Điển (ngoại thành Hà Nội)đợc
phát hiện năm 1962,khai quật 2 lần vào năm 1962 và 1964 với tổng diện tích
là 928m2.Toàn bộ khu vực rộng chừng 170000m2 nằm gọn trong khu nghĩa
trang Văn Điển,nên phần lớn di chỉ đã bị phá hoại hoàn toàn.Di chỉ Văn Điển
có một lớp văn hóa thống nhất,dày chừng 0,3m đến 1,2m.Hiện vật thu đợc ở
đây cũng nh đa số các di chỉ Phùng Nguyên khác chỉ gồm đồ đá và đồ
gốm.Có gần 100 di vật đá và vài vạn mảnh gốm.
Di chỉ Tràng Kênh(xã Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) là địa
điểm đợc coi là thuộc văn hóa Phùng Nguyên, hoặc ít ra là cũng có mối quan
hệ chặt chẽ với văn hóa Phùng Nguyên, nằm cách xa nhất về phía đông địa
Đối với văn hóa Phùng Nguyên, hơn 4 thập kỷ qua là những thập kỷ của
phát hiện, tích lũy t liệu và nghiên cứu toàn diện. Hơn 50 di chỉ Phùng
Nguyên đã đợc phát hiện, bản đồ phân bố văn hóa này càng đây đủ.Đã có
hàng trăm bài viết dới dạng công bố t liệu điều tra khai quật,chuyên khảo,
luận bàn về mọi vần đề xung quanh nền văn hóa sơ kỳ kim khi nổi tiếng này.
1.2.2 Những đặc trng nổi bật của văn hóa Phùng Nguyên
1.2.2.1 Loại hình di tích
Các địa điểm văn hóa Phùng Nguyên phân bố tập trung ở khu vực hợp lu
của các con sông lớn nh sông Hồng, sông Đà, sông Thao và sông Đáy tức
vùng Nam Phú Thọ, Đông Bắc Hà Tây, Hà Nội, Nam Bắc Ninh.
Phần lớn các di tích nằm ở miền trớc núi, dới chân đồi núi đất, ven sông
suối ở vùng trung du. Nhiều địa điểm trên các khu đất cao châu thổ, ven biển.
Loại hình: Trên 50 địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên tập trung phần
lớn ở tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc(34 địa điểm), Hà Nội, Hà Tây(14 địa điểm),
Đặng Mỹ Trang - BT22
18
Khóa luận tốt nghiệp
Bắc Ninh (6 địa điểm). Nhìn chung địa bàn phân bố các di chỉ văn hóa Phùng
Nguyên khá rộng lớn, bao gồm cả vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ.
Văn hóa Phùng Nguyên tồn tại và phát triển trong thời gian cách ngày
nay trên dới 4000 năm. Những dấu tích còn lại hầu hết là các làng định c, các
di chỉ c trú ngoài trời. Diện tích các làng định c này nhìn chung khoảng 1 vạn
mét vuông. Cá biệt có những làng có diện tích khá lớn tới 2 đến 3 vạn mét
vuông (Văn Điển, Phùng Nguyên, Gò Bông)
Ngời Phùng Nguyên thờng c trú trên các đồi gò đất nổi cao hơn mặt
ruộng xung quanh từ 0,5m đến 2-3 m, cá biệt có trờng hợp cao đến 5-6m nh di
chỉ Gò Bông, Gò Chè(Tam Thanh,Phú Thọ). Lớp đất văn hóa có độ kết chặt
tùy thuộc vào tính chất thổ nhỡng của từng vùng, nhng nhìn chung cứng rắn
có xen lẫn các hạt latêlit lết vón. Đất có màu xám đen và chứa đựng thuần
nhất các di vật khảo cổ học nh đồ đá,đồ gốm,ít xơng răng và tro than. Tích tụ
thấy đợc 1 địa điểm thuộc loại hình này. Đó là địa điểm Lũng Hòa. Tại Lũng
Hòa đã phát hiện đợc cả một khu mộ tập trung. Trong diênh tích hố khai quật
không lớn lắm đã tìm thấy 12 ngôi mộ có những đặc điểm tơng tự nhau, chứng
tỏ chúng cùng thuộc 1 thời đại, một chủ nhân. Khu mộ địa cũng phân bố trong
phạm vi c trú, đất lấp mộ cha nhiều di vật giống nh các di vật tìm thấy trong
tầng văn hóa và đồ tùy táng đợc chôn theo ngời chết.
Địa tầng:Có 5 loại hình di tích theo diễn biến địa tầng:
- Loại có một tầng văn hóa thuộc văn hóa Phùng Nguyên.
- Loại có địa tầng phát triển liên tục từ cuối Phùng Nguyên sang Đồng Đậu
- Loại di chỉ- xởng phát triển từ cuối Phùng Nguyên sang Đồng Đậu.
- Loại di chỉ xan lẫn mộ táng.
- Loại mộ táng tách riêng khỏi di chỉ c trú.
1.2.2.2 Niên đại
Có nhiều ý kiến khác nhau về niên đại của văn hóa Phùng Nguyên. Có
thể tóm lợc các ý kiến đó thành 2 loại sau:
1.Loại ý kiến thứ nhất cho rằng văn hóa Phùng Nguyên bắt đầu từ hậu kỳ
đá mới và bớc sang sơ kỳ đồng thau.
2. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, căn cứ vào việc phân tích tổng thể các dấu
tích văn hóa vật chất của các địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên thì văn hóa
này không còn ở hậu kỳ đá mới nữa mà đã ở vào sơ kỳ thời đại đồng thau.
Đa số các nhà nghiên cứu đều theo quan điểm thứ hai. Nh vậy văn hóa
Phùng Nguyên có niên đại mở đầu từ cuối thiên niên kỷ thứ III trớc công
nguyên-đầu thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên và kết thúc vào khoảng nửa
đầu thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên.
1.2.2.3 Các giai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên
* Dựa trên việc phân tích loại hình hoa văn gốm của các nhóm di tích, cứ
liệu địa tầng Hà Văn Tấn và Hán Văn Khẩn đã xác lập 3 giai đoạn phát triển
của văn hóa Phùng Nguyên.
- Giai đoạn sớm, có thể gọi là giai đoạn trớc cổ điển, lấy Gò Bông, Gò
Hện làm tiêu biểu. Di chỉ Đồng Chỗ ở vào thời điểm kết thúc của giai đoạn
Bông, đầu Phùng Nguyên, 3800+60 năm cách ngày nay.
* Mới đây, đã có một số niên đại A M S của hai địa điểm Xóm Rền và Gò
Hội, kết quả cụ thể nh sau:
- Mẫu Gò Hội 4, than lấy ở đáy hố của địa điểm thuộc giai đọa sau của
văn hóa Phùng Nguyên cho kết qủa 359050BP hay niên đại hiệu chỉnh 1930
trớc công nguyên.
- Mẫu Gò Hội 8, than lấy ở đáy hố cho kết quả 337080BP
- Mẫu Xóm Rền 1,than lấy ở đáy lớp hai cho kết quả 345060.
- Mẫu Xóm Rền 2, than lấy ở gần mộ 2 cho kết quả 377060BP.
Đặng Mỹ Trang - BT22
21
Khóa luận tốt nghiệp
- Mẫu Xóm Rền 3, than lấy ở đáy lớp 2 cho kết quả 336040BP.
* Nguyễn Linh sắp xếp các di chỉ Phùng Nguyên vào hai bớc trong giai
đoạn hình thành nhà nớc Văn Lang. Bớc thứ nhất, tác giả lấy di chỉ An Đạo là
điển hình, di chỉ Phùng Nguyên là mốc cuối cùng. Theo tác giả lúc này ngời
Phùng Nguyên cha biết kỹ thuật đúc đồng. Các di tích Lũng Hòa, Gò Bông,
Nghĩa Lập đợc chọn làm các di tích tiêu biểu cho bớc hai. Lúc này c dân Văn
Lang chuyển sang thời đại đồng thau.
* Theo Nguyễn Duy Tỳ, văn hóa Phùng Nguyên có hai giai đoạn phát
triển sớm và muộn: giai đoạn Phùng Nguyên 1 và giai đoạn Phùng Nguyên 2.
Phùng Nguyên 1 có các địa điểm Phùng Nguyên, Lê Tính, Gò Mả Muộn, Gò
Chè, Hơng Nộn (Gò Chùa), Núi Xây, Yên Tàng, Đinh Xá, Văn Điển, An Th-
ợng, Phú Diễn.
Theo tác giả, giai đoạn 1 có đặc điểm sau:
- Công cụ đá nhỏ, không dài quá 5 cm.
- Vòng trang sức có đờng kính bé, mỏng, tiết diện cắt ngang thờng chỉ có
hình vuông, chữ nhật hoặc hình tam giác.
- Mũi tên, mũi lao và qua cha xuất hiện.
- Đồ gốm thờng có đáy tròn, độ nung thấp và mỏng, hoa văn chủ yếu là
loại hình. Nhóm 1 hay loại hình Gò Bông bao gồm các địa điểm Ô Rô, Thọ
Sơn, Phùng Nguyên, Gò Bông, An Đạo,An Thái, Xóm Rền, Thành Rền, Đôn
Nhân, Nghĩa Lập Nhóm 2 hay loại hình Chùa Gio gồm các địa điểm Chùa
Gio, Khu Đờng, Đồng Đậu lớp dới, Lũng Hòa, Văn Điển, Đinh Xá, Núi Xây
Tác giả nêu lên 2 khả năng về mối quan hệ giữa 2 nhóm này: Đó là 2 loại hình
tiêu biểu cho hai giai đoạn phát triển khác nhau. Và cuối cùng tác giả cho
rằng: về cả 2 khả năng nói trên đến nay chúng ta vẫn cha đủ căn c khoa học để
lựa chọn.
* Theo Diệp Đình Hoa, thời kỳ Hùng Vơng phát triển qua 6 giai đoạn:
Phùng Nguyên, Gò Bông, Đồng Đậu, Gò Mun, Đờng Cồ, Đông Sơn. Nh vậy ở
đây các di tích của văn hóa Phùng Nguyên đợc xếp vào 2 giai đoạn sớm, muộn
khác nhau: giai đoạn sớm -Phùng Nguyên, giai đoạn muộn-Gò Bông.
Việc phân chia giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên của các nhà nghiên cứu
khác nhau không chỉ do quan niệm khác nhau, cơ sở phân chia khác nhau, tài
liệu ít mà còn là vì chúng ta cha đủ điều kiện sử dụng các phơng pháp khoa
học tự nhiên nên cha có đợc một hệ thống niên đại tuyệt đối đủ tin cậy để sắp
xếp các di tích theo trật tự từ sớm đến muộn.
Tuy nhiên khi phân chia các giai đoạn phát triển của văn hóa Phùng
Nguyên, các nhà nghiên cứu đứng trớc một vấn đề khá phức tạp là phải lựa
chọn cơ sở t liệu nào để phân chia giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên: đồ đá
hay đồ gốm, các vết tích đồng, nền kinh tế nông nghiệp hay các nghề thủ
công? Chọn một hay tất cả các loại di tích di vật của văn hóa Phùng Nguyên?
Điều này thực sự khó khăn vì mỗi loại di tích di vật đều có u điểm và hạn chế của
nó. Chính vì vậy nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào tài liệu gốm để phân chia các
giai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên. Căn cứ vào các tài liệu hiện có,
văn hóa Phùng Nguyên sẽ đợc chia làm 3 giai đoạn phát triển sau:
Đặng Mỹ Trang - BT22
23
Khóa luận tốt nghiệp
- Giai đoạn Gò Bông
hoa văn thừng này có thể đợc làm nh sau: Trớc hết in dấu thừng lên phôi gốm,
sau đó dùng que vạch các họa tiết tùy ý; cuồi cùng ngời ta xóa bỏ dấu thừng ở
phía ngoài họa tiết khắc vạch. Việc mài miết, xóa bỏ dấu thừng này lại tạo cho
mặt gốm nhẵn bóng sau khi nung. Đây là lối tạo hoa văn rất độc đáo ở giai
Đặng Mỹ Trang - BT22
24
Khóa luận tốt nghiệp
đoạn Gò Bông, rất ít gặp ở các giai đoạn khác.
Nét đặc sắc thứ hai là sự phổ biến các loại hoa văn khắc vạch trên nền
văn thừng hay văn chải. Đờng nét khắc vạch rất phóng khoáng nên hoa văn và
đồ gốm thêm phần phong phú. Bằng cách khắc vạch- in lăn rất công phu và tỷ
mỷ, ngời Gò Bông đã tạo ra đợc nhiều họa tiết hoa văn, nhiều đồ án hoa văn
phức tạp.
Vẻ đẹp của loại hoa văn này có đợc một phần là do kỹ thuật đánh bóng
láng tạo ra. Đánh bóng là lối trang trí phổ biến và độc đáo của gốm Gò Bông.
Các đờng, mảng đánh bóng chạy giữa các họa tiết hoa văn khắc vạch- in lăn
hay khắc vạch có độ bóng láng rất cao.
Việc sử dụng các họa tiết đệm để điểm lấp các khoảng trống giữa các họa
tiết hoa văn cũng là nết rất riêng trong trang trí gốm Gò Bông. Có nhiều kiểu
loại họa tiết đệm khác nhau: hình tròn, hình tam giác, hình tim, hình bán
nguyệtQuy mô kích thớc của họa tiết đệm rất khác nhau, tùy thuộc vào độ
dài rộng của khoảng trống giữa các họa tiết hoa văn .
Mặt khác, ở đồ gốm Gò Bông bên cạnh các loại hoa văn rất đẹp còn có
một số loại hoa văn rất thô, mộc mạc nh hoa văn khắc vạch trên nền văn
thừng, hoa văn khắc vạch trổ lỗ to thô.
Nh vậy so với các giai đoạn khác đồ gốm Gò Bông có những khác biệt rõ
rệt về chất liệu, loại hình, hoa văn và nghệ thuật trang trí hoa văn.
Ngoài ra đồ đá giai đoạn Gò Bông cũng có những khác biệt nhất định so
với giai đoạn Phùng Nguyên. Ngời Gò Bông ít dùng đá nephelite màu đỏ mận
chín hơn ngời Phùng Nguyên. Ngời Gò Bông phần nhiều dùng đá nephelite