Tìm hiểu những hiện vật thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương - Pdf 90

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Từ hàng ngàn đời nay, có ba dòng sông miệt mài chảy để rồi hội tụ vào
sông Hồng ở ngã ba Hạc (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Sự hội
tụ đó đã đem đến cho miền hạ lưu trước núi nguồn phù sa vô tận và màu mỡ.
Nơi đó núi không cao, có đồi gò san sát như bát úp, có sông suối lạch ngòi, có
đồng ruộng phì nhiêu, khí hậu ôn hòa, cảnh vật nên thơ. Miền đất cổ thiên
thời, địa lợi như thế nên từ buổi hoang so hàng vạn năm về trước đã có con
người đến ngụ cư, sinh sống. Dấu tích của họ còn để lại trên các đồi gò và
thềm sông cổ.
Bước vào thời đại văn minh, khi con người biết đến kim loại, miền đất
ấy vẫn là nơi cuốn hút các nhóm cư dân thời văn minh tụ hội. Trong đó nổi
trội và đông đảo nhất là cư dân văn hóa Phùng Nguyên. Đó chính là những
người đã làm nên một nền văn hóa mở đầu cho lịch sử văn minh thời các Vua
Hùng – văn hóa Phùng Nguyên.
Ngày nay, trên mảnh đất ấy còn lại rất nhiều dấu tích ghi dấu thời các
Vua Hùng. Trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là địa điểm có ý nghĩa lịch
sử quan trọng nhất. Việc lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa đó đã và
đang được nhiều cấp, ngành trên quê hương Đất Tổ thực hiện. Bảo tàng Hùng
Vương được ra đời trong khu Di tích lịch sử Đền Hùng cũng không nằm
ngoài mục đích đó.
Với nội dung văn hóa Phùng Nguyên được giới thiệu tại bảo tàng Hùng
Vương, sẽ giúp cho thế hệ sau nhận biết được tổ tiên chúng ta thời Hùng
Vương. Đó là chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên – những người đã lao động và
sáng tạo không ngừng để đạt được những thành tựu trên mọi lĩnh vực, xây
dựng nên mọi cơ sở vật chất và tinh thần cho xã hội thời Hùng Vương.
Là một người con thuộc thế hệ con cháu Vua Hùng, em thấy rằng việc
Đặng Mỹ Trang - BT22
1
Khóa luận tốt nghiệp
tìm hiểu lịch sử, tìm hiểu những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông là điều vô

TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG.....................................62
2.1. Khái quát về nội dung trưng bày của bảo tàng Hùng Vương............62
2.2. Hiện vật văn hóa Phùng Nguyên trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương…..64
2.2.1. Khái quát phần trưng bày văn hóa Phùng Nguyên.................................64
2.2.2. Những hiện vật tiêu biểu của văn hóa Phùng Nguyên được trưng bày.65
Đặng Mỹ Trang - BT22
3
Khóa luận tốt nghiệp
2.2.2.1. Đồ đá…………………………………………………………….......65
2.2.2.2. Đồ gốm………………………………………………………….......68
2.2.3. Nhận xét về hệ thống trưng bày..............................................................70
2.2.4. Ý nghĩa của việc trưng bày......................................................................71
CHƯƠNG 3 : GIÁ TRỊ NHỮNG HIỆN VẬT VĂN HÓA PHÙNG
NGUYÊN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG...................73
3.1. Những giá trị cơ bản...............................................................................73
3.1.1. Giá trị lịch sử............................................................................................73
3.1.2. Giá trị nghệ thuật.....................................................................................75
3.1.3. Giá trị văn hóa..........................................................................................77
3.2. Mối quan hệ giữa văn hóa Phùng Nguyên và các nền văn hóa khác
thông qua các hiện vật trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương....................79
3.3. Văn hóa Phùng Nguyên - tiền đề cơ bản cho sự phát triển của các giai
đoạn văn hóa tiếp theo..................................................................................83
KẾT LUẬN.......................................................................................................88
Đặng Mỹ Trang - BT22
4
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG
VÀ NỀN VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN
1.1 Khái quát về thời đại Hùng Vương

nửa đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên) như ở Gò Chùa(Hương Nộn),
An Đạo, Đôn Nhân, Gò Chè, đều tập trung trên các gò đồi thuộc tỉnh Phú Thọ
cũ. Khi bước sang hẳn thời đại đồng thau, các di tích thuộc giai đoạn này lại
lấn xuống phía nam: những di tích muộn hơn trước có niên đại khoảng nửa
đầu thiên niên kỷ thứ II như Lũng Hòa,Đồng Đậu… chủ yếu đều phân bố ở
những tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh cũ. Tới giai đoạn phát triển đồng
thau-khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, khối cư dân nòng
cốt của Văn Lang vẫn còn chủ yếu sinh tụ trong phạm vi cương vực hẹp của
nước Văn Lang bao gồm vùng bắc và một phần vùng trung tâm và nam của
đồng bằng Bắc Bộ theo sự phân vùng địa lý. Về thời gian này, sử sách xưa
nhất còn lại đã ghi nhận sự hưng khởi của bộ lạc Văn Lang với các vua Hùng.
Như vậy là cho đến giữa thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, về căn bản
toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ đã được khai thác. Chỉ còn một vùng chúng ta
chưa được hiểu rõ lắm đó là vùng đất ven biển kể từ dưới chỗ sông Hồng đổ
ra biển vào tới miền Bắc đồng bằng Thanh Hóa thuộc tỉnh Ninh Bình. Trong
bốn vùng đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ được khai thác trước tiên cùng với một
bộ phận phía bắc của vùng trung tâm và vùng phía nam, kế đó là những dải
đất hẹp thuộc những thềm sông Hồng, sông Đáy, và cuối cùng là phần còn lại
của cả đồng bằng. Đó là quá trình lập cư ở đồng bằng Bắc Bộ trong đoạn đầu
tiên mà khảo cổ học cho biết. Đất nước trù phú, điêù kiện nhiên thuận lợi cho
sinh hoạt của con người, thêm vào đó trình độ phát triển văn minh cao của
dân cư cũng có thể làm cho chúng ta phán đoán được rằng cư dân Văn Lang
hẳn phải là đông đúc lắm. Tuy nhiên tài liệu ghi chép lại không thỏa mãn
được nguyện vọng muốn hiểu biết về vấn đề này. Tình hình phân bố dân cư
Đặng Mỹ Trang - BT22
6
Khóa luận tốt nghiệp
trong nội nước Văn Lang cũng không đều nhau. Vùng đồng bằng Bắc Bộ
đông đúc hơn cả, đồng bằng sông Mă thưa nhất là vùng núi và vùng Nghệ –
Tĩnh. Dân số đông đúc cũng là một chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của

là dùng lửa đốt cây cỏ rồi mới xới đất lên để tra hạt giống như đồng bào miền
ngược ngày nay làm nương rẫy. Công cụ dùng trong nông nghiệp thời đó chủ
yếu là rìu đá và rìu đồng. Cư dân Văn Lang đã dùng những công cụ này để
cuốc đất.Ngoài ra họ còn sáng chế ra nhiều đồ đun nấu bằng gốm và bằng
đồng. Điều đó chứng tỏ rằng sản xuất nông nghiệp thời kỳ này đã phát triển.
Nhưng bên cạnh nghề trồng lúa, nghề trồng rau củ và cây ăn quả đã xuất hiện.
Nhiều sách Trung Quốc đã chép về nhiều loại rau củ và cây ăn quả ở Việt
Nam trong thời Bắc thuộc. Như vậy là những cây trồng đó không phải đến
thời kỳ Bắc thuộc mới bắt đầu được thuần hóa mà chúng đã được trồng từ
trước trong thời kỳ Hùng Vương. Bên cạnh nghề trồng lúa, cư dân văn Lang
còn chăn nuôi gia xúc, gia cầm. Trâu bò, lợn, chó, ngựa, gà, vịt đã được thuần
dưỡng từ trước thời Hùng Vương. Đến thời Hùng Vương do nông nghiệp phát
triển, các gia súc, gia cầm lại có rất nhiều. Thời kỳ thứ nhất của thời đại Hùng
Vương, tức là thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, nghề đánh cá đã xuất hiện, nhất
là ở các vùng ven sông, ven hồ. Sang thời kỳ thứ hai của thời đại Hùng
Vương nghề đánh cá càng phát triển. Sang giai đoạn cuối của văn hóa Đông
Sơn, người thời Hùng Vương đã biết đóng thuyền lớn. Do đó chúng ta có thể
nói rằng nghề đánh cá đã rất phát triển. Người thời Hùng Vương không những
đã có điều kiện dùng lưới đánh cá theo quy mô lớn trên sông mà còn có thể
đánh cá trên mặt biển nữa. Kinh tế thời Hùng Vương là một nền kinh tế có
tính chất tổng hợp, lấy nông nghiệp làm gốc. Thực chất nông nghiệp thời kỳ
này là nông nghiệp trồng lúa nước. Điều đó nói lên rằng, ngay từ buổi đầu
dựng nước đầu tiên, ông cha chúng ta đã chú ý đến vấn đề nông nghiệp, đến
cây lúa. Kinh tế nông nghiệp đã trở thành một truyền thống của dân tộc ta.
Chính truyền thống ấy đã ảnh hưởng và chi phối mọi hình thái ý thức và ngay
cả tâm tư, tình cảm của dân tộc ta.
Đặng Mỹ Trang - BT22
8
Khóa luận tốt nghiệp
Bên cạnh nông nghiệp, các ngành thủ công nghiệp cũng càng ngày càng

gốm đã rất đẹp và phần lớn làm bằng bàn xoay. Điều đáng chú ý là đồ gốm
thời Hùng Vương càng về sau càng ít trang trí hoa văn. Con người tập trung
vào trang trí đồ đồng thau. Con người sản xuất đồ gốm nhanh hơn, mất ít
công lao động hơn. Kỹ thuật làm đò gốm qua các thời kỳ có khác nhau nhưng
hình dạng gốm, cách tạo hình cũng như trang trí giữa các giai đoạn lại có
nhiều điểm giống nhau. Điều này nói lên sự thống nhất về văn hóa, tâm lý của
cộng đồng nhưng đồng thời cũng nói lên sự xác lập một truyền thống kỹ thuật
ổn định. Một ngành thủ công quan trọng khác có tác dụng lớn về kinh tế cũng
như xã hội của thời kỳ Hùng Vương là luyện kim. Nghề luyện kim đã xuất
hiện từ giai đoạn sớm nhất của thời kỳ Hùng Vương, giai đoạn Phùng
Nguyên. Hiện nay đã tìm thấy dấu vết của đồng ở một số di chỉ thuộc văn hóa
Phùng Nguyên như Gò Bông, Xóm Dền, Đồng Xấu, Đồng Vông… Đó là
những cục đồng vụn, xỉ đồng hay gỉ đồng. Kỹ thuật luyện đồng đã phát triển
rực rỡ ở giai đoạn Đông Sơn thì nghề làm đồ sắt cũng bắt đầu xuất hiện.
Trước đây nhiều người còn cho rằng kỹ thuật làm đồ sắt do người phương
Bắc đưa vào Việt Nam trong thời Bắc thuôc. Những phát hiện mới trong mấy
năm gần đây đã bác bỏ nhận định đó. Người ta đã tìm thấy nhiều công cụ sắt
trong các di chỉ thuộc giai đoạn Đông Sơn ở miền Bắc.
Căn cứ vào các phát hiện của khảo cổ học, chúng ta có thể tìm hiểu được
người Hùng Vương đã tổ chức như thế nào để tiến hành công việc sản xuất.
Tất cả những điều mà chúng ta có thể biết được về sản xuất đồ gốm thời
Hùng Vương là việc sản xuất không rải ra ở tát cả các miền của nước Văn
Lang; chỉ có ở một số vùng có điều kiện thuận lợi về nguyên vật liệu, về
đường giao thông để có thể tiến hành sản xuất đồ gốm được; nhưng cho đến
cuối thời đại Hùng Vương vẫn không thấy xuất hiện những công xưởng
chuyên sản xuất đồ gốm. Công việc sản xuất đồ gốm vẫn là công việc của
từng công xã. Người thợ gốm nói chung vẫn sống trong công xã, đời sống của
họ vẫn lệ thuộc vào sản xuất nông nghiệp của công xã. Trước thời đại Hùng
Đặng Mỹ Trang - BT22
10

11
Khóa luận tốt nghiệp
sắc bén tiện lợi nên có nhiều khả năng đẩy mạnh nghề trồng trọt. Vai trò của
người đàn ông vì thế mà được nâng lên. Mặt khác việc trao đổi thịnh hành lúc
bấy giờ càng làm cho người đàn ông phải đảm đương những công việc lao
động mà người đàn bà trước kia vẫn làm. Việc cướp bóc và chống cướp bóc
cũng là một lý do nữa nâng vai trò và địa vị của người đàn ông. Khi đã giành
địa vị trong sản xuất, người đàn ông cũng giành lấy địa vị trong gia đình và
trong xã hội.
Công xã không chỉ là đơn vị xã hội mà còn là tổ chức đời sống của xã
hội. Công xã giai đình phân biệt với công xã láng giềng ở chỗ một bên dựa
trên quan hệ dòng máu, một bên không. Trong giai đoạn tan rã của chế độ
công xã nguyên thủy hình thành xã hội có giai cấp, các nhóm thị tộc hỗn hợp
với nhau, do đó quan hệ dòng máu ngày một trở nên không quan trọng.
Không phải chỉ có sự phát triển của sức sản xuất là nguyên nhân làm cho hình
thức xã hội dựa trên quan hệ dòng máu lâm vào suy yếu, sự phát triển của
quân sự và chính trị càng có tác dụng phá hoại mạnh hơn. Giữa các bộ lạc
khác nhau thường diễn ra những cuộc chiến tranh, cướp bóc. Do hậu quả của
chiến tranh, một số thị tộc bộ lạc này rơi vào địa vị phụ thuộc một số thị tộc
bộ lạc khác. Lúc này quan hệ dòng máu sẽ phải nhường chỗ cho quan hệ lãnh
thổ. Tuy nhiên không phải vì thế mà hình thức công xã gia đình đã bị xóa
sạch. Sự tồn tại của những công xã gia đình không làm trở ngại đến sự phát
triển của xã hội nông nghiệp. Tất nhiên trong lúc xã hội đã biến chuyển biến
thì những công xã này cũng phải có những thay đổi nhất định. Như vậy vào
thời Hùng Vương cả hai loại công xã đồng thời cùng tồn tại nhưng công xã
láng giềng dần dần chiếm ưu thế. Mọi thành viên trong công xã đều có nghĩa
vụ lao động thực hiện các công trình chung và có nghĩa vụ quân sự. Giữa các
công xã không phải là không có tranh chấp. Khi chiến tranh xảy ra hay khi có
giặc đến xâm lược, mọi thành viên đều phải tham gia chiến đấu hoặc hậu cần.
Mỗi công xã đều có lãnh thổ của mình. Trong lãnh thổ có ruộng nương đã

vì lợi ích công cộng thành hình thức bóc lột người sản xuất. Trong xã hội đã
Đặng Mỹ Trang - BT22
13
Khóa luận tốt nghiệp
có sự phân hóa sâu sắc thành những tầng lớp người khác nhau. Trong xã hội
lúc bấy giờ có dân và người quý tộc. Về dân đã có người tự do và người nô lệ.
Về quý tộc đã có thể phân biệt quý tộc trung ương với quý tộc địa phương.
Trải qua một quá trình phân hóa xã hội, xã hội Văn Lang cuối thời Hùng
Vương không còn là xã hội nguyên thủy với sự thống trị của quan hệ huyết
thống và sự bình đẳng về mọi mặt của những thành viên khối cộng đồng nữa.
Giàu nghèo, sang hèn, bất bình đẳng xã hội, áp bức bốc lột đã xuất hiện. Tầng
lớp dân tự do là thành viên công xã nông thôn tuy bị bóc lột nhưng vẫn bảo
tồn được nhiều quan hệ bình đẳng trong kinh tế, xã hội. Tầng lớp thống trị đã
vượt lên trên xã hội nhưng chưa tách hẳn khỏi nhân dân và mức độ bóc lột
không gay gắt. Tầng lớp nô tỳ bóc lột nặng nề hơn và chỉ là tầng lớp thứ yếu
trong xã hội. Đó là bức tranh khái quát về cơ cấu xã hội cuối thời Hùng
Vương được phác họa trên tư liệu và sự hiểu biết hiện nay.
1.2 Khái quát về nền văn hóa Phùng Nguyên
1.2.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu
Văn hóa Phùng Nguyên là một văn hóa khảo cổ mang tên thôn Phùng
Nguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Có thể lấy năm 1959,
năm phát hiện di chỉ Phùng Nguyên và đầu năm 1971, năm tổ chức hội nghị
nghiên cứu thời Hùng Vương lần thứ IV là mốc mở đầu và kết thúc lịch sử
nghiên cứu nền văn hóa này. Công cuộc nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên
đã đạt được những thành tựu xuất sắc. Tư liệu phát hiện và nghiên cứu về văn
hóa Phùng Nguyên đã dày hàng ngàn trang. Vị trí ý nghĩa và khoa học của
văn hóa Phùng Nguyên là rất lớn đối với lịch sử Việt Nam nói chung và khảo
cổ học Việt Nam nói riêng.
Phần lớn những di chỉ quan trọng đã được khai quật, nghiên cứu trong
giai đoạn này. Các nhà khảo cổ của nhiều cơ quan Viện khảo cổ học, Khoa Sử

Di chỉ Phùng Nguyên được bộ môn khảo cổ hoc trường Đại học Tổng
Hợp Hà Nội tiến hành khai quật lần thứ ba từ ngày 23/2 đến 13/3 năm 1968.
Các cuộc khai quật do Hà Văn Tấn phụ trách. Diện tích khai quật mỗi hố là
Đặng Mỹ Trang - BT22
15
Khóa luận tốt nghiệp
100m2. Di vật thu được gồm 69 hiện vật đá , 19 hiện vật gốm và trên 5000
mảnh gốm. Như vậy từ năm 1959 đến 1968, các nhà khảo cổ học đã khai quật
trên diện tích rộng ở Phùng Nguyên trên diện tích 3.917m2 khai quật và 41m2
thám sát. Số lượng di vật phát hiện được trong 3 lần khai quật này là hết sức
đồ sộ và quý giá, gồm gần 2000 di vật đá, trên 130 di vật gốm và trên 100.000
mảnh gốm lớn nhỏ. Tầng văn hóa ở đây nói chung là đơn giản, chỉ có một lớp
tương đối mỏng (dày 0,1-0,3m2). Đây là nguồn tư liệu có giá trị nhiều mặt
giúp cho quá trình điều tra, thám sát và khai quật hàng loạt các di tích Phùng
Nguyên khác.Ngay sau khi phát hiện và có những đợt khai quật ở di chỉ
Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã lần lượt tìm thấy hàng loạt các địa điểm
khác cách không xa nó, có những đặc trưng văn hóa tương tự. Có thể kể tên
những di tích chính như sau: Gò Mả Muộn, An Đạo, Xóm Rền, Xóm Kiếu,
Đồng Sấu, Lê Tính thuộc địa phận huyện Phong Châu, Gò Bông, Ô Rô, Thọ
Sơn, Gò Chè thuộc huyện Tam Thanh, Đôn Nhân thuộc huyện Lập Thạch;
Nghĩa Lập, Lũng Hòa thuộc huyện Vĩnh Tường; Đồng Đậu thuộc huyện Vĩnh
Lạc.
Di chỉ Gò Bông thuộc địa phận xã Thượng Nông, huyện Tam Thanh. Di
chỉ được khoa Sử trường Đại Học Tổng Hợp tiến hành mở 2 hố thám sát, mỗi
hố khai quật với diện tích 70m2 vào năm 1965. Di vật đá, gốm, đồng thu
được khá phong phú, đa dạng và độc đáo. Tháng 2 năm 1967, Đại học Tổng
Hợp Hà Nội lại trở lại khai quật di chỉ Gò Bông lần thứ hai. Lần này họ đã
mở một hố khai quật rộng 100m2. Phụ trách khai quật là Hà Văn Tấn. Như
vậy diện tích thám sát và khai quật tại di chỉ Gò Bông là 178m2. Tài liệu thu
đươc từ hai cuộc khai quật rất phong phú với trên 500 di vật đá các loại, trên

nhiều, bao gồm 268 hiện vật đá, 64.537 mảnh gốm vỡ và 263 đồ gốm nguyên
hoặc phục nguyên được. Đặc biệt lần này các nhà khảo phát hiện được một số
loại di vật có giá trị như gốm xốp, gốm trang trí khắc vạch, in chấm, bột
trắng, bình gồm quai dọc ở miệng, con dấu bằng đất nung, vòng hình trống,
tượng rùa bằng đá. Đặc biệt là sự có mặt một số lượng rất lớn các loại hình
Đặng Mỹ Trang - BT22
17
Khóa luận tốt nghiệp
bát, bát bồng và thố ở di chỉ Xóm Rền.
Tháng 12-2003, Bộ môn Khảo Cổ Học, Khoa Lịch Sử lại trở lại Xóm
Rền khai quật lần thứ tư. Đợt khai quật này do Hán Văn Khẩn chủ trì. Một hố
khai quật với diện tích 20m2 đã được mở ở sườn phía Bắc gò Xóm Rền.
Ngoài hố khai quật này còn có hai hố thám sát được mở: hố thứ nhất có diện
tích 5m2, hố thứ hai có diện tích 7.5m2. Hai hố thám sát này nằm ở phía Nam
của gò Xóm Rền. Tổng diện tích thám sát và khai quật là 32.5m2. Tầng văn
hóa của hố khai quật cũng tương tựu như đã thấy trong 3 đợt khai quật trước,
cả về kết cấu, màu sắc, độ dày và các loại di tích di vật nằm trong tầng văn
hóa. Các loại di vật được phát hiện gồm: 322 hiện vật đá, 41.231 mảnh gốm
lớn nhỏ và 71 đồ gốm nguyên hoặc phục nguyên được.
Tháng 12 năm 2004 Bộ môn khảo cổ học kết hợp với Bảo tàng Phú Thọ
tiến hành khai quật di chỉ Xóm Rền lần thứ V. Họ đã khai quật được 5 hố
nhỏ: Hai hố ở phía Bắc Xóm Rền, mỗi hố có diện tích 12m2; ba hố ở phía
nam Xóm Rền, trong đó một hố rộng 12m2, hai hố còn lại, mỗi hố 8m2. Như
vậy tổng diện tích khai quật lần này là 52m2. Tầng văn hóa và di vật ở đây
giống các đợt khai quật trước: một tầng văn hóa thuần nhất, đồ đá và đồ gốm
rất phong phú, đa dạng. Trong lần khai quật lần này cũng phát hiện được một
số di vật đáng chú ý: vật dạng ấm nắp liền và vòi cực ngắn, thố có áo trắng ở
trong lòng, vòng chữ T bản rộng và hẹp với gờ rộng bản. Các di vật có số
lượng khá lớn, bao gồm 284 đồ đá, 41928 mảnh gốm vỡ và 103 gốm nguyên
hoặc gần nguyên.

tháng 12-2000, Khoa Lịch Sử trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã
trở lại khu di chỉ Khu Đường khai quật lần thứ hai. Hai hố khai quật đã được
mở, hố thứ nhất có quy mô 100m2 và hố thứ hai 48m2.
Kết cấu, màu sắc, độ dày tầng văn hóa của hai hố khai quật giống nhau,
dày trung bình từ 30-40cm. Di vật thu được trong lần khai quật này gồm có
349 hiện vật đá, 10 dọi xe chỉ, 4 bi gốm, 1 vòng gốm, 336 chạc gốm, 15032
mảnh gốm vỡ. Đáng chú ý là trong lần này các nhà khảo cổ học đã phát hiện
Đặng Mỹ Trang - BT22
19
Khóa luận tốt nghiệp
được cuốc đá và vòng gốm có hoa văn. Ngoài ra, những người khai quật còn
sưu tầm được 1 cuốc đá và một qua đá. Như vậy có thể thấy Khu Đường là
một di chỉ Phùng Nguyên rất quan trọng.
Di chỉ Đồng Sấu thuộc xã Thụy Vân huyện Phong Châu phân bố trên quả
gò rộng khoảng 120000 m2, được giáo viên và học sinh trường cấp 2 xã phát
hiện năm 1961, đến cuối năm 1966, đội khảo cổ tiến hành cuộc khai quật diện
tích 200m2. Tầng văn hóa di chỉ này dày từ 0,3 đến 0,8 m. Điều đáng chú ý là
ở đây ngoài 200 di vật đá và rất nhiều mảnh gốm vỡ , còn gặp những mảnh
đồng vụn trong lớp đát văn hóa. Đồng Sấu nằm rất gần trên 2 địa điểm thuộc
thời kỳ đồng thau phát triển là Gò Tro Trên và Gò Tro Dưới. Ba quả gò có
dấu tích văn hóa này chỉ nằm cách nhau khoảng trên dưới 100m.
Di chỉ nhiều tầng văn hóa Đồng Đậu thuộc xã Minh Tân, huyện Yên Lạc,
tỉnh Vĩnh Phúc được coi là địa điểm khảo cổ học quan trọng nhất trong việc
xác lập phổ hệ 4 giai đoạn phát triển văn hóa thời đại kim khí trên lưu vực
sông Hồng. Lớp văn hóa dưới cùng của di chỉ có niên đại cuối Phùng
Nguyên, bắt đầu chuyển sang văn hóa Đồng Đậu. Di chỉ được cán bộ Đội
khảo cổ học phát hiện năm 1962. Sau đó Đội khảo cổ tiến hành khai quật vào
cuối năm 1965 đầu năm 1966 và Viện Khảo Cổ Học khai quật vào đầu năm
1969.
Xen giữa 2 đợt khai quật trên, Viện Bảo tàng Lịch Sử đào một hố khai

Kết quả thu được trong những năm đầu nghiên cứu văn hóa Phùng
Nguyên thật lớn lao. Các nhà khảo cổ học đã có trong tay khối tư liệu rất
phong phú, đa dạng về loại hình văn hóa đủ cơ sở để khẳng định đó là một
nền văn hóa sơ kỳ đống thau- văn hóa Phùng Nguyên.
Trong những năm 70 trên vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc còn có một số phát
hiện như di chỉ Đồi Giàm, Thổ Tang, Đồi Dung. Tầng văn hóa dày 0,14m đến
1m. Trong một hố khai quật 60m2 đã phát hiện được nhiều đồ đá và đồ gốm
mang đặc trưng của văn hóa Phùng Nguyên. Đồ gốm có nhiều đồ án hoa văn
và loại hình cho phép đoán định di chỉ ở vào giai đoạn Phùng Nguyên cổ
Đặng Mỹ Trang - BT22
21
Khóa luận tốt nghiệp
điển. Nghiên cứu di chỉ này sẽ làm rõ thêm một khâu trong các bước phát
triển của văn hóa Phùng Nguyên. Trong những năm này, công tác điền dã
khảo cổ học trên đất Bắc Ninh được đánh dấu bằng những phát hiện các di
tích thời Hùng Vương nói chung, trong đó phải kể đến hệ thống di tích sơ kỳ
thời đại kim khí bên dòng sông Tiêu Tương thuộc xã Tương Giang, Võ
Cường, Vân Phương(huyện Tiên Sơn).
Như vậy trong những năm 70 trở lại đây, công việc điền dã trong nghiên
cứu văn hóa Phùng Nguyên đã thu được những kết quả khả quan. Song song
với công tác điền dã, khai quật, các nhà khảo cổ còn đẩy mạnh nghiên cứu sâu
hơn các vấn đề chung, cơ bản xung quanh văn hóa Phùng Nguyên.
Đối với văn hóa Phùng Nguyên, hơn 4 thập kỷ qua là những thập kỷ của
phát hiện, tích lũy tư liệu và nghiên cứu toàn diện. Hơn 50 di chỉ Phùng
Nguyên đã được phát hiện, bản đồ phân bố văn hóa này càng đây đủ.Đã có
hàng trăm bài viết dưới dạng công bố tư liệu điều tra khai quật,chuyên khảo,
luận bàn về mọi vần đề xung quanh nền văn hóa sơ kỳ kim khi nổi tiếng này.
1.2.2 Những đặc trưng nổi bật của văn hóa Phùng Nguyên
1.2.2.1 Loại hình di tích
Các địa điểm văn hóa Phùng Nguyên phân bố tập trung ở khu vực hợp

1. Di chỉ cư trú
2. Di chỉ-xưởng
3. Di chỉ cư trú-mộ táng
Phần lớn các di tích cư trú Phùng Nguyên đã được phát hiện và nghiên
cứu thuộc loại hình di chỉ cư trú, thường gặp loại di chỉ có 1 tầng văn hóa
Phùng Nguyên thuần nhất, có thể chỉ thuộc 1 giai đoạn phát triển nhất định
như thuộc giai đoạn sớm hoặc giai đoạn giữa-giai đoạn Phùng Nguyên cổ
điển. Cũng như những di chỉ cư trú tầng văn hóa phát triển qua 2 giai đoạn
sớm và giữa. Đáng chú ý là hệ thống các di chỉ cư trú thuộc giai đoạn muộn-giai
đoạn Phùng Nguyên sau cổ điển. Đa số các di chỉ này tập trung ở các vùng đồng
bằng cao, mà không phải phân bố ở vùng trung du là chính như 2 giai đoạn
trước. Trong các di chỉ này yếu tố văn hóa Đồng Đậu đã xuất hiện rõ nét.
Đặng Mỹ Trang - BT22
23
Khóa luận tốt nghiệp
Các di chỉ xưởng nằm ở giai đoạn cuối văn hóa Phùng Nguyên bước
sang văn hóa Đồng Đậu. Cho đến nay mới tìm thấy 3 di chỉ xưởng với tính
chất công xưởng rõ ràng. ĐIều đặc biệt là tính chuyên môn hóa của chúng khá
cao: Di chỉ xưởng Gò Chè chế tác công cụ đá là chính-xưởng Bãi Tự chế tác
mũi khoan, di chỉ xưởng Tràng Kênh chế tác vòng trang sức là chủ yếu.
Di chỉ cư trú mộ táng, nếu không kể địa điểm Xóm Rền với phát hiện
dấu tích 2 ngôi mộ lẻ loi nằm ngay trong di chỉ cư trú, đến nay chúng ta mới
tìm thấy được 1 địa điểm thuộc loại hình này. Đó là địa điểm Lũng Hòa. Tại
Lũng Hòa đã phát hiện được cả một khu mộ tập trung. Trong diênh tích hố
khai quật không lớn lắm đã tìm thấy 12 ngôi mộ có những đặc điểm tương tự
nhau, chứng tỏ chúng cùng thuộc 1 thời đại, một chủ nhân. Khu mộ địa cũng
phân bố trong phạm vi cư trú, đất lấp mộ chưa nhiều di vật giống như các di
vật tìm thấy trong tầng văn hóa và đồ tùy táng được chôn theo người chết.
Địa tầng:Có 5 loại hình di tích theo diễn biến địa tầng:
- Loại có một tầng văn hóa thuộc văn hóa Phùng Nguyên.

Đồng Đậu, các di tích nhóm Tiêu Tương ở Bắc Ninh, Tiên Hội và Xuân Kiều
ở Hà Nội làm tiêu biểu.
Tuy vậy cũng có ý kiến khác (chủ yếu dựa vào sự xuất hiện của dấu vết
kim loại đồng) mà chia thành 2 giai đoạn phát triển.
- Giai đoạn Phùng Nguyên sớm, chưa tìm được đồ đồng hay hiện vật kim khí
nào khác, thuộc thời đại đồng thau, vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên.
- Giai đoạn Gò Bông muộn, thuộc sơ kỳ thời đại đông thau, vào cuối
thiên niên kỷ thứ III-đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên. Đã có hợp
kim đồng thiếc.
* Trong cuốn chuyên khảo về văn hóa Phùng Nguyên, Hoàng Xuân
Chinh cũng thiên về ý kiến Phùng Nguyên sớm hơn Gò Bông.
Niên đại tuyệt đối: Từ một vài địa điểm của văn hóa Phùng Nguyên đã
có một số niên đại C14:
- 01 niên đại C14 của di chỉ Đồng Đậu (lớp dưới) ở độ sâu 4m cho tuổi
3328 ± 100 năm cách ngày nay (tính từ năm 1950). Đây được coi là niên đại
giai đoạn kết thúc của văn hóa Phùng Nguyên, tương đương giai đoạn đầu của
Đặng Mỹ Trang - BT22
25

Trích đoạn Các giaiđoạn phát triển Đặc trưng về hiện vật Khái quát về nội dung trưng bày của bảo tàng Hùng Vương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status