Tìm hiểu những hiện vật thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Từ hàng ngàn đời nay, có ba dòng sông miệt mài chảy để rồi hội tụ vào
sông Hồng ở ngã ba Hạc (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Sự hội
tụ đó đã đem đến cho miền hạ lu trớc núi nguồn phù sa vô tận và màu mỡ. Nơi
đó núi không cao, có đồi gò san sát nh bát úp, có sông suối lạch ngòi, có đồng
ruộng phì nhiêu, khí hậu ôn hòa, cảnh vật nên thơ. Miền đất cổ thiên thời, địa
lợi nh thế nên từ buổi hoang so hàng vạn năm về trớc đã có con ngời đến ngụ c,
sinh sống. Dấu tích của họ còn để lại trên các đồi gò và thềm sông cổ.
Bớc vào thời đại văn minh, khi con ngời biết đến kim loại, miền đất ấy
vẫn là nơi cuốn hút các nhóm c dân thời văn minh tụ hội. Trong đó nổi trội và
đông đảo nhất là c dân văn hóa Phùng Nguyên. Đó chính là những ngời đã làm
nên một nền văn hóa mở đầu cho lịch sử văn minh thời các Vua Hùng văn
hóa Phùng Nguyên.
Ngày nay, trên mảnh đất ấy còn lại rất nhiều dấu tích ghi dấu thời các
Vua Hùng. Trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là địa điểm có ý nghĩa lịch
sử quan trọng nhất. Việc lu giữ và phát huy những giá trị văn hóa đó đã và đang
đợc nhiều cấp, ngành trên quê hơng Đất Tổ thực hiện. Bảo tàng Hùng Vơng đợc
ra đời trong khu Di tích lịch sử Đền Hùng cũng không nằm ngoài mục đích đó.
Với nội dung văn hóa Phùng Nguyên đợc giới thiệu tại bảo tàng Hùng V-
ơng, sẽ giúp cho thế hệ sau nhận biết đợc tổ tiên chúng ta thời Hùng Vơng. Đó
là chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên những ngời đã lao động và sáng tạo
không ngừng để đạt đợc những thành tựu trên mọi lĩnh vực, xây dựng nên mọi
cơ sở vật chất và tinh thần cho xã hội thời Hùng Vơng.
Là một ngời con thuộc thế hệ con cháu Vua Hùng, em thấy rằng việc tìm
hiểu lịch sử, tìm hiểu những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông là điều vô cùng
cần thiết. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài : Tìm hiểu những hiện vật thuộc giai
đoạn văn hóa Phùng Nguyên trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng để tìm hiểu về
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
văn hóa Phùng Nguyên - nền văn hóa khởi đầu thời kỳ Hùng Vơng dựng nớc.

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2.2.2. Những hiện vật tiêu biểu của văn hóa Phùng Nguyên đợc trng bày.........65
2.2.2.1. Đồ đá................................65
2.2.2.2. Đồ gốm................................68
2.2.3. Nhận xét về hệ thống trng bày..................................................................70
2.2.4. ý nghĩa của việc trng bày.........................................................................71
Chơng 3 : Giá trị những hiện vật văn hóa Phùng
Nguyên trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng.........................73
3.1. Những giá trị cơ bản................................................................................73
3.1.1. Giá trị lịch sử.............................................................................................73
3.1.2. Giá trị nghệ thuật......................................................................................75
3.1.3. Giá trị văn hóa...........................................................................................77
3.2. Mối quan hệ giữa văn hóa Phùng Nguyên và các nền văn hóa khác
thông qua các hiện vật trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng...........................79
3.3. Văn hóa Phùng Nguyên - tiền đề cơ bản cho sự phát triển của các giai
đoạn văn hóa tiếp theo...................................................................................83
Kết luận.......................................................................................................88
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1
Khái quát về thời đại Hùng Vơng
và nền văn hóa Phùng Nguyên
1.1 Khái quát về thời đại Hùng Vơng
1.1.1 Niên đại là một vấn đề mấu chốt nhất trong khi nghiên cứu thời kỳ
lịch sử Hùng Vơng. Có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Nhng chúng
ta có thể nói thời Hùng Vơng đợc tính từ khi manh nha nhà nớc Văn Lang đến
khi nớc Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lợc khoảng 200 năm.
1.1.2 Cơng vực nớc ta thời Hùng Vơng khá rộng lớn. Phía bắc vơn lên đến
những miền giáp ranh giới các vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam(Trung
Quốc), về phía nam tới đèo Hải Vân, về phía Tây bao gồm có cả vùng Tây Bắc

gian này, sử sách xa nhất còn lại đã ghi nhận sự hng khởi của bộ lạc Văn Lang
với các vua Hùng. Nh vậy là cho đến giữa thiên niên kỷ thứ I trớc công nguyên,
về căn bản toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ đã đợc khai thác. Chỉ còn một vùng
chúng ta cha đợc hiểu rõ lắm đó là vùng đất ven biển kể từ dới chỗ sông Hồng
đổ ra biển vào tới miền Bắc đồng bằng Thanh Hóa thuộc tỉnh Ninh Bình. Trong
bốn vùng đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ đợc khai thác trớc tiên cùng với một bộ
phận phía bắc của vùng trung tâm và vùng phía nam, kế đó là những dải đất hẹp
thuộc những thềm sông Hồng, sông Đáy, và cuối cùng là phần còn lại của cả
đồng bằng. Đó là quá trình lập c ở đồng bằng Bắc Bộ trong đoạn đầu tiên mà
khảo cổ học cho biết. Đất nớc trù phú, điêù kiện nhiên thuận lợi cho sinh hoạt
của con ngời, thêm vào đó trình độ phát triển văn minh cao của dân c cũng có
thể làm cho chúng ta phán đoán đợc rằng c dân Văn Lang hẳn phải là đông đúc
lắm. Tuy nhiên tài liệu ghi chép lại không thỏa mãn đợc nguyện vọng muốn
hiểu biết về vấn đề này. Tình hình phân bố dân c trong nội nớc Văn Lang cũng
không đều nhau. Vùng đồng bằng Bắc Bộ đông đúc hơn cả, đồng bằng sông Mă
tha nhất là vùng núi và vùng Nghệ Tĩnh. Dân số đông đúc cũng là một chỉ
tiêu phản ánh trình độ phát triển của nớc Văn Lang. Hầu nh mọi nguồn tài liệu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thông báo về tình hình c dân Văn Lang đều thống nhất ở một chỗ: ngay từ thuở
dựng nớc, đất nớc ta đã là nơi có nhiều dân tộc anh em sinh sống, cùng chung
sức xây dựng và bảo vệ đất nớc.
1.1.4 Về kinh tế xã hội Văn Lang là xă hội có một nền kinh tế đã phát triển
đến một trình độ nhất định. Kinh tế nớc Văn Lang là một quá trình phát triển liên
tục. Chúng ta có thể chia quá trình đó làm hai thời kỳ lớn: thời kỳ thứ nhất tơng
ứng với thới kỳ văn hóa Phùng Nguyên; thời kỳ thứ hai là thời kỳ cực thịnh của
thời đại Hùng Vơng tơng ứng với thời kỳ văn hóa Đông Sơn.
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo thời Hùng Vơng. Vào giai đoạn sớm
nhất thời kỳ này nghề trồng lúa đã tồn tại. Những xóm làng định c thuộc giai
đoạn Phùng Nguyên, mà dấu vết là những di chỉ có tầng văn hóa khá dày đã

thứ hai của thời đại Hùng Vơng nghề đánh cá càng phát triển. Sang giai đoạn
cuối của văn hóa Đông Sơn, ngời thời Hùng Vơng đã biết đóng thuyền lớn. Do
đó chúng ta có thể nói rằng nghề đánh cá đã rất phát triển. Ngời thời Hùng V-
ơng không những đã có điều kiện dùng lới đánh cá theo quy mô lớn trên sông
mà còn có thể đánh cá trên mặt biển nữa. Kinh tế thời Hùng Vơng là một nền
kinh tế có tính chất tổng hợp, lấy nông nghiệp làm gốc. Thực chất nông nghiệp
thời kỳ này là nông nghiệp trồng lúa nớc. Điều đó nói lên rằng, ngay từ buổi
đầu dựng nớc đầu tiên, ông cha chúng ta đã chú ý đến vấn đề nông nghiệp, đến
cây lúa. Kinh tế nông nghiệp đã trở thành một truyền thống của dân tộc ta.
Chính truyền thống ấy đã ảnh hởng và chi phối mọi hình thái ý thức và ngay cả
tâm t, tình cảm của dân tộc ta.
Bên cạnh nông nghiệp, các ngành thủ công nghiệp cũng càng ngày càng
phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong đời sống của con ngời thời
Hùng Vơng. Nghề làm đồ đá thời Hùng Vơng đã kéo dài đến 2000 năm. Ngay ở
giai đoạn Phùng Nguyên kỹ thuật làm đá đã đạt đến trình độ hoàn thiện. Con
ngời đã biết ca mài khoan thành thạo. Khoan có nhiều kiểu. Những mũi khoan
dùng để khoan lỗ các hạt chuỗi. Ngời ta dùng phơng pháp khoan tách lõi để
khoan các vòng trang sức. Phơng pháp khoan tạo ra các rãnh tròn rất gần gũi với
phơng pháp tiện. Những đờng gờ đều đặn và những đờng ren trên các vòng đá
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nói lên rằng phơng pháp tiện đã xuất hiện. Do vai trò của kim loại ngày một
lớn, địa vị của đá lùi dần mà công cụ bằng đá ngày một ít. Số lợng vòng đá cũng
không còn nhiều qua các giai đoạn. Trong giai đoạn muộn số lợng đồ trang sức
bằng đá quý tăng lên. Những ngời thợ làm thủ công thành những ngời làm đồ
mỹ nghệ. Trong suốt thời đại Hùng Vơng nghề làm đồ gỗ không ngừng phát
triển. Các công cụ bằng kim loại ra đời tạo điều kiện cho nghề làm đồ gỗ phát
triển. Ngời thợ mộc thời đại Hùng Vơng đã dùng gỗ đóng các thuyền lớn để đi
sông, đi biển. Nhiều khi họ còn hạ cả một cây gỗ rất to để làm áo quan nh ở
Việt Khê. Nghề xe sợi dệt vải đã có từ thời kỳ Phùng Nguyên. Căn cứ vào dấu

ngời Hùng Vơng đã tổ chức nh thế nào để tiến hành công việc sản xuất. Tất cả
những điều mà chúng ta có thể biết đợc về sản xuất đồ gốm thời Hùng Vơng là
việc sản xuất không rải ra ở tát cả các miền của nớc Văn Lang; chỉ có ở một số
vùng có điều kiện thuận lợi về nguyên vật liệu, về đờng giao thông để có thể
tiến hành sản xuất đồ gốm đợc; nhng cho đến cuối thời đại Hùng Vơng vẫn
không thấy xuất hiện những công xởng chuyên sản xuất đồ gốm. Công việc sản
xuất đồ gốm vẫn là công việc của từng công xã. Ngời thợ gốm nói chung vẫn
sống trong công xã, đời sống của họ vẫn lệ thuộc vào sản xuất nông nghiệp của
công xã. Trớc thời đại Hùng Vơng, trên miền đất sau này là Văn Lang, giữa các
khu vực đă có sự trao đổi kinh tế và giao lu văn hóa. Khi nớc Văn Lang ra đời,
việc trao đổi kinh tế giữa các khu vực vẫn tiếp tục và ngay càng chặt chẽ.
Nh vậy là cho đến nay kinh tế thời Hùng Vơng vẫn còn là vấn đề cần đợc
nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã đã nhận thức đợc về cơ bản bộ
mặt kinh tế thời kỳ này chuyển biến qua các giai đoạn từ thấp đến cao. Đó là
nền kinh tế mà nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Các ngành thủ công nghiệp
ngày một phát triển nhng vẫn gắn liền với nông nghiệp trừ ngành luyện kim. Kỹ
thuật luyện đồng đã đạt đến đỉnh cao và bắt đầu phát triển nghề luyện sắt. Trao
đổi bị hạn chế do cuộc phân công lao động không đợc thực hiện ngay từ đầu.
1.1.5 Về xã hội. Trình độ phát triển kinh tế nói lên trình độ phát triển về
chính trị của một xă hội. Đến nay chúng ta có hai loại quan điểm khác nhau về
xã hội thời Hùng Vơng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng xã hội thời Hùng Vơng vẫn nằm trong
phạm trù xã hội nguyên thủy, vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên
thủy và có thể đang bớc đến ngỡng cửa hình thành Nhà nớc
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng xã hội thời Hùng Vơng trải qua nhiều biến
đổi sâu sắc, cuối cùng đã chuyển sang xã hội có giai cấp.
Có nhiều ý kiến tranh luận nh vậy vì cơ sở t liệu để nghiên cứu về vấn đề
này còn quá ít. Do đó với vấn đề này chúng ta phải nghiên cứu trên cơ sở tài

cùng tồn tại nhng công xã láng giềng dần dần chiếm u thế. Mọi thành viên
trong công xã đều có nghĩa vụ lao động thực hiện các công trình chung và có
nghĩa vụ quân sự. Giữa các công xã không phải là không có tranh chấp. Khi
chiến tranh xảy ra hay khi có giặc đến xâm lợc, mọi thành viên đều phải tham
gia chiến đấu hoặc hậu cần. Mỗi công xã đều có lãnh thổ của mình. Trong lãnh
thổ có ruộng nơng đã khai phá, có đất hoang, có rừng rú, sông ngòi, ao hồ Tất
cả đều là vật sở hữu chung; các thành viên của công xã có bổn phận chống lại
sự xâm phạm của ngời ngoài, đồng thời chống lại sự sở hữu riêng trong nội bộ.
Bộ tộc Xã hội lúc này đang trên con đờng hình thành bộ tộc. Sự hình thành
bộ tộc cũng có tiền đề của sự hình thành công xã láng giềng. Trớc thời Hùng V-
ơng, chế độ bộ lạc ngự trị khắp nơi. Nhng bớc vào thời Hùng Vơng đời sống
kinh tế của bộ lạc dần dần đợc mở rộng. Hầu hết các bộ lạc làm nông nghiệp
ruộng nớc ở lu vực sông Hồng và sông Mã do trao đổi, chiến tranh, nợ nần, cớp
bóc, dần dần trở nên có liên quan đến nhau. Các dòng ngời di chuyển và tham
gia vào đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa ở những nơi mà họ mới đến. Lúc
này quan hệ lân cận và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trở nên quan trọng. Cùng
với quá trình đó bộ tộc Lạc Việt cũng đợc hình thành. Nh vậy vào thời Hùng V-
ơng dân tộc chúng ta không còn là những cộng đồng nhỏ yếu, phân tán, những
bộ lạc phân tán rời rạc, mà nó đã cố kết thành một bộ tộc đông đảo, có tính
cách ổn định, sớm có xu hớng hình thành một dân tộc.
Tiền đề vật chất có ý nghĩa quyết định cho sự phân hóa xã hội và hình
thành giai cấp là sức sản xuất phát triển đến mức độ cao tạo ra sản phẩm thừa
của xã hội. Nhân dân ta thời dựng nớc sinh tụ trên địa bàn rất phong phú về tài
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nguyên, phì nhiêu về đất đai. Vì vậy trong thời đại đồng thau với kỹ thuật sản
xuất ngày một nâng cao và bằng sức lao động sáng tạo nhân dân ta có nhiều khả
năng sớm tạo ra những sản phẩm thừa. Cuối thời Hùng Vơng, sản phẩm thừa
càng tăng lên. Sự phát triển kinh tế cùng với sự phân công lao động và sự trao
đổi những sản phẩm thừa đã tạo ra những điều kiện cần thiết để đẩy mạnh sự

đoạn này. Các nhà khảo cổ của nhiều cơ quan Viện khảo cổ học, Khoa Sử các
trờng đại học Tổng hợp, S phạm Hà Nội, S phạm Việt Bắc, Viện Bảo tàng Lịch
Sử phối hợp với các Ty Văn Hóa các tỉnh thực hiện những đợt điều tra cơ bản,
trớc hết tập trung trên vùng đất tổ Phong Châu và những vùng phụ cận thuộc
tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Gần 30 địa điểm đợc phát hiện, trong đó đã có 25 di
tích thuộc các tính này. Có 15 địa điểm đợc khai quật với những quy mô khác
nhau, từ gần một trăm mét vuông đến vài nghìn mét vuông.
Mùa xuân năm 1959, công trình thủy nông Lâm - Hạc khi đào qua thôn
Phùng Nguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao đã làm lộ ra nhiều di vật là những
công cụ bằng đá và đất nung Các cán bộ chuyên môn đã tới hiện trờng xem
xét và nhận định rằng đây là di chỉ c trú ngoài trời của ngời nguyên thủy, lần
đầu tiên đợc phát hiện trên vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ. Cơ quan chịu
trách nhiệm khai quật lúc đó là Đội khai quật thuộc Bộ Văn Hóa, tiền thân của
Viện Khảo Cổ học sau này. Họ đã thực hiện 2 đợt khai quật lớn. Lần khai quật
thứ nhất đợc tiến hành vào năm 1959. Chủ trì khai quật là Nguyễn Ngọc Bích.
Các nhà khảo cổ đã dùng thuổng cán dài khoan 37 lỗ thăm dò, thám sát 2 hố
với diện tích 41m2 và mở 5 hố khai quật ở khu B với diện tích 158m2. Lần khai
quật thứ hai ở di chỉ Phùng Nguyên đợc tiến hành từ tháng 3 đến tháng 6 năm
1961, dới sự chủ trì của Nguyễn Ngọc Bích. Các hố khai quật đợc hoạch định cả
ở khu A và khu B, gồm 22 hố với tổng diện tích là 3700m2. Đây là lần khai
quật có quy mô rộng lớn cha từng có ở Việt Nam đến lúc đó. Các nhà khảo cổ
đã mở ở khu A: 5 hố khai quật, mỗi hố có diện tích 40m2, ở khu B: 17 hố khai
quật, mỗi hố có diện tích 100m2. Diện tích và di vật phát hiện đợc là rất lớn,
gần 1656 hiện vật đá, 97 đồ gốm và trên 100.000 mảnh gốm lớn nhỏ. Sau hai
lần khai quật trên, vào năm 1964, một số cán bộ của Đội Khảo Cổ đã trở lại
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phùng Nguyên và đào hai hố tham sát, mỗi hố là 1m2.
Di chỉ Phùng Nguyên đợc bộ môn khảo cổ hoc trờng Đại học Tổng Hợp
Hà Nội tiến hành khai quật lần thứ ba từ ngày 23/2 đến 13/3 năm 1968. Các

Di chỉ Xóm Rền là một trong số không nhiều di chỉ thuộc văn hóa Phùng
Nguyên có tầng văn hóa dày tới 2m2. Di chỉ Xóm Rền tọa lạc gần nh trọn toàn
bộ một quả đòi thầp, đợc gọi là Xóm Rền, thuộc địa phận xã Gia Thanh, huyện
Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Di chỉ này đợc bộ môn Khảo Cổ Học, trờng Đại Học
Tổng Hợp Hà Nội phát hiện vào năm 1968 và khai quật đợt 1 vào năm 1969.
Các cuộc khai quật do Hà Văn Tấn chủ trì. Có hai hố khai quật, hố thứ nhất có
diện tích 100m2,hố thứ hai: 51m2. Di vật phát hiện từ hai hố khai quật gồm có
270 hiện vật đá, 16 đồ gốm nguyên và 39364 mảnh gốm lớn nhỏ. Tầng văn hóa
thuần nhất, khá dày, trên dới 2m. Ngoài đồ đá, đồ gốm còn phát hiện những
mảnh đồng, một vài vết gỉ đồng.
Đợt khai quật thứ hai đợc bắt đầu từ ngày 1-10-2002 đến ngày 15-11-2002
do Viện Khảo Cổ Học hợp tác với trung tâm Khảo Cổ Học và Nghệ Thuật (Đại
học Trung văn ở Hông Kông) tiến hành. Tổng diện tích thám sát và khai quật
đợt hai tại di chỉ Xóm Rền là 120m2. Tầng văn hóa có đó dày không đều, mỏng
ở phía đỉnh gò, dày trên dới 2m, các nhà khai quật phát hiện đợc rất nhiều di
tích, di vật và 4 ngôi mộ nằm sát sinh thổ. Số lợng di vật thu lợm đợc trong lần
khai quật này rất lớn, bao gồm 1324 hiện vật đá, 260.000 mảnh gốm và 75 đồ
gốm nguyên hoặc gần nguyên.
Đợt khai quật thứ ba vào tháng 12-2002 do Bộ môn Khảo Cổ Học phối hợp
với Bảo tàng Phú Thọ tiến hành. Đợt khai quật này do Hán Văn Khẩn chủ trì.
Một hố khai quật với diện tích 60m2 đợc mở ra với tầng văn hóa thuần nhất dày
trên 2m. Các hiện vật phát hiện đợc trong hố khai quật khá nhiều, bao gồm 268
hiện vật đá, 64.537 mảnh gốm vỡ và 263 đồ gốm nguyên hoặc phục nguyên đ-
ợc. Đặc biệt lần này các nhà khảo phát hiện đợc một số loại di vật có giá trị nh
gốm xốp, gốm trang trí khắc vạch, in chấm, bột trắng, bình gồm quai dọc ở
miệng, con dấu bằng đất nung, vòng hình trống, tợng rùa bằng đá. Đặc biệt là
sự có mặt một số lợng rất lớn các loại hình bát, bát bồng và thố ở di chỉ Xóm
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Rền.

khẳng định rằng Xóm Rền là một di tích khảo cổ học đặc biệt quan trọng, đáng
xếp ở vị trí số một trong 70 di tích thuộc Văn hóa Phùng Nguyên.
Di chỉ Khu Đờng. Di chỉ Khu Đờng thuộc xã Vĩnh Lại(Lâm Thao), phát
hiện và thám sát vào tháng 12-1962. Trờng Đại học Tổng Hợp Hà Nội tổ chức
khai quật Khu Đờng lần thứ nhất năm 1971. Ngời chủ trì khai quật là Hán Văn
Khẩn. Cho đến nay, toàn bộ kết quả vẫn cha đợc công bố. Toàn bộ hiện vật đợc
lu giữ tại bảo tàng Hùng Vơng.
Trong lần khai quật thứ nhất, các nhà khảo cổ học đào hai hố thám sát, mỗi
hố rộng 4m2 và hai hố khai quật, mỗi hố diện tích 100m2. Nh vậy toàn bộ diện
tích thám sát và khai quật lần này là 208m2.
Tầng văn hóa của các hố thám sát và khai quật giống nhau, một tầng thuần
nhất, độ dày trung bình từ 30-40cm, chỗ có hố đất đen có thể dày tới 1m. Di vật
thu đợc gồm có 202 hiện vật đá và 7127 mảnh gốm vỡ. Ngoài 2 mảnh liềm đá
phát hiện đợc trong hố khai quật và một cuốc đá thu nhặt đợc trên mặt ruộng,
toàn bộ hiện vật đá (rìu,bôn,đục,bàn màiđồ trang sức) giống hệt nh những
hiện vật cùng loại đã thấy ở di chỉ Phùng Nguyên, Gò Cây Táo và Văn Điển(Hà
Nội). Nh vậy, Khu Đờng là một di tích thuộc Văn hóa Phùng Nguyên. Để mở
rộng và nghiên cứu thêm về Văn hóa Phùng Nguyên, tháng 12-2000, Khoa Lịch
Sử trờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã trở lại khu di chỉ Khu Đờng
khai quật lần thứ hai. Hai hố khai quật đã đợc mở, hố thứ nhất có quy mô
100m2 và hố thứ hai 48m2.
Kết cấu, màu sắc, độ dày tầng văn hóa của hai hố khai quật giống nhau,
dày trung bình từ 30-40cm. Di vật thu đợc trong lần khai quật này gồm có 349
hiện vật đá, 10 dọi xe chỉ, 4 bi gốm, 1 vòng gốm, 336 chạc gốm, 15032 mảnh
gốm vỡ. Đáng chú ý là trong lần này các nhà khảo cổ học đã phát hiện đợc
cuốc đá và vòng gốm có hoa văn. Ngoài ra, những ngời khai quật còn su tầm đ-
ợc 1 cuốc đá và một qua đá. Nh vậy có thể thấy Khu Đờng là một di chỉ Phùng
Nguyên rất quan trọng.
Di chỉ Đồng Sấu thuộc xã Thụy Vân huyện Phong Châu phân bố trên quả
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nh đa số các di chỉ Phùng Nguyên khác chỉ gồm đồ đá và đồ gốm.Có gần 100 di
vật đá và vài vạn mảnh gốm.
Di chỉ Tràng Kênh(xã Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) là địa
điểm đợc coi là thuộc văn hóa Phùng Nguyên, hoặc ít ra là cũng có mối quan hệ
chặt chẽ với văn hóa Phùng Nguyên, nằm cách xa nhất về phía đông địa bàn c
trú cơ bản của văn hóa này. Đây là một di chỉ xởng chế tạo đồ trang sức đá quan
trọng. Diện tích khoảng 10000m2 phân bố ven chân núi đá vôi. Nó đợc phát
hiện năm 1967 và trong năm này các nhà khảo cổ học thuộc Viện Khảo Cổ học
và bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã tiến hành đào thám sát và khai quật lần thứ
nhất. Diện tích các hố khai quật lần 1 là 192m2. Tầng văn hóa dày trên dới 2m
đã thu thập đợc 2 ngàn di vật đá, xơng và hàng vạn mảnh gốm. Di chỉ Tràng
Kênh còn đợc Viện Khảo Cổ học khai quật diện tích nhỏ lần thứ 2(50m2) năm
1986 và lần 3(35m2) năm 1996.
Kết quả thu đợc trong những năm đầu nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên
thật lớn lao. Các nhà khảo cổ học đã có trong tay khối t liệu rất phong phú, đa
dạng về loại hình văn hóa đủ cơ sở để khẳng định đó là một nền văn hóa sơ kỳ
đống thau- văn hóa Phùng Nguyên.
Trong những năm 70 trên vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc còn có một số phát
hiện nh di chỉ Đồi Giàm, Thổ Tang, Đồi Dung. Tầng văn hóa dày 0,14m đến
1m. Trong một hố khai quật 60m2 đã phát hiện đợc nhiều đồ đá và đồ gốm
mang đặc trng của văn hóa Phùng Nguyên. Đồ gốm có nhiều đồ án hoa văn và
loại hình cho phép đoán định di chỉ ở vào giai đoạn Phùng Nguyên cổ điển.
Nghiên cứu di chỉ này sẽ làm rõ thêm một khâu trong các bớc phát triển của văn
hóa Phùng Nguyên. Trong những năm này, công tác điền dã khảo cổ học trên
đất Bắc Ninh đợc đánh dấu bằng những phát hiện các di tích thời Hùng Vơng
nói chung, trong đó phải kể đến hệ thống di tích sơ kỳ thời đại kim khí bên
dòng sông Tiêu Tơng thuộc xã Tơng Giang, Võ Cờng, Vân Phơng(huyện Tiên
Sơn).

vào tính chất thổ nhỡng của từng vùng, nhng nhìn chung cứng rắn có xen lẫn
các hạt latêlit lết vón. Đất có màu xám đen và chứa đựng thuần nhất các di vật
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
khảo cổ học nh đồ đá,đồ gốm,ít xơng răng và tro than. Tích tụ tầng văn hóa ở
các di chỉ Phùng Nguyên nhìn chung không dày lắm, trung bình khoảng 0,7m,
dày nhất đến 2m (di chỉ Xóm Rền). Một số di chỉ có độ dày tầng văn hóa không
đều, có chỗ dày chỗ mỏng tùy thuộc địa hình c trú. Tuy đã phát hiện đợc 50 địa
điểm của văn hóa này, trong đó số di chỉ đã đợc khai quật cũng hơn 25 địa
điểm , song các dấu vết c trú, nhà cửa vẫn còn là vấn đề cha sáng tỏ.
Căn cứ vào tính chất và đặc điểm các di tích văn hóa Phùng Nguyên, có
thể phân chia chúng ra thành 3 loại hình:
1. Di chỉ c trú
2. Di chỉ-xởng
3. Di chỉ c trú-mộ táng
Phần lớn các di tích c trú Phùng Nguyên đã đợc phát hiện và nghiên cứu
thuộc loại hình di chỉ c trú, thờng gặp loại di chỉ có 1 tầng văn hóa Phùng
Nguyên thuần nhất, có thể chỉ thuộc 1 giai đoạn phát triển nhất định nh thuộc
giai đoạn sớm hoặc giai đoạn giữa-giai đoạn Phùng Nguyên cổ điển. Cũng nh
những di chỉ c trú tầng văn hóa phát triển qua 2 giai đoạn sớm và giữa. Đáng chú
ý là hệ thống các di chỉ c trú thuộc giai đoạn muộn-giai đoạn Phùng Nguyên sau
cổ điển. Đa số các di chỉ này tập trung ở các vùng đồng bằng cao, mà không phải
phân bố ở vùng trung du là chính nh 2 giai đoạn trớc. Trong các di chỉ này yếu tố
văn hóa Đồng Đậu đã xuất hiện rõ nét.
Các di chỉ xởng nằm ở giai đoạn cuối văn hóa Phùng Nguyên bớc sang văn
hóa Đồng Đậu. Cho đến nay mới tìm thấy 3 di chỉ xởng với tính chất công xởng
rõ ràng. ĐIều đặc biệt là tính chuyên môn hóa của chúng khá cao: Di chỉ xởng
Gò Chè chế tác công cụ đá là chính-xởng Bãi Tự chế tác mũi khoan, di chỉ x-
ởng Tràng Kênh chế tác vòng trang sức là chủ yếu.
Di chỉ c trú mộ táng, nếu không kể địa điểm Xóm Rền với phát hiện dấu

của văn hóa Phùng Nguyên.
- Giai đoạn sớm, có thể gọi là giai đoạn trớc cổ điển, lấy Gò Bông, Gò Hện
làm tiêu biểu. Di chỉ Đồng Chỗ ở vào thời điểm kết thúc của giai đoạn này,bắt
đầu có yếu tố của giai đoạn sau.
- Giai đoạn giữa, có thể gọi là giai đoạn cổ điển, lấy Phùng Nguyên, An
Đạo, Xóm Rền, Nghĩa Lập làm tiêu biểu. Di chỉ Đồi Giàm ở vào thời điểm
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
kết thúc của giai đoạn này.
- Giai đoạn cuối, có thể gọi là giai đoạn cổ điển.Có thể lấy lớp dới Đồng
Đậu, các di tích nhóm Tiêu Tơng ở Bắc Ninh, Tiên Hội và Xuân Kiều ở Hà Nội
làm tiêu biểu.
Tuy vậy cũng có ý kiến khác (chủ yếu dựa vào sự xuất hiện của dấu vết
kim loại đồng) mà chia thành 2 giai đoạn phát triển.
- Giai đoạn Phùng Nguyên sớm, cha tìm đợc đồ đồng hay hiện vật kim khí nào
khác, thuộc thời đại đồng thau, vào thiên niên kỷ thứ III trớc công nguyên.
- Giai đoạn Gò Bông muộn, thuộc sơ kỳ thời đại đông thau, vào cuối thiên
niên kỷ thứ III-đầu thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên. Đã có hợp kim đồng
thiếc.
* Trong cuốn chuyên khảo về văn hóa Phùng Nguyên, Hoàng Xuân Chinh
cũng thiên về ý kiến Phùng Nguyên sớm hơn Gò Bông.
Niên đại tuyệt đối: Từ một vài địa điểm của văn hóa Phùng Nguyên đã có
một số niên đại C14:
- 01 niên đại C14 của di chỉ Đồng Đậu (lớp dới) ở độ sâu 4m cho tuổi 3328
100 năm cách ngày nay (tính từ năm 1950). Đây đợc coi là niên đại giai đoạn
kết thúc của văn hóa Phùng Nguyên, tơng đơng giai đoạn đầu của văn hóa Đồng
Đậu.
- 01 niên đại C14 ở Đồi Giàm (Phú Thọ), địa điểm cuối giai đoạn giữa của
văn hóa Phùng Nguyên. Niên đại C14 ở đay khá muộn, 290060 năm cách
ngày nay. Điều này đợc các nhà khai quật giải thích do mẫu than lấy trong một

- Đồ gốm thờng có đáy tròn, độ nung thấp và mỏng, hoa văn chủ yếu là
rạch đơn giản, chấm dải, rạch các đờng song song, đờng xoáy ốc, các đờng
thẳng cắt chéo nhau thành hình tam giác, hoa văn chấm tròn, hoa văn in dây
thừng mịn.
- Cha tìm thấy vết tích đồng.
Giai đoạn Phùng Nguyên 2 gồm các địa điểm Lũng Hòa, Nghĩa Lập, Gò
Bông, Thọ Sơn, Gò Chùa, Đồng Sấu, Ô Rô, An Đạo, Đôn Nhân, Đồng Đậu lớp
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

Trích đoạn Giá trị nghệ thuật Mối quan hệ giữa văn hóa Phùng Nguyên và các nền văn hóa khác Văn hóa Phùng Nguyên tiền đề cơ bản cho sự phát triển của các gia
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status