MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Về mặt lý luận
Trước sự phát triển của nền kinh tế quốc tế, các quốc gia trên thế giới
luôn tự thích nghi và điều chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật của nước
mình phù hợp với pháp luật quốc tế.
WTO là một tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, gồm các Hiệp
định và quy tắc về kinh tế, thương mại v.v , trong đó các quy định về tổ
chức và thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế chiếm một số lượng lớn. Đặc
biệt các quy tắc về nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử
phát triển của WTO, có thế nói rằng, nông nghiệp là một trong các trụ cột
chính của WTO do tích phức tạp ảnh hưởng đến hàng tỷ nông dân và người
tiêu dùng trên toàn thế giới. Việc đưa ra các nghiên cứu Hiệp định nông
nghiệp cũng như các đáng giá thực hiện Hiệp định này trong nước đóng vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành chính sách pháp luật nông
nghiệp quốc gia.
Để thực hiện được Hiệp định và các nguyên tắc này, nhằm đem lại
hiệu quả cao cho sự phát triển của quốc gia, rất cần có một nghiên cứu về
Hiệp định và nguyên tắc về nông nghiệp của WTO, nhằm:
1. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định về nông nghiệp của Hiệp
định nông nghiệp trong WTO ở một số quốc gia.
2. Nhằm hiểu biết sâu sắc các quy định trong Hiệp định nông nghiệp;
3. Trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn quản lý đối với nền kinh tế
trong nước và các hoạt động chuyên ngành;
1
4. Đưa ra các giải pháp về sửa đổi, bổ sung những thiếu sót trong hệ
thống pháp luật.
Với các mục đích trên, đề tài "Chính sách và pháp luật nông
nghiệp Việt Nam và Hiệp định nông nghiệp của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO)" sẽ giải quyết được một số vấn đề cơ bản như:
1. Các kiến thức cơ bản về WTO.
số trên 80 triệu dân, trong đó hơn 80% dân số sống ở khu vực nông thôn và
hơn 70% lực lượng lao động làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến sản
xuất nông nghiệp. Do đó, sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Tuy nhiên, nông nghiệp là một lĩnh
vực rất nhậy cảm đối với các tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Vào năm 2010, khi các rào cản thuế quan và phi quan thuế bị loại bỏ, nền
nông nghiệp Việt Nam, với quy mô sản xuất nhỏ lẻ và tư liệu sản xuất lạc
hậu sẽ phải đối mặt với cạnh tranh tự do gay gắt của nền kinh tế thị trường
quốc tế.
Một trong các hiệp định chính của WTO là Hiệp định nông nghiệp.
Hiệp định nông nghiệp điều chỉnh các vấn đề liên quan đến các chính sách,
luật pháp của các quốc gia thành viên như: Các quy định về tiếp cận thị
trường, hỗ trợ trong nước, và trợ cấp xuất khẩu. Các quy định trong Hiệp
định này tương đối phức tạp và cũng rất khó trong việc thực hiện vì nó liên
quan trực tiếp đến việc sửa đổi luật pháp trong nước trong lĩnh vực nông
nghiệp. Chính vì thế, các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam
đang tiến hành nhiều nghiên cứu, và đưa ra các biện pháp, giải pháp để làm
hài hoà chính sách, luật pháp trong nước phù hợp với Hiệp định này. Tuy
nhiên, đây là vấn đề không đơn giản không chỉ với các quốc gia đang phát
3
triển mà ngay cả đối với các quốc gia phát triển, làm thế nào để thực hiện
được Hiệp định này cũng là điều hết sức phức tạp. Phức tạp ở chỗ phải tiến
hành sửa đổi luật pháp trong nước theo hướng phù hợp với các quy định
trong Hiệp định, nhưng ngược lại, việc sửa đổi này cũng nhằm bảo vệ thị
trường nông sản trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời cũng
đảm bảo quyền lợi của người nông dân trong quá trình hội nhập.
Cơ hội đối với ngành nông nghiệp khi tham gia WTO
Minh bạch hoá chính sách pháp luật: Trước hết phải nói rằng việc
tham gia vào Hiệp định Nông nghiệp buộc các nước thành viên phải tiến
hành cải cách chính sách pháp luật trong nước của mình phù hợp với các
Nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước:
Gia nhập WTO, Việt Nam không những được hưởng quyền lợi mà các nước
thành viên dành cho nhau, ngược lại, Việt Nam cũng phải thực hiện đầy đủ
các nghĩa vụ dành ưu đãi cho các nước thành viên khác. Việt Nam cũng phải
mở cửa thị trường hàng nông sản nhiều hơn, chính sách pháp luật minh bạch
và bình đẳng hơn, các chính sách, pháp luật trợ cấp hoặc hỗ trợ cho nông
nghiệp không phù hợp với WTO phải dần bị loại bỏ. Như vậy, các doanh
nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước không còn ỷ lại vào sự
hỗ trợ của nhà nước được nữa. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
phải chấp nhận cạnh tranh. Áp lực này buộc các doanh nghiệp Việt Nam
phải tự vươn lên nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và các doanh
nghiệp.
Thách thức
Xuất phát điểm khi gia nhập WTO của Việt Nam nói chung và nền
nông nghiệp nói riêng là quá thấp, lại thêm những quy định của WTO đòi
5
hỏi ngày càng khắt khe hơn, chắc chắn sẽ đem lại cho nông nghiệp Việt
Nam những thách thức lớn, cụ thể:
- Khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản nước ta còn
thấp do năng suất, chất lượng thấp, thiết bị và công nghệ chế biến lạc hậu
nên giá thành sản phẩm cao như mía đường, ngô, đậu tương… khi giảm thuế
nhập khẩu và bỏ các rào cản phi thuế sẽ phải cạnh tranh nhiều hơn với hàng
nông sản nhập khẩu.
- Mặc dù nước ta đã đạt được khá nhiều thành tựu về nâng cao năng
suất cây trồng, vật nuôi, nhưng do quy mô sản xuất quá nhỏ bé (bình quân cả
nước là 0,8 ha đất nông nghiệp/hộ gia đình) nên năng suất lao động rất thấp.
Thu nhập của hộ gia đình nông dân thấp dẫn đến nông dân không có vốn tái
đầu tư mở rộng và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Chất lượng
nông sản hàng hoá nhìn chung còn thấp và không đồng đều cũng là một
thách thức rất lớn đối với cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
và việc thực hiện hiệp định này.
3. Nghiên cứu chính sách pháp luật nông nghiệp của Việt Nam trong
quá trình thực hiện Hiệp định này và đưa ra một số định hướng chính sách
xây dựng pháp luật nông nghiệp Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Hợp tác kinh tế quốc tế là một khái niệm rộng, do đó đề tài chỉ giải
quyết các vấn đề về:
1. Khái niệm cơ bản của quá trình hội nhập trong lĩnh vực nông
nghiệp
7
2. Áp dụng, thực hiện Hiệp định nông nghiệp.
3. Chính sách, pháp luật nông nghiệp của Việt Nam trong thực hiện,
áp dụng Hiệp định này và các giải pháp.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên một số tài liệu tham khảo của các Bộ,
ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ
Thương mại, Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Trường Đại học
Ngoại thương, Đại học Quốc gia Hà Nội…, đồng thời trong quá trình nghiên
cứu, hệ thống pháp luật quốc gia về lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế nói
chung, về chính sách pháp luật nông nghiệp nói riêng đã được sử dụng theo
phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp nhằm đưa ra những nhận xét cụ
thể về từng lĩnh vực.
Dựa trên những tài liệu có được từ việc thông kê, những nhận định
từ việc phân tích, tổng hợp, và thực tế của Việt Nam, đề tài đã đưa ra một số
khuyến nghị về việc xây dựng chính sách pháp luật nông nghiệp cho phù
hợp với các quy định trong Hiệp định nông nghiệp của Tổ chức thương mại
thế giới (WTO).
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
không chỉ các nguyên tắc thương mại mà còn cả những lĩnh vực khác như
lao động, thực tiễn hạn chế kinh doanh, đầu tư quốc tế và dịch vụ.
10
Ngay trước khi Hiến chương này được phê chuẩn, 23 trong số 50
nước trên vào năm 1947 đã quyết định cùng đàm phán để cắt giảm hàng
rào thuế quan, nhằm nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch và điều
chỉnh lại những biện pháp bảo hộ được duy trì từ đầu những năm 1930. Kết
quả của vòng đàm phán đầu tiên này là 45.000 nhượng bộ về thuế quan ảnh
hưởng đến thương mại trị giá 10 tỷ USD, tức là gần 1/5 tổng thương mại
trên toàn thế giới. Tổng hợp những quy định và cam kết đã thoả thuận được
đưa vào một văn kiện pháp lý quốc tế có giá trị ràng buộc đối với các nước.
Văn kiện pháp lý đó chính là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(GATT). GATT đã được 23 nước chính thức ký vào ngày 23/10/1947 và có
hiệu lực vào ngày 1/1/1948, trong khi Hiến chương của ITO vẫn đang được
các nước đàm phán. 23 nước ký GATT sau này đã trở thành những thành
viên sáng lập của WTO, vì GATT không phải là một tổ chức mà chỉ là một
Hiệp định, nên các nước lúc đó tham gia GATT được gọi là các bên ký kết
(Contracting parties) [17].
Mặc dầu, ITO cuối cùng được thông qua tại Hội nghị Liên hợp quốc
về thương mại và làm việc tại Havana tháng 3/1948, Quốc hội một số nước,
đặc biệt là Quốc hội Mỹ đã không thông qua Hiến chương này, và vì vậy, tổ
chức ITO đã không tồn tại. GATT, mặc dù chỉ mang tính tạm thời đã trở
thành công cụ pháp lý duy nhất mang tính đa biên, điều tiết thương mại thế
giới kể từ năm 1948 cho đến khi WTO được thành lập vào năm 1945.
Đặc điểm nổi bật của GATT: Trải qua 48 năm tồn tại, GATT đã tổ
chức được 8 vòng đàm phán. Nội dung chủ yếu của các vòng đàm phán là
vấn đề thuế. Ở 6 vòng đầu, giảm thuế là vòng đàm phán duy nhất, sở dĩ như
vậy là do thuế là công cụ trực tiếp nhất để nhà nước tác động lên hoạt động
trao đổi thương mại với bên ngoài, là rào cản đáng kể nhất đối với tiến trình
11
(vũng Kennedy)
62 30.300
Giảm trung bình 35%, ảnh hởng tới
40 tỉ USD kim ngạch thơng mại thế giới
1973-1979 Geneve
(vũng Tokyo)
102 33.000
Thuế suất bình quân sản phẩm chế
biến giảm xuống còn 4,7% (so với
mức 40% khi thành lập GATT)
1986-1994 Geneve
(vũng Urugoay)
123
Các nớc phát triển đa số hạng mục
hàng hoá cam kết giảm thuế từ 78%
lên 99%, các nớc đang phát triển: từ
21% lên 73%
Ngun: Ti liu Ban Th ký WTO chun b cho chng trỡnh o to
v WTO cỏc nc thuc khu vc Chõu - Thỏi Bỡnh Dng (4/1997).
Qua bng cú th thy, ti 2 vũng m phỏn sau ny do s hỡnh thnh
ca cỏc nc ang phỏt trin v cng vi mong mun phỏt trin thng mi
quc t, nhiu nc ang phỏt trin ó gia nhp GATT, nõng s lng
GATT lờn 102 (nm 1979) v 123 nc (1994), cỏc nc ang phỏt trin vi
t cỏch l cỏc nc tham gia GATT, cng ó cam kt a hng mc hng
12
hoá cam kết giảm thuế từ 21-73%. Tại Vòng đàm phán Tokyo, (1973-1979),
do tình hình thương mại thế giới có nhiều thay đổi, nên một số lĩnh vực mới
được bổ sung và đưa vào chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán tại
vòng Tokyo rồi tiếp đến là vòng Urugoay diễn ra trong bối cảnh của các
cuộc khủng hoảng, khủng hoảng chu kỳ gắn liền hoặc liên tiếp xen kẽ khủng
khuôn khổ hiệp định GATT, vòng Urugoay đã đem đến một bước tiến dài
trong nỗ lực của các nước, nhằm cải tổ và mở rộng hệ thống thương mại đa
biên. Phạm vi các vấn đề thuộc chương trình nghị sự này rất lớn, bao trùm
tới 15 lĩnh vực khác nhau của thương mại quốc tế. Và đặc biệt hơn, chúng
mang tính cả gói, theo đó các nước thoả thuận rằng, nếu việc đàm phán
trong một lĩnh vực nào đó bị thất bại thì kết quả của tất cả các cuộc đàm
phán khác cũng sẽ bị huỷ bỏ. Điều này thể hiện quyết tâm của các nước là
muốn đi đến cùng trong việc thương lượng về những lĩnh vực đặc biệt nhạy
cảm như nông sản và hàng vải sợi may mặc, dù biết trước là sẽ có khó khăn.
Với phạm vi chương trình Nghị sự rộng lớn như vậy, việc nảy sinh
rất nhiều các mâu thuẫn giữa các bên trong quá trình đàm phán là tất yếu. Để
giàn xếp những bất đồng đó, các nước tham gia GATT đã mất gần 8 năm.
Trong thời gian đó, các nước đã phải lần lượt tháo gỡ những điểm khúc mắc
nghiêm trọng nhất như thương mại nông sản, thương mại dịch vụ, các quy
tắc chống bán phá giá và việc thành lập một tổ chức mới. Kết quả là vòng
đàm phán có quy mô lớn nhất lịch sử thương mại thế giới này cũng kết thúc
thắng lợi, với 28 văn kiện pháp lý được ký kết liên quan đến hầu hết các khía
cạnh pháp lý của lĩnh vực thương mại và đặc biệt WTO đã ra đời. Tuy nhiên
ghi nhận lại kết quả của 8 vòng đàm phán đều có những khó khăn trong tự
do hoá thương mại. Những kết quả của 8 vòng đàm phán cũng là những nội
dung mà WTO phải điều chỉnh [17].
Chủ đề đàm phán tại vòng Urugoay
14
1. Thuế quan
2. Hàng rào phi thuế quan
3. Sản phẩm tài nguyên thiên nhiên
4. Hàng dệt may
5. Nông sản
6. Sản phẩm nhiệt đới
7. Các điều khoản của GATT
Order" dân chủ và công bằng hơn, đảm bảo quyền lợi cho những nước đang
phát triển [17].
Thứ hai: GATT chỉ là tập hợp các nguyên tắc được thực hiện bởi các
bên ký kết hoặc có thể được sửa đổi để hoạt động như một tổ chức nếu tổ
chức đó ra đời. Trong khi đó, WTO và các hiệp định của nó mang tính
thường trực lâu dài. Với tư cách là một tổ chức quốc tế, WTO có nền tảng
vững chắc bởi vì muốn gia nhập WTO, các thành viên phải thông qua cả gói
Hiệp định, hàm chứa các nguyên tắc vừa có tính thể chế, vừa có tính cụ thể
tạo thành một cơ chế pháp lý đặc thù của WTO và chính các cơ chế pháp lý
này đã quy định phương thức vận hành, hoạt động và phát triển của tồ chức
này.
Thứ ba: WTO là một tổ chức chặt chẽ có các nước thành viên
(members) còn GATT chỉ có các bên ký kết tham gia (contracting parties).
WTO có tư cách pháp nhân. Điều này có nghĩa WTO có các quyền, nghĩa vụ
và năng lực pháp lý đầy đủ khi tham gia vào các mối quan hệ pháp lý thương
mại quốc tế.
Thứ tư: GATT chỉ giải quyết các vấn đề của thương mại hàng hoá,
còn lĩnh vực thuộc diện điều chỉnh của WTO rộng hơn nhiều, bao gồm cả
16
thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thương
mại trong đầu tư.
Thứ năm: cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, về mặt pháp lý
mang tính chặt chẽ, tự động và nhanh hơn so với cơ chế của GATT, do vậy
mà giảm nguy cơ bế tắc so với hệ thống của GATT. Các phán quyết của
WTO cũng có giá trị hiệu lực cao hơn và việc thi hành được đảm bảo hơn.
Tóm lại, sự khác nhau cơ bản giữa GATT và WTO chính là tính
hoàn thiện của hệ thống pháp lý hàm chứa trong WTO nhằm điều chỉnh
thương mại trong phạm vi toàn cầu. GATT mang tính chất là những thoả
thuận tự nguyện giữa các quốc gia, còn WTO là thiết chế pháp lý của hệ
thống thương mại thế giới với mục tiêu là thiết lập cơ chế pháp lý, ở quy mô
Theo chế độ này, mỗi thành viên của WTO phải dành, ngay lập tức
và không điều kiện cho hàng hoá, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ hay nhà đầu
tư của các nước thành viên khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn
sự đãi ngộ mà mỗi nước thành viên đó đã dành cho hàng hoá, dịch vụ có
xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước thành viên nào khác. Nói cách
khác, chế độ này dẫn đến kết quả là hàng hoá có xuất xứ từ các nước thành
viên được đãi ngộ như nhau trên thị trường tất cả các thành viên khác của
WTO. Chế độ MFN là chế độ pháp lý quốc tế hướng vào mục tiêu tạo sự
bình đẳng giữa tất cả các nước thành viên của WTtO trong thương mại quốc
tế.
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT)
Theo chế độ này, mỗi thành viên của WTO phải dành cho hàng hoá,
dịch vụ hay quyền sở hữu trí tuệ, nhà đầu tư… của các nước thành viên khác
18
sự đãi ngộ trên thị trường nội địa nước mình (tức là không có những quy
định bảo hộ đối với sản phẩm, dịch vụ của nước nhập khẩu so với dịch vụ,
sản phẩm của nước xuất khẩu) sau khi hàng đã được nhập khẩu, không kém
phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ đã được dành cho hàng hoá, dịch vụ hay
quyền sở hữu trí tuệ, hay nhà đầu tư …của chính nước mình.
Nếu như chế độ MFN hướng về sự không phân biệt đối xử giữa hàng
hoá, dịch vụ của một thành viên của WTO với hàng hoá, dịch vụ …của tất
cả các thành viên khác của WTO thì chế độ NT hướng về sự không phân
biệt đối xử giữa sản phẩm, dịch vụ của nước nhập khẩu …
Nguyên tắc tự do hoá thương mại
Tất cả các nước, kể cả nước nghèo nhất đều có lợi khi tham gia vào
thương mại quốc tế vì mỗi nước đều có lợi thế so sánh tương đối trong việc sản
xuất một số loại hàng hoá, dịch vụ. Đó chính là thuyết lợi thế so sánh do nhà
kinh tế học Keynes tìm ra từ thế kỷ 19 nền tảng cơ bản của kinh tế học hiện đại.
WTO phát triển tư tưởng này lên, không chỉ khuyến khích tham gia mà còn tìm
cách tối đa hoá hiệu quả của việc tham gia này thông qua tự do hoá thương
Nguyên tắc minh bạch hoá chính sách
Để thuận lợi hoá cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động
thương mại, các nước thành viên phải thực hiện minh bạch hoá chính sách.
WTO yêu cầu các nước thành viên phải thiết lập những đầu mối cung cấp
thông tin ở hai cấp: Chính phủ và doanh nghiệp. Các đầu mối ở cấp chính
phủ đưa ra thông tin về luật lệ, quy tắc điều chỉnh thương mại. Các đầu mối
ở cấp doanh nghiệp trực tiếp liên lạc với các nhà kinh doanh, cho họ biết về
những khía cạnh thương mại và kỹ thuật trong việc cung cấp hàng hoá, dịch
20
vụ, tình hình thị trường, các yêu cầu về chất lượng cần có…khi thực thi các
biện pháp có ảnh hưởng đến hoạt động thương mại. Các chính phủ phải
thông báo công khai ở trong nước và ngoài nước.
Nguyên tắc khuyến khích cải cách hội nhập
Mục tiêu của WTO là đem lại sự phát triển kinh tế cho các nước
thành viên. Tuy nhiên nếu tất cả các nước đều tiến hành mở cửa thị trường,
cho phép tự do cạnh tranh ngay thì kết quả tất yếu sẽ là sự sụp đổ của các
nền kinh tế còn yếu kém. Vì vậy, với các nước đang ở giai đoạn đầu của sự
phát triển cần có sự bảo hộ hợp lý và WTO đưa ra những quy định ưu đãi
đáng kể đối với những nước này. Ví dụ miễn giảm bớt nghĩa vụ trong việc
thực hiện TRIMS, TRIPS và GATS, thu hẹp phạm vi thực hiện các thoả
thuận về thuế quan, được phép áp dụng nguyên tắc về trợ cấp xuất khẩu bị
cấm, cho phép áp dụng dài hơn; được phép giới hạn hàng nhập khẩu; đưa ra
tổng hạn ngạch cho phép nhập khẩu với từng nước.
1.2 LỊCH SỬ RA ĐỜI HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP TRONG WTO
1.2.1. Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994)
Nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng và gây ra nhiều tranh cãi
trong vòng đàm phán Uruguay. Trong lĩnh vực tồn tại ba quan điểm của ba
nhóm nước gồm nhóm các nước xuất khẩu, nhóm các nước nhập khẩu và nhóm
trung gian là những nước tự túc được lương thực và tuỳ theo từng hoàn cảnh có
thể trở thành nước xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một loại nông sản nhất
về thu nhập sẽ khiến cầu biến động theo một cách tương đối. Tuy nhiên,
trong lâu dài thì quy luật này không có tác dụng. Trong nhiều trường hợp,
đặc biệt là đối với các nông sản như lương thực, đồ uống và đặc biệt nông
22
sản thô thì dù thu nhập của dân chúng có tăng lên đáng kể thì mức cầu cũng
không tăng nhanh và thâm chí còn chậm hơn thu nhập. Thêm vào đó, nhờ
các yếu tố kỹ thuật tiên tiến, các nước phát triển có thể có những sản phẩm
thay thế làm giảm thêm nữa lượng cầu về nông sản thô từ các nước đang
phát triển. Do đó, nhìn chung nhu cầu nhập khẩu của các nước đang phát
triển về nông sản có xu hướng tăng chậm nếu xét theo các yếu tố trên.
Ngược lại, đối với thị trường nhập khẩu của các nước đang phát triển, nếu
xét trên bốn yếu tố này sẽ thấy trong thời gian tới họ vẫn sẽ là nước nhập
khẩu nông sản chính, đặc biệt nếu xét theo góc độ tăng trưởng dân số. Với
tốc độ tăng trưởng dân số nhanh hơn tốc độ sản xuất thì ngay cả các nước
đang phát triển xuất khẩu lương thực hiện nay như Thái Lan, Trung Quốc,
Ấn Độ và thậm chí là Việt Nam trong mười năm tới sẽ biến thành các nước
nhập khẩu lương thực [2].
Về cung: Hai yếu tố chính ảnh hưởng tới cung trong nông nghiệp là
chính sách nông nghiệp và khoa học kỹ thuật. Cả hai yếu tố này đều quan
trọng như nhau và các nước phát triển đều có đủ hai yếu tố này. Nhờ những
tiến bộ khoa học kỹ thuật, cộng với chính sách hỗ trợ nội địa và trợ cấp xuất
khẩu, các nước phát triển từ chỗ là các nước nhập khẩu lương thực đã nhanh
chóng trở thành các nước xuất khẩu lương thực. Tuy nhiên, do lượng cầu
trong nước không lớn nhưng lại có lượng cung lớn nên buộc các nước phát
triển phải xuất khẩu nông sản và một phần được xuất khẩu theo hình thức
viện trợ lương thực sang các nước đang phát triển. Lượng cung trên thế giới
lại càng lớn khi số lượng các nước đang phát triển tham gia xuất khẩu nông
nghiệp ngày càng tăng dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng trong lĩnh vực
nông nghiệp và giá nông sản nhìn chung sụt giảm nhanh chóng. Để đáp ứng
với sự sụt giá nông sản, các nước phát triển ngày càng phải tăng sự hỗ trợ
khoa học kỹ thuật chứ không phải do chính sách hỗ trợ của chính phủ. Sự
gia tăng nhanh chóng của sản lượng nông sản khiến cung vượt quá cầu đi
đôi với sự phát triển vượt bậc của sinh học trong việc tạo ra những giống vật
nuôi và cây trồng mới và đã tăng cường khả năng tự cung, tự cấp của các
quốc gia. Trong hoàn cảnh đó, thương mại trong nông nghiệp không những
sẽ bị hạn chế như hiện nay mà còn tiếp tục bị hạn chế trong tương lai do
lượng cung tiếp tục tăng. Thậm chí không có sự hỗ trợ của nhà nước, khoa
học kỹ thuật sẽ tiếp tục làm cho sản lượng nông nghiệp tăng vọt trong tương
lai. EU đề nghị quá trình tự do hoá trong nông nghiệp phải được tiến hàng
theo giai đoạn và tuỳ theo thị trường của từng loại nông sản khác nhau. Tại
hội nghị bộ trưởng Brussel tháng 12/1990. EU nhận ra rằng nếu không có sự
nhân nhượng với những nước đòi tự do hoá lĩnh vực nông nghiệp thì khó có
thể đi đến một Hiệp định cụ thể. Tuy nhiên, nếu EU nhân nhượng trước khi
cải tổ chương trình nông nghiệp chung (CAP) của mình thì sẽ vấp phải sự
phản kháng trong nội bộ. Do đó, EU quyết định sẽ cải tổ phần nào CAP từ
năm 1991 trước khi đi đến nhân nhượng cụ thể [24].
Mỹ và nhóm Cairns: ủng hộ đẩy mạnh tự do hoá trong nông nghiệp
và cho rằng các chính sách như hỗ trợ nội địa, trợ cấp xuất khẩu, hạn chế
nhập khẩu là những nguyên nhân chính bóp méo thương mại, gây ra sự mất
cân đối giữa cung và cầu trong nông nghiệp. Mỹ đề nghị xoá toàn bộ trợ cấp
nông nghiệp và các chính sách nhập khẩu trong vòng 10 năm, đồng thời hoà
hợp các tiêu chuẩn sức khoẻ và vệ sinh dịch tễ [24].
Các nước đang phát triển nhập khẩu nông sản cho rằng cung vượt
quá cầu chỉ xảy ra đối với một số nông sản ở một số nước phát triển. Xét
trên toàn cầu, cung vẫn thấp hơn cầu. Trong một vài trường hợp, do các
chính sách trong nước, đặc biệt ở các nước phát triển đã khiến những nước
25