Mở đầu
Đảng và Chính phủ đã đa ra chỉ tiêu tăng trởng kinh tế trong những năm
tới là 9-10% và phấn đấu đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công
nghiệp với mức GDP bình quân đầu ngời lên khoảng 2000 - 3000 USD/ng-
ời/năm, để đạt đợc mục tiêu này, chúng ta tất yếu phải trải qua quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Bài học kinh nghiệm từ những quốc gia phát triển nhanh trên t tởng đã
khẳng định tích tụ và tập trung vốn là điều kiện tiên quyết cho quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, hiện đại hoá nhanh hay chậm là do nguồn
vốn quyết định.
Nguồn vốn trong nớc là quyết định, song trong giai đoạn đầu vốn nớc
ngoài là rất cần thiết và không thể thiếu. Nó đợc coi là "cái kích" đột phá cái
vòng luẩn quẩn của nghèo đói, tạo điều kiện cho nền kinh tế cất cánh.
Với sự hớng dẫn của thầy giaos, em mong rằng với đề án này sẽ góp
phần làm rõ thêm vấn đề Vốn nớc ngoài với quá trình công nghiệp hoá - hiện
đại hoá ở Việt Nam.
Tháng 9 năm 2001
Ch ơng I
Khái quát về vốn nớc ngoài
I. Các nguồn vốn nớc ngoài
Vốn nớc ngoài (VNN) đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình CNH -
HĐH đất nớc. VNN bao gồm các nguồn nh vốn hỗ trợ phát triển chính thức,
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài, và ngoài ra còn có các nguồn bổ sung, đó là
nguồn tín dụng thơng mại, nguồn kiều hối, nguồn vốn "đầu t chịu", nguồn vốn
đầu t gián tiếp. Trong các nguồn vốn trên thì vốn hỗ trợ phát triển chính thức
và vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài là chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu của VNN,
trong bài viết này ta đi sâu vào nghiên cứu 2 nguồn này.
1. Nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA - Official Development
Assistance
ODA là nguồn vốn của các chính phủ, các quốc gia phát triển, các tổ
chức phi chính phủ. ODA đợc cấp trên cơ sở song phơng và đa phơng nhằm
trị - xã hội hay trong lãi suất và tỷ giá tiền tệ của mỗi quốc gia cũng đủ để tạo
nên sự tháo chạy ồ ạt của các dòng vốn đầu t. Chính cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ khu vực đợc khởi đầu ngày 2/7/1997 tại Thái Lan đã đang và sẽ
còn cho thấy điều đó.
1.2. Triển vọng thị trờng
bao gồm quy mô thị trờng, khả năng tiếp cận thị trờng và triển vọng thu
lợi nhuận đang ngày càng trở thành nhân tố quan trọng nhất, định hớng cho
đầu t tơng lai của các nhà đầu t. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà
đầu t - các công ty xuyên quốc gia "làm ăn lớn".
1.3. Sự thuận tiện và hấp dẫn
khác của môi trờng đầu t giành cho các hoạt động triển khai đầu t là điều
kiện cần để chuyển hoá các ý tởng đầu t trở thành hiện thực.
1.4. Bối cảnh và sự phát triển
thể chế các quan hệ kinh tế - chính trị, ngoại giao quốc gia khu vực và
quốc tế cũng có sức kích thích và định hớng cao tới sự vận động của các
nguồn vốn.
1.5. Nợ nớc ngoài và cán cân thanh toán quốc tế
Tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế, nợ nớc ngoài và khả năng trả
nợ nớc ngoài của một nớc có ảnh hởng mạnh đến khối lợng VNN mà nó có
thể huy động xét trong dài hạn. Khi một quốc gia mắc nhiều nợ và cán cân
thanh toán thờng xuyên bị thâm hụt thì khả năng trả nợ sẽ rất thấp. Hằng năm,
nớc đó phải trích ra nhiều tài nguyên để trả lãi suất cho khoản nợ tích đọng,
phần thặng d còn lại dành cho đầu t mới sẽ chỉ còn lại rất ít ỏi dẫn đến triển
vọng tăng trởng là thấp nên việc huy động VNN của các quốc gia này là rất
thấp.
2. Xu hớng vận động của ODA
Các nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đang thiếu vốn nghiêm
trọng để phát triển kinh tế xã hội, vốn ODA là một trong những nguồn vốn n-
ớc ngoài có ý nghĩa quan trọng. ODA cùng với FDI tạo thành nguồn VNN
trong tổng cơ cấu vốn phục vụ cho chơng trình phát triển kinh tế - xã hội của
giới là Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu vẫn sẽ là những nơi chiếm khoảng 70% tổng
vốn đầu t. Phần còn lại sẽ đợc phân định bằng sự cạnh tranh của các nớc đang
phát triển mà gay gắt nhất là khu vực Đông Nam á, Trung Quốc, ấn Độ, Mỹ
- Latinh. Nhiều tổ chức tài chính dự báo rằng tốc độ phát triển của Đông á và
ASEAN sẽ dơng và đạt cao vào các năm của tận thế kỷ XXI, tiếp tục duy trì đ-
ợc sự năng động vốn có của mình, nh vậy: châu á - TBD vẫn là một mối quan
tâm của các nhà đầu t.
III. Tác động của VNN
1. Những tác động tích cực
Gia tăng tiềm lực tài chính góp phần tạo đà tăng trởng mạnh trong thời
gian tới. Hiện nay tuy VNN vào Việt Nam cha nhiều, đóng góp vào GDP còn
khiêm tốn, nhng với tốc độ gia tăng nhanh cho phép dự đoán trong những năm
tới VNN sẽ tác động mạnh đến tốc độ tăng trởng của Việt Nam.
VNN cũng đang có sự tác động thúc đẩy chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế
theo hớng tiến tới một cơ cấu công nghiệp và dịch vụ cao cấp, hiện đại, góp
phần tạo nên một môi trờng đầu t ngày càng tốt hơn để tiếp tục thu hút VNN
mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Nhiều dự án có VNN đặt ở các vùng ngoại thành cũng đang là hạt nhân
tạo nên những khu đô thị mới, thúc đẩy giảm mật độ dân số nội thành. Sự
chuyển dịch dân số ra ngoại thành tuy chúng ta đã có chủ trơng từ lâu nhng
vẫn cha thực hiện đợc, nay sẽ đợc thực hiện dới tác động này.
VNN đã gia tăng mức nhân dụng cho nên kinh tế cả về chất lợng lẫn số l-
ợng, tạo nguồn thu ngoại tệ và tăng thu cho ngân sách nhà nớc, góp phần duy
trì và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo nên sự ổn định về công ăn
việc làm cho hàng ngàn ngời lao động trên phạm vi cả nớc.
Sự hiện diện của VNN còn đợc xem nh chất kích thích cho môi trờng
kinh doanh trong nớc vốn đã năng động lại càng năng động hơn. Tuy rằng
trình độ kỹ thuật công nghệ của các doanh nghiệp có VNN cha thật hiện đại
nh mong đợi, nhng nó đã đặt cho các doanh nghiệp trong nớc đứng trớc những
thách thức mới, buộc mọi thành phần kinh tế phải xét lại phơng thức kinh
này rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
Việc chuyển giao công nghệ là việc tích cực mà VNN mang lại nhng
hiện các công nghệ đợc chuyển giao lạc hậu so với hiện thời lại đang phổ biến
ở nớc ta. Khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nớc ngoài thờng góp
vốn bằng các thiết bị và vật t, lợi dụng sự yếu kém về trình độ của bên đối tác
Việt Nam, các nhà đầu t đã chuyển vào Việt Nam những thiết bị cũ đã hết thời
hạn thanh lý, họ chuyển vào Việt Nam và tiếp tục khai thác những tài sản cố
định này.
Trong quá trình thu hút và sử dụng VNN đã kéo theo các tệ nạn, các vấn
đề xã hội nh là tham nhũng, buôn lậu, làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo
làm chúng ta mất nhiều cán bộ có kinh nghiệm, đồng thời gây nên những
mầm mống mâu thuẫn nội bộ, tự phá vỡ trật tự kỷ cơng và tự làm suy yếu hiệu
lực quản lý nhà nớc.
3. Một số giải pháp để phát huy tích cực, hạn chế tiêu cực của VNN.
Thứ nhất, cần phải có một chiến lợc tài chính quốc gia làm chính, trong
đó xác định rõ mục đích của chính sách huy động và sử dụng VNN vào việc
đẩy mạnh tiến trình CNH - HĐH đất nớc theo hớng:
- Huy động đủ vốn với các điều kiện vay, trả thuận lợi.
- VNN đợc sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả để đảm bảo khả năng
trả nợ cho nớc ngoài.
- VNN không có tác động xấu đến sự ổn định môi trờng kinh tế vĩ mô và
tính độc lập dân tộc.
Thứ hai, cần xác định đúng giới hạn lợi dụng VNN.
Sử dụng VNN nhất định phải nghĩ đến khả năng tiếp nhận của nớc sử
dụng vốn. Do đó, phải thờng xuyên xem xét giới hạn mắc nợ, nắm chắc số l-
ợng, điều kiện mắc nợ để điều chỉnh về mặt vĩ mô. Trong đó cần chú ý giới
hạn số lợng sau:
- Chỉ tiêu tỷ suất mắc nợ: Tức là tỷ lệ giữa tổng số nợ và lãi của một nớc
phải trả cho nớc ngoài với tổng giá trị sản lợng quốc dân nớc đó cùng năm.
Nếu tỷ lệ này càng nhỏ cho thấy mức độ dựa vào VNN nhỏ, ngợc lại tỷ lệ đó
Qua tình hình thực tế mà các nớc đã trải qua trong việc huy động và sử
dụng VNN đã chỉ mang lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm sau:
1. Trong chiến lợc phát triển
Về dài hạn, phải theo đuổi chiến lợc tăng trởng duy nhất đúng trong các
điều kiện hiện đại là nỗ lực gia tăng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo nh mục
tiêu u tiên hàng đầu chứ không phải bất cứ nỗ lực xuất khẩu nào. Tuy nhiên,
trong từng giai đoạn cụ thể chiến lợc này cần đợc cụ thể hoá một cách thích
hợp.
Để thu hút đợc nhiều VNN, cần duy trì tốc độ tăng trởng xuất khẩu bình
quân cao hơn tốc độ tăng trởng VNN trong một thời gian dài. Nếu không nh
vậy có nghĩa là nợ và lãi sẽ tích đọng ngày càng lớn, đến một mức nào đó khối
lợng nợ tích đọng này sẽ làm cho đất nớc lâm vào cảnh không thể trả nợ đợc
cũng nh kinh tế không thể tăng trởng. Việc thoát ra khỏi tình trạng này bằng
cách đơn phơng từ chối trả nợ, nh Pêru đã làm, chỉ gây căng thẳng thêm cho
quá trình phát triển. Khi đó, đất nớc không thể xuất khẩu, do vậy cũng không
thể nhập khẩu, đơn giản là nó bị loại khỏi các quan hệ kinh tế quốc tế, tức là
bị loại ra khỏi quỹ đạo tăng trởng.
2. Về vấn đề kinh tế vĩ mô:
2.1. Vấn đề chống lạm phát:
Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó mục tiêu hàng đầu là chống lạm
phát, là điều kiện thiết yếu để giải quyết vấn đề VNN. Trong chiến lợc dài
hạn, sự ổn định này lại giả định một định hớng tăng trởng hợp lý và khả năng
điều tiết vĩ mô có hiệu quả của chính phủ, với khâu trung tâm là điều hành
chính sách tiền tệ. Việc điều hành chính sách tiền tệ, đến lợt nó, có quan hệ
phụ thuộc trực tiếp và chủ yếu vào hoạt động của bộ máy ngân hàng trung -
ơng.
2.2. Vấn đề tỷ giá hối đoái
Sự bất ổn định của tỷ giá, hay là xu hớng mất giá liên tục của đồng bản tệ
do tình trạng lạm phát không kiểm soát đợc gây ra sẽ góp phần làm gia tăng
bất ổn định trong nền kinh tế, phá hoại các cơ sở của sự tăng trởng. Bằng cách
quyền khống chế của các công ty nớc ngoài. Bên cạnh đó, chính phủ lại hớng
FDI vào các khu chế xuất, là nơi dễ thiết lập sự kiểm soát.
Bớc vào thập niên 1980, khi vốn nội địa đã tích luỹ đủ lớn, để thu hút kỹ
thuật và công nghệ mũi nhọn cũng nh tránh làm tăng thêm số nợ vốn đã quá
lớn, Hàn Quốc cho phép tự do hoá đầu t trực tiếp của nớc ngoài. Bằng cách
làm đó, cạnh tranh quốc tế, có thặng d thơng mại để trả nợ nớc ngoài trong
khoảng thời gian ngắn.
Với Thái Lan, cho đến gần đây, với chủ trơng thúc đẩy trớc hết vào nông
nghiệp và một số ngành có hàm lợng lao động cao, việc khống chế nớc VNN
ở một tỷ lệ vừa phải đối với khả năng tăng trởng GDP và xuất khẩu, tức là phù
hợp với năng lực trả nợ của đất nớc đã có tác động là nền kinh tế không tiêu
phí nguồn tăng trởng cho việc trả nợ và lãi nợ tích luỹ, không phụ thuộc vào n-
ớc ngoài trong việc phát triển.
5. Vấn đề vốn đối ứng trong nớc
Thông thờng để có thể sử dụng có hiệu quả VNN thì ta cần phải có một
tỷ lệ vốn trong nớc thích hợp nh vật đối ứng. Tỷ lệ này đợc xác định tuỳ theo
từng ngành, từng giai đoạn, cụ thể: trong giai đoạn đầu, do nhu cầu vốn
nghiêng về đầu t cho cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp nên tỷ lệ này thờng
là thấp (1 đồng VNN cần 1-1,5 đồng vốn trong nớc). ở giai đoạn sau, khi các
chơng trình đầu t nghiêng về các ngành công nghiệp chế biến, có hàm lợng
vốn và kỹ thuật cao thì tỷ lệ này tăng lên (1/15, - 2,5).
Ch ơng III
Tình hình huy động và sử dụng VNN từ 1988 đến nay
I. Đối với vốn ODA
ở Việt Nam nguồn vốn ODA đã có từ rất lâu, song nguồn vốn này có
một thời gian bị gián đoạn đó là từ khi Liên Xô và các nớc Đông Âu sụp đổ,
cho đến cuối năm 1993 với việc bình thờng hoá quan hệ với quỹ tiền tệ quốc
tế IMF, nối lại quan hệ với ngân hàng thế giới WB và ngân hàng phát triển
châu á ADB. Các nguồn vốn ODA chuyển vào Việt Nam có triển vọng tăng
nhanh.
đợc nhiều năm. Một số dự án có mục tiêu phát triển nông thôn và phát triển
nguồn nhân lực mang tính chất thực hiện công bằng xã hội nh xoá đói giảm
nghèo, chơng trình 327 trồng rừng phủ xanh đồi trọc, chơng trình giáo dục
tiểu học, định canh định c, dân số - KHHGĐ.
Lĩnh vực y tế có sử dụng nhiều vốn ODA đa phơng nhất. Giai đoạn 1991-
1996 khoảng 100 triệu USD, giai đoạn 1996-2000 dự kiến là 135 triệu USD.
Nói chung cho đến nay chúng ta đã thực hiện vận động hơn 13 tỷ USD
vốn ODA cam kết và đã hợp thức hoá bằng các hiệp định đợc ký kết trị giá
hơn 9 tỷ USD, trong đó vốn vay u đãi khoảng 7.5 tỷ USD và vốn viện trợ
không hoàn lại khoảng 1,5 tỷ USD. Tính đến hết quý 1/1999 ta đã giải ngân
khoảng hơn 5 tỷ USD, đạt hơn 55% số vốn ODA đợc cam kết. Nguồn vốn này
đã đợc sử dụng chủ yếu để xây dựng các cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp
nông thôn, xoá đói giảm nghèo, phát triển y tế - GD & ĐT
II. Vốn FDI
FDI đầu t vào nớc ta chủ yếu dới hình thức liên doanh, tập trung vào các
thành phố lớn, các trung tâm kinh tế. Cơ cấu đầu t chủ yếu vào một số ngành
nh công nghiệp, khách sạn du lịch Đầu t vào nông - lâm - ng nghiệp và các
ngành khác còn hạn chế. Phần lớn các dự án đầu t vào Việt Nam là từ các nớc
Đông á chiếm 68,2% tổng vốn đầu t. Mặc dù khủng hoảng kinh tế - tài chính
song đến ngày 31/12/1998 tỷ trọng này vẫn giữ ở mức gần 60%.
Nhng do các nớc trong khu vực đang chịu ảnh hởng của cuộc khủng
hoảng nên có một số dự án khó thực hiện đúng thời hạn, thậm chí có một số
dự án phải huỷ bỏ nh dự án khu biệt thự, nhà ở cao cấp An Phú (TP HCM) với
số vốn đầu t gần 1 tỷ USD, dự án BOT cảng biển quốc tế nớc sâu Sao Mai-
Bến Đình trên 600 triệu USD (Bà Rịa - Vũng Tàu) và một số dự án khác.
Trong khi đó, vốn đầu t thu hút từ khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ chỉ chiếm
tỷ trọng nhỏ, cha tơng xứng với tiềm năng của khu vực này. Đầu t nớc ngoài
vào nớc ta dới nhiều hình thức, nhng so với viện trợ phát triển chính thức ODA
thì nguồn vốn FDI lớn hơn 3,2 lần.
Với chính sách khuyến khích đầu t nớc ngoài, trong thời gian từ 1991-
kiện cần thiết cho kinh tế t nhân phát triển.
Thứ ba, tại các tỉnh - thành phố có điều kiện thuận lợi để thu hút VNN đã
có những tính năng động, sáng tạo, nhạy bén với cái mới trong chủ trơng chỉ
đạo của mình nhng lại bị kiềm toả trong khuôn khổ chung của đất nớc.
Thứ t, trong từng đơn vị cơ sở có hoạt động hợp tác đầu t nớc ngoài lại
biểu hiện một sự năng động tự phát vì thiếu căn cứ định hớng chiến lợc, thiếu
cơ sở quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật và thiếu cả sự chỉ đạo nhất quán từ
phía Nhà nớc. Đặc biệt là những "sáng tạo" trong việc đối phó với những
chính sách, luật pháp cha đợc hợp lý và chặt chẽ của chúng ta.
Thứ năm, những danh nhân của chúng ta còn có những hạn chế trong
việc xử lý "cái riêng" và cái "chung" hoặc vì thiếu thông tin, thiếu sự hỗ trợ từ
phía nhà nớc.
Thứ sáu, tâm lý, t tởng trong hoạt động hợp tác, thu hút VNN nh tính tự
tin mặc cảm, xu hớng vọng ngoại - trọng ngoại hoặc những thành kiến đối với
những nớc lớn, tập đoàn lớn.
Ch ơng IV
Giải pháp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả vốn
nớc ngoài cho quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam
I. Các giải pháp nhằm huy động VNN
1. Giải pháp huy động ODA
1.1. Ban hành hệ thống văn hoá pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, rõ ràng
phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình cụ thể ở Việt Nam, có hiệu lực cao
về quản lý nợ nớc ngoài, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động vay trả nợ nớc ngoài
phù hợp với chiến lợc vay nợ nớc ngoài trung và dài hạn.
1.2. Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc tiếp nhận, phân
bổ, quản lý sử dụng ODA, nâng cao hiệu quả sử dụng ODA, đẩy nhanh việc
phê duyệt dự án đầu t và công tác thẩm định dự án. Có phơng án bố trí vốn đối
ứng khi tiếp nhận ODA.
Nâng cao chất lợng và tính khả thi của dự án, tập trung ODA vào xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao trình độ khoa học công nghệ và
khu vực, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động xuất nhập khẩu của các dự
án FDI.
2.6. Sớm thông qua và ban hành công khai quy hoạch các dự án FDI
trong những năm tới.
Đầu t thoả đáng vào giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực để duy trì và phát
huy lợi thế của Việt Nam.
2.7. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, xây dựng bộ máy quản lý nhà n-
ớc trong sạch vững mạnh; giữ vững sự ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ
tăng trởng kinh tế quốc dân, kiềm chế lạm phát và ổn định tiền tệ, giá cả.
2.8. Tích cực chủ động tiến hành xúc tiến đầu t, tạo lập và lựa chọn các
đối tác đầu t nớc ngoài, lựa chọn các hình thức thu hút FDI phù hợp và có hiệu
quả đa dạng và đa phơng hoá trong hợp tác đầu t. Tăng cờng quan hệ ngoại
giao với các nớc theo chủ trơng "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc".
II. Các biện pháp nhằm sử dụng VNN có hiệu quả
1. Các biện pháp nhằm sử dụng ODA có hiệu quả
Đối với Việt Nam, nguồn ODA thật sự có tầm quan trọng đặc biệt. Đấy
sẽ là nguồn giúp Nhà nớc tái thiết và xây dựng cơ sở hạ tầng, đáp ứng các yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, có đợc ODA mới chỉ là tiền đề, điều quan trọng hơn là làm
thế nào để sử dụng có hiệu quả nó. Để góp phần xử lý vấn đề này, theo tôi cần
thực hiện các biện pháp sau:
1.1. Cần thay đổi nhận thức về vai trò và bản chất của viện trợ nớc
ngoài
Với những u đãi của nguồn vốn này thờng làm cho các cơ quan quản lý,
tiếp nhận có quan niệm hết sức dễ dãi và chủ quan về phân phối và sử dụng
nguồn vốn này nh không chú ý đến yêu cầu hiệu quả, cha quan tâm tới việc
xác định u tiên đầu t, xem nhẹ vốn đối ứng trong nớc
Những quan niệm sai lầm trên cần phải đợc sớm chấn chỉnh, luôn luôn lu
ý rằng đây là nguồn vốn phải hoàn trả vốn gốc và lãi, vì vậy nếu sử dụng kém
hiệu quả có thể rơi vào khủng hoảng nợ nần nh đã xảy ra ở Brazil.
trở ngại nh thủ tục hành chính rờm rà. Việc giải phóng mặt bằng luôn luôn là
vấn đề nan giải.
Để các dự án FDI đợc thực hiện nhanh chóng sớm phát huy hiệu quả
chúng ta cần phải tháo gỡ những trở ngại trên, chấm dứt tình trạng dây da kéo
dài trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến FDI.
Cùng với việc cải tiến thủ tục hành chính, hoàn thiện các văn bản pháp
quy và hớng dẫn thi hành đối với hoạt động FDI, chúng ta cần thiết phải cải
tạo và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nói
chung và đầu t trực tiếp nớc ngoài nói riêng.
2.2. Quản lý của nhà nớc
Bao gồm các khâu nh thẩm định dự án đầu t vì đây là khâu đầu tiên để
xác định hiệu quả của 1 dự án FDI; quản lý dự án sau giấy phép đầu t - đây là
công đoạn khó khăn nhất, chiếm nhiều thời gian và công sức trong quản lý
nhà nớc, nó quyết định đến sự thành công và hiệu quả của hoạt động hợp tác
đầu t; tổ chức cán bộ quản lý là yếu tố quyết định nhất nhng cũng đang là
khâu yếu nhất trong công tác quản lý nhà nớc do họ cha có kiến thức và kinh
nghiệm về đầu t nớc ngoài, ít hiểu biết pháp luật, ngoại ngữ kém, nhng họ lại
nhận những công việc khó khăn, mới mẻ đối với họ, hơn nữa, nhiều cán bộ
của ta trong liên doanh chỉ lo cho lợi ích cá nhân dẫn đến lợi ích của ngời lao
động, của đất nớc bị vi phạm, không ít ngời đã bị mua chuộc, mắc bệnh tham
nhũng.
Tình trạng trên là nguyên nhân chính gây thiệt hại lớn cho chúng ta trong
quá trình hợp tác đầu t với nớc ngoài. Do đó, chúng ta cần phải chú trọng đến
công tác bồi dỡng và đào tạo cán bộ. 2.3. Tăng khả năng tiếp nhận đầu t nớc
ngoài
Khả năng tiếp nhận FDI của nền kinh tế nói chung và của từng doanh
nghiệp nói riêng là một nhân tố quyết định đến hiệu quả đầu t. Đầu t trực tiếp
nớc ngoài sẽ chỉ phát huy hiệu quả khi chúng ta có khả năng tiếp nhận tốt và
ngợc lại, chúng ta có thể bị "bội thực" hoặc phụ thuộc vào bên ngoài nếu khả
năng tiếp nhận của chúng ta kém. Để tiếp nhận có hiệu quả FDI cần phải có