LỜI MỞ ĐẦU
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường
ở nước ta đã tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội kinh
doanh và sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế. Có tác động khơi thông mọi nguồn vốn, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp khai thác,
huy động vốn phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình.
Vốn là điều kiện vật chất không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp. Vốn kinh doanh được chia làm hai bộ phận gồm: vốn cố định và vốn
lưu động. Trong các doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động đóng vai trò rất quan trọng,
phục vụ trực tiếp cho quá trình kinh doanh, lưu chuyển hàng hoá và thường xuyên chiếm
tỷ trọng lớn (70% - 80%) trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, quản lý
và sử dụng vốn lưu động sao cho hiệu quả có ý nghĩa vô cùng quan trọng và quyết định
đến sự thành công hay thất bại trên thương trường của các doanh nghiệp.
Trải qua các năm hoạt động, Công ty Xăng dầu Quân đội đã có nhiều cố gắng trong
việc tìm hướng khai thác, huy động vốn để phát triển quy mô kinh doanh. Tuy nhiên, trong
thời gian tới, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh đòi hỏi Công ty cần tìm ra những phương thức quản lý và sử dụng vốn lưu động
khoa học hơn, hợp lý hơn, phù hợp với sự vận động của đồng vốn trong cơ chế thị trường.
Nhận thức được vai trò của vốn lưu động và tầm quan trọng của hiệu quả sử
dụng vốn lưu động trong hoạt động kinh doanh trong các DNTM và qua thức tế tìm
hiểu tại Công ty Xăng dầu Quân đội em chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Xăng dầu Quân đội ”
làm Luận văn tốt nghiệp.
Trong phạm vi đề tài, em xin đề cập đến nội dung cơ bản của công tác quản lý
và sử dụng vốn lưu động và áp dụng nó vào thực tiễn tại Công ty Xăng dầu Quân đội,
sau cùng em xin mạnh dạn đưa ra một vài kiến nghị.
1
Ngoài Lời mở đầu và phần Kết luận, nội dung của Luận văn được kết cấu như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu
động trong các DNTM
Chương II: Thực trạng công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công
sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông.
Tài sản lưu động sản xuất là mặt hiện vật của những đối tượng lao động nằm
trong khâu dự trữ để đảm bảo cho quá trình kinh doanh sản xuất như nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế…và những đối tượng nằm trong
khâu sản xuất của doanh nghiệp, như sản phẩm dở dang đang chế tạo, bán thành
phẩm, chi phí sản xuất chính chưa hoàn thành, chi phí sản xuất phụ dở dang. Quá
trình lưu thông sản phẩm là tiếp tục của quá trình sản xuất. Để đảm bảo cho hoạt động
3
tiêu thụ sản phẩm cần thiết phải hình thành một số khoản đầu tư tiền tệ khác (như
thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán…) Những sản phẩm và tiền tệ phát
sinh trong quá trình này gọi là tài sản lưu thông của doanh nghiệp.
Để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thường
xuyên liên tục cần thiết phải có đủ và đảm bảo đồng bộ, hợp lý các yếu tố nói trên.
Như vậy, biểu hiện dưới dạng hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản
lưu động và biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động được gọi là vốn lưu động. Nói
cách khác, vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại là biểu hiện bằng tiền của
những tài sản có thời hạn sử dụng, thu hồi, luân chuyển trong một chu kỳ kinh doanh.
1.2. Đặc điểm của vốn lưu động trong các DNTM
Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác
nhau qua từng giai đoạn. Các giai đoạn của vòng tuần hoàn luôn đan xen với nhau và
không tách biệt riêng rẽ. Từ khâu dự trữ nhằm xác định mức dự trữ hợp lý đến khâu sản
xuất nhằm rút ngắn chu kỳ sản xuất, giảm thiểu sản phẩm dở dang, tránh ứ đọng vốn
trong sản xuất, sử dụng tiết kiệm các định mức tiêu dùng vật tư, đến quản lý thành phẩm
tồn kho, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ, quản lý các khoản phải thu, chuyển hoá nhanh chóng
vốn lưu động thành tiền mặt nhằm tái đầu tư và phục vụ cho quá trình sản xuất kinh
doanh tiếp theo, làm sao cho đồng vốn lưu động được luân chuyển liên tục, giảm bớt thời
gian vận động của vốn ở mỗi khâu từ đó giảm được chu kỳ vận động của vốn.
Từ đó ta có thể nói, đặc điểm của vốn lưu động là thường xuyên vận động, luôn
thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình kinh doanh. Vốn lưu động chuyển
dịch toàn bộ giá trị của nó ngay trong một lần, luân chuyển liên tục qua các khâu với tốc
Vốn lưu động có thể chia thành:
Vốn ngân sách cấp
Vốn tự bổ sung
Vốn liên doanh - liên kết
Vốn chiếm dụng hợp pháp của các tổ chức, cá nhân
5
Vốn tín dụng
Việc phân chia này giúp doanh nghiệp xem xét và quyết định huy động tối ưu
các nguồn vốn đảm bảo nhu cầu vốn lưu động thường xuyên ổn định, không gây lãng
phí vốn và không để doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh. Đồng thời, doanh nghiệp có
thể chủ động xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn trong năm đạt hiệu quả
cao.
3. 3. Dựa vào hình thái biểu hiện và theo chức năng của các thành phần vốn lưu
động
Vốn lưu động có thể chia thành:
Vốn hàng hoá
Vốn phi hàng hoá
Vốn trong thanh toán
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp kiểm tra và xác định cơ cấu tối ưu của
vốn lưu động nhằm sử dụng có hiệu quả số vốn lưu động đã bỏ ra.
3. 4. Dựa vào đặc điểm chu chuyển vốn lưu động
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, vốn lưu
động thường tồn tại dưới hình thức:
Vốn bằng tiền
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Các khoản phải thu
Vốn hàng hóa dự trữ
Vốn lưu động khác
II. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG CÁC DNTM
Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ
Hệ số phục vụ vốn lưu động cho biết một đồng vốn lưu động sử dụng trong
hoạt động kinh doanh sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu.
2.2. Hệ số sinh lời của vốn lưu động
7
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong một doanh nghiệp ở một mức
độ cao hơn người ta thường phải sử dụng chỉ tiêu sinh lợi vốn lưu động. Tức là xét
mối quan hệ giữa lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ với vốn lưu động
bình quân trong kỳ của doanh nghiệp.
Lợi nhuận trước thuế
Hệ số sinh lời của vốn lưu động =
Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất bởi vì nó là chỉ tiêu chất lượng phản ánh rõ kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn sử
dụng trong kỳ sẽ tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
2.3. Tốc độ chu chuyển vốn lưu động
Tốc độ chu chuyển vốn lưu động ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Trong một thời kỳ nhất định vốn lưu động quay càng được nhiều
vòng thì hiệu quả kinh doanh càng cao, tức là hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp là cao. Tốc độ chu chuyển vốn lưu động thể hiện ở hai chỉ tiêu: Số vòng
chu chuyển vốn lưu động và kỳ chu chuyển vốn lưu động.
2.3.1. Số vòng chu chuyển vốn lưu động trong một kỳ
Doanh thu bán hàng (theo giá vốn)
Số vòng chu chuyển vốn lưu động =
Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ
Ở đây, vòng chu chuyển của vốn lưu động được tính từ lúc bắt đầu bỏ tiền ra
mua nguyên vật liệu, hàng hoá cho đến khi toàn bộ số tiền đó được thu hồi lại nhờ
tiêu thụ sản phẩm. Chỉ tiêu này phản ánh vốn lưu động của doanh nghiệp quay được
bao nhiêu vòng trong kỳ để tạo ra một khoản doanh thu nhất định.
Tuy nhiên, từ vòng quay thứ hai trở đi, số vòng chu chuyển vốn lưu động được
doanh nghiệp là tốt, vốn bỏ vào hàng tồn kho giảm. Nếu số vòng quay hàng tồn kho
thấp, thể hiện doanh nghiệp dự trữ vật tư quá mức dẫn đến tình trạng bị ứ đọng hoặc
9
sản phẩm bị tiêu thụ chậm. Từ đó, có thể dẫn đến dòng tiền vào của doanh nghiệp bị
giảm đi và có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong tương lai.
2. 5. Kỳ thu tiền bình quân
Chỉ tiêu này cho thấy, độ dài thời gian để thu các khoản tiền bán hàng phải thu
kể từ khi bán hàng đến khi thu được tiền. Kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp phụ
thuộc chủ yếu vào chính sách tiêu thụ và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi kỳ thu tiền bình quân quá dài so với các doanh nghiệp trong ngành thì
phải chú ý xem xét, vì dễ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi.
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:
Số dư bình quân các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần bình quân 1 ngày trong kỳ
2. 6. Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng của công tác quản lý vốn lưu động, phản
ánh tình hính tài chính và vị thế tín dụng của doanh nghiệp đối với bạn hàng và các
nhà cung cấp tín dụng như thế nào. Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá khả năng
thanh toán của doanh nghiệp.
2.6.1. Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh biểu hiện việc để đáp ứng nhu cầu thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn doanh nghiệp phải sử dụng đến tiền mặt và các loại tài sản có khả
năng nhanh chóng chuyển thành tiền như trái phiếu, tín phiếu, chứng khoán ngắn hạn
để trả. Chỉ tiêu này càng cao, phản ánh năng lực thanh toán nhanh của doanh nghiệp
càng được đảm bảo thực sự hơn.
Vốn bằng tiền + Giá trị TSLĐ dễ chuyển thành tiền
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
2.6.2. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
11
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt. Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là tốt
vì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn (ít phải cấp tín dụng cho khách hàng và nếu có
cấp tín dụng cho khách hàng thì chất lượng tín dụng cao).
3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động là cơ sở
để tìm ra các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp. Trên cơ sở xác định các nhân tố ảnh hưởng, doanh nghiệp sẽ có các chính
sách, các chiến lược để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong hoạt động kinh
doanh.
3. 1. Xét về mặt khách quan
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của một số
nhân tố: Lạm phát, rủi ro, các yếu tố về sản xuất và tiêu dùng, yếu tố giá cả và nhu
cầu tiêu dùng, môi trường chính trị - xã hội. Ngoài ra, do chính sách vĩ mô của Nhà
nước có sự thay đổi về chính sách, chế độ, hệ thống luật pháp, thuế…Nhà nước điều
tiết và quản lý vĩ mô bằng các chính sách, bằng pháp luật. Do đó, các chính sách này
là nhân tố ảnh hưởng khá nhiều đến hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
3. 2. Xét về mặt chủ quan
Ngoài các nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ quan của
chính bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động, cũng
như tới toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Trong
đó có các nhân tố như: Xác định nhu cầu vốn lưu động, việc lựa chọn phương án đầu
tư, trình độ tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động, cơ sở vật chất kỹ thuật.
Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt, các doanh nghiệp cần nghiên
cứu, xem xét một cách kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của từng nhân tố để tìm ra nguyên nhân
13
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU
ĐỘNG TẠI CÔNG TY XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Xăng dầu Quân đội
Công ty khí tài Xăng dầu 165 (tiền thân là xí nghiệp khí tài xăng dầu 165) được
thành lập theo quyết định 582/QĐ-QP ngày 6/8/1993 của Bộ Quốc Phòng và quyết
định đổi tên số 569/QĐ-QP ngày 22/4/1996. Khi mới thành lập, trụ sở giao dịch của
Công ty được đặt tại thị trấn Bần, Yên Nhân, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng.
Tháng 4 năm 1997, Công ty khí tài xăng dầu 165 đã chuyển trụ sở về H3 đường
Giải Phóng, phường Phương Mai, quận Đống Đa – Hà Nội.
14
Tháng 5 năm 1999, Công ty khí tài xăng dầu đổi tên thành Công ty Xăng dầu
Quân đội theo quyết định số 645/1999/QĐ-QP ngày 12/5/1999 của Bộ Quốc Phòng.
Công ty Xăng dầu Quân đội là một doanh nghiệp Nhà nước, một đơn vị kinh tế
hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, có tư cách pháp nhân, sản xuất kinh doanh theo
pháp luật, có tài khoản riêng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội và Ngân hàng
ngoại thương Việt Nam. Công ty được phép sử dụng con dấu riêng, được phép phân cấp
quản lý cán bộ và áp dụng các hình thức trả lương theo chế độ chính sách hiện hành.
Ngoài nhiệm vụ đảm bảo xăng dầu cho Tổng cục hậu cần, Công ty Xăng dầu
Quân đội còn cung ứng xăng dầu cho các đơn vị thành phần kinh tế với khối lượng
đáng kể. Trong lĩnh vực xây dựng và lắp đặt kết cấu thép, Công ty Xăng dầu Quân đội
đã và đang tiến hành xây dựng hầu hết các công trình trong toàn quân.
Ngày 25/5/1998, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng có quyết định 635/QĐ-QP chỉ định
Công ty Xăng dầu Quân đội xây dựng kho xăng dầu Nhà Bè do Quân khu 7 làm chủ
đầu tư, tổng dự án công trình là 3980 triệu đồng, phần xây lắp và thiết bị Công ty
Xăng dầu Quân đội thực hiện là 2760 triệu đồng. Ngoài ra, Công ty đang thực hiện
xây dựng thi công các trạm xăng dầu cho mạng lưới bán lẻ của Công ty.
Trong lĩnh vực sản xuất cơ khí, các sản phẩm truyền thống của Công ty chiếm
tài chính phát sinh có tính chất chung toàn Công ty. Đồng thời hướng dẫn, kiểm tra
toàn bộ công tác kế toán trong Công ty.
Phòng kế toán của Công ty gồm 5 người: Trưởng phòng kế toán, phó phòng kế
toán, kế toán Ngân hàng, kế toán tiền mặt, tiền lương, kế toán tổng hợp.
Sơ đồ bộ máy của Công ty (Xem phụ lục 02)
4.2. Hình thức kế toán áp dụng tại Công ty
Hình thức kế toán mà Công ty áp dụng là hình thức chứng từ ghi sổ.
Hệ thống sổ kế toán của Công ty:
- Sổ kế toán tổng hợp: Nhật ký sổ cái
16
- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết hàng hoá, sổ chi tiết theo dõi TSCĐ, sổ chi
tiết theo dõi công nợ với khách hàng.
Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ tại Công ty (Xem phụ lục 03)
5. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua hai năm 2003- 2004
Thông qua số liệu ở phụ lục 04 (Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm
2003-2004) ta thấy, quy mô kinh doanh của Công ty ngày càng được mở rộng. Cụ thể,
tổng doanh thu năm 2004 đạt 718.914.064 nghìn đồng, tăng 225.161.399 nghìn đồng so
với năm 2003 với tỷ lệ tăng là 45,6%. Tổng doanh thu tăng làm cho doanh thu thuần
của Công ty năm 2004 cũng tăng mạnh. Doanh thu thuần năm 2004 đạt 718.558.064
nghìn đồng tăng 225.759.399 nghìn đồng so với năm 2003 với tỷ lệ tăng là 45,8%.
Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh ta phải xem xét các chỉ
tiêu giá vốn, chi phí và lợi nhuận cụ thể. Năm 2004 do thực hiện các biện pháp tiết
kiệm trong quản lý nên mức tăng chi phí QLDN chỉ là 1,43%. Nhưng qua phụ lục 04
ta lại thấy, giá vốn hàng bán tăng 189.830.675 nghìn đồng với tốc độ tăng là 46,5%,
tỷ lệ tăng cao hơn so với tỷ lệ tăng của doanh thu. Điều này là do tình hình xăng dầu
biến động trong thời gian qua trên thế giới. Bên cạnh đó, trong năm 2004, chi phí bán
hàng cũng tăng 2.767.148 nghìn đồng với tốc độ tăng 18,03%.
Đánh giá về hiệu quả kinh doanh ta thấy, lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng
từ 62.065.113 nghìn đồng năm 2003 lên 94.474.837 nghìn đồng năm 2004 tức là tăng
32.409.724 nghìn đồng với tỷ lệ tăng là 52,22. Và lợi nhuận trên một đồng doanh thu
37.703.303 nghìn đồng với tốc độ tăng là 166,63%. Đây là điều dễ hiểu đối với một
công ty kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu, một lĩnh vực luôn đầy rẫy những biến
động, do đó, gia tăng dự trữ ở Công ty là một điều cần thiết. Bên cạnh đó là sự tăng
mạnh ở mảng chi phí xây dựng công trình dở dang, tăng 4.878.327 nghìn đồng. Điều
này là do Công ty đang trực tiếp thi công một số công trình trọng điểm do Bộ Quốc
Phòng và Tổng cục hậu cần giao.
18
Do trong năm 2004 Công ty dùng vốn lưu động để tăng dự trữ hàng hoá nên
ảnh hưởng đến tỷ trọng vốn bằng tiền của Công ty. Lượng vốn bằng tiền của Công ty
năm 2004 tăng hơn năm 2003 là 19.526.333 nghìn đồng nhưng tỷ trọng của lượng
vốn bằng tiền trong tổng vốn lưu động lại giảm 4,39%. Đi vào cụ thể ta thấy, tuy tỷ
trọng giảm nhưng về mặt tuyệt đối cả tiền mặt lẫn tiền gửi ngân hàng đều tăng mạnh
so với năm 2003, giá trị tiền gửi ngân hàng tăng 18.141.155 nghìn đồng, tiền mặt tăng
1.385.178 nghìn đồng cho thấy Công ty đã chủ động hơn trong kinh doanh.
Một bộ phận khác trong tổng nguồn vốn lưu động đó là các khoản phải thu. Các
khoản phải thu năm 2004 tăng 24.239.579 nghìn đồng với tỷ lệ tăng 98,2%, trong đó,
khoản phải thu của khách hàng tăng mạnh nhất và chiếm một tỷ trọng đáng kể, so với
năm 2003 tăng 17.485.433 nghìn đồng với tốc độ tăng là 81,92%. Điều này Công ty
cần phải xem xét để có biện pháp hữu hiệu trong công tác thu hồi nợ và cần tránh tình
trạng bị chiếm dụng vốn dẫn đến giảm hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động kinh
doanh. Bên cạnh đó, khoản phải thu nội bộ năm 2004 cũng tăng một lượng đáng kể,
tăng 5.507.764 nghìn đồng so với năm 2003. Điều này cũng đặt Công ty trước một
nhiệm vụ là trong năm tới làm sao phải nhanh chóng thu hồi và giảm thiểu được khoản này.
Và cuối cùng là vốn lưu động khác, bao gồm các khoản tạm ứng, các khoản chi
phí trả trước, các khoản thế chấp ký quỹ, ký cược ngắn hạn. Các khoản này, trong
năm 2003 chiếm tỷ trọng 0,34% và đạt tỷ trọng 3,03% vào năm 2004.
1.3. Nguồn hình thành vốn lưu động của Công ty
Vốn lưu động của Công ty Xăng dầu Quân đội được hình thành chủ yếu từ các
nguồn: nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn đi vay ngắn hạn Ngân hàng, nguồn vốn khác.
Thông qua phụ lục 07 (Tổng nguồn) ta thấy, tuy tổng nguồn vốn sử dụng của
thất thường, không theo quy luật, tăng giảm đột biến nên dự kiến số vòng quay vốn
lưu động của Công ty năm 2004 là 6,4 vòng, tức là giảm 0,48 vòng năm 2003
Từ công thức tính số vòng chu chuyển vốn lưu động ta suy ra được công thức:
Doanh thu thuần
VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ =
Số vòng chu chuyển
20
Ta có, vốn lưu động bình quân kế hoạch năm 2004 là:
600.000.000
= 93.750.000 (nghìn đồng)
6,4
Như vậy, lượng vốn lưu động thực tế sử dụng tăng quá cao so với dự tính, đạt
163.803.741 nghìn đồng, tăng 70.053.741 nghìn đồng so với kế hoạch. Có thể thấy rằng,
công tác xác định nhu cầu vốn lưu động của Công ty còn thiếu chính xác, chưa theo kịp
và nắm bắt được toàn diện về các biến động trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.
1.5. Công nợ và khả năng thanh toán công nợ
Xem số liệu ở phụ lục 08 (Tình hình thanh toán công nợ của Công ty hai năm 2003-
2004).
Xét các khoản phải trả của Công ty ta thấy, so với năm 2003, năm 2004 các
khoản phải trả tăng 92.839.824 nghìn đồng với tỷ lệ tăng 132,36%. Nguyên nhân chủ
yếu ở đây là có sự tăng mạnh cả về giá trị lẫn tỷ lệ của các khoản nợ phải trả người
bán, người mua trả tiền trước, các khoản phải trả nội bộ, các khoản vay ngắn hạn,
phải trả thuế và các khoản phải trả khác.
Năm 2004 khoản nợ nhà cung cấp của Công ty là 32.546.774 nghìn đồng, tăng
so với năm 2003 là 11.546.858 nghìn đồng với tốc độ tăng là 54,99%.
Trong những năm qua, tình hình xăng dầu trên thị trường quốc tế luôn có sự
biến động mạnh, nhu cầu về xăng dầu tăng cao nên khoản tiền mà khách hàng trả
trước cho Công ty luôn có xu hướng tăng, năm 2004 khoản tiền người mua trả trước
tăng 2.062.767 nghìn đồng so với năm 2003 với tốc độ tăng là 91,83%.
Bên cạnh đó, các khoản vay ngắn hạn của Công ty cũng tăng mạnh về giá trị
Thông qua phụ lục 09 ta thấy, qua hai năm 2003 và 2004 hệ số sinh lời của
Công ty giảm dần từ 0,88 đồng năm 2003 xuống còn 0,81 đồng năm 2004, giảm 0,07
22
đồng. Tức là cứ một đồng vốn lưu động bỏ ra năm 2004 thu lại lợi nhuận ít hơn 0,07
đồng so với một đồng vốn bỏ ra năm 2003.
2.3. T ốc độ chu chuyển vốn lưu động
Tốc độ chu chuyển vốn lưu động được thể hiện thông qua hai chỉ tiêu: Số vòng
quay VLĐ và kỳ chu chuyển VLĐ (số ngày cần thiết để thực hiện một vòng quay của
vốn lưu động)
Từ phụ lục 09 ta biết được, trong năm 2004 tuy Công ty vẫn đẩy mạnh tiêu thụ
hàng hoá để tăng doanh thu nhưng do vốn lưu động sử dụng của Công ty năm 2004
cũng tăng mạnh (tăng 125,24%) làm cho vòng quay vốn lưu động giảm từ 6,88 vòng
xuống 6,08 vòng. Do giảm vòng quay vốn lưu động nên số ngày cần thiết để vốn lưu
động chu chuyển được một vòng tăng lên. Cụ thể, năm 2003 là 52,3 ngày, nhưng sang
năm 2004 số ngày tăng lên là 59,2 ngày. Điều này có nghĩa là tốc độ chu chuyển vốn
lưu động năm 2004 giảm, vốn luân chuyển năm bị chậm, thời gian lưu thông hàng
hoá kéo dài gây lãng phí vốn, chứng tỏ hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động của
Công ty có chiều hướng kém đi. Đứng trước tình hình này đòi hỏi Công ty phải tìm
những giải pháp nhằm tăng vòng quay vốn lưu động tạo điều kiện cho việc giảm chi
phí, tăng hiệu quả kinh doanh.
2.4. Số vòng quay hàng tồn kho
Phụ lục 09 cho ta thấy, số hàng tồn kho bình quân năm 2004 tăng rất
nhanh so với năm 2003, với tốc độ 133,8%, nhưng doanh thu thuần lại tăng với
tốc độ nhỏ hơn nhiều (45,8%) làm cho số vòng quay hàng tồn kho giảm mạnh,
từ 23,2 vòng năm 2003 xuống còn 17,3 vòng năm 2004. Điều này chứng tỏ, một
bộ phận hàng hoá trong Công ty bị ứ đọng hoặc dự trữ quá mức, chậm luân dẫn
đến dòng tiền vào bị giảm đi và Công ty có thể gặp khó khăn về tài chính trong
tương lai. Đây cũng là hậu quả của sự thích nghi chưa tốt với những biến động
trên thị trường xăng dầu thế giới của Công ty.
2.5. Đánh giá khả năng thanh toán của Công ty
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn giảm từ 1,04 năm 2003 xuống còn 1,0 năm 2004,
điều này là do các khoản nợ ngắn hạn của Công ty tăng mạnh (tăng 132,36%). Tuy
24
nhiên, với số liệu này ta có thể nhận định khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công
ty luôn được đảm bảo.
2.6. Kỳ thu tiền bình quân
Số dư bình quân các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần BQ 1 ngày
Ta có:
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Năm 2003 Năm 2004
Chênh lệch
Số tiền T.lệ(%)
Số dư BQ các khoản
phải thu
1.000 đồng 22.321.958 36.804.897 14.482.939 64,88
D.thu thuần QB 1 ngày 1.000 đồng 1.368.885 1.995.995 627.110 45,81
Kỳ thu tiền BQ ngày 16,3 18,4 2,1 12,88
(Số dư các khoản phải thu đầu kỳ năm 2003 là 19.958.809 )
Ta thấy, kỳ thu tiền bình quân của Công ty tăng từ 16,3 (ngày) năm 2003 lên 18,4
(ngày) năm 2004 với tốc độ tăng 12,88%, tức là thời gian để thu được tiền bán hàng năm
2004 lâu hơn năm 2003 là 2,1 (ngày). Điều này cho thấy, vốn của Công ty bị ứ đọng
trong khâu thanh toán làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. Trong
những năm tới Công ty cần phải xem xét tốc độ tăng của các khoản phải thu, đưa ra
những phương án hợp lý nhằm hạn chế tối đa khoản vốn bị chiếm dụng và các khoản
phải thu khó đòi.
III. NHỮNG HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG