Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, càng ngày càng có nhiều thành phần kinh tế, đa dạng các loại hình
sở hữu để phát huy tối đa ưu điểm của nền kinh tế thị trường. Với môi trường
hoạt động như thế, thành phần kinh tế tư nhân được tạo điều kiện để phát triển
mạnh mẽ, và hòa nhập vào xu hướng đó, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân ngày
nay hoạt động tốt, có nhiều đóng góp cho nên kinh tế.
Với các hoạt động linh hoạt, đa dạng hóa ngành nghề, các doanh nghiệp
tư nhân đã và đang thu hút vốn nhàn rỗi từ cộng đồng dân cư, thu hút lao
động và góp phần thúc đẩu phát triển kinh tế, hỗ trợ cho thành phần kinh tế
nhà nước.
Cũng như các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp tư nhân cũng nằm
trong guồng máy của cơ chế thị trường, mục tiêu hoạt động chủ yếu là lợi
nhuận, nếu được tự do vận động, thì rất dễ phát triển không theo định hướng
phát triển của nhà Đảng và nhà nước, nếu xảy ra các vấn đề gì sẽ rất khó kiểm
soát và xử lý. Vì thế, để các doanh nghiệp tư nhân hoạt động có hiệu quả, góp
phần xây dựng đất nước, được các quyền lợi bình đẳng và đi theo định hướng
quản lý của Nhà nước, thì các doanh nghiệp phải hoạt động theo cơ chế quản
lý của nhà nước đặt ra, nhất là cơ chế quản lý tài chính.
Tuy nhiên, cơ chế quản lý của nhà nước dùng để quản lý bao quát chung,
tầm vĩ mô, không thể áp dụng toàn bộ tất cả cho mọi loại doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau thì không thể cùng chung
một cơ chế quản lý , như thế sẽ dẫn đến sự bất hợp lý, áp đặt hoặc hạn chế
hoạt động của các tổ chức. Vì thế phải tùy thuộc vào đặc điểm của doanh
nghiệp mà mỗi doanh nghiệp phải có một cơ chế quản lý tài chính riêng, dựa
theo cơ chế quản lý chung của nhà nước.
Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Đỗ Hữu là một
công ty mới thành lập, trước sự phát triển của thị trường ngày càng nhiều cơ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
1
kinh tế của mỗi nước lại khác nhau. Ở Việt Nam trong quá trình phát triển
kinh tế theo cơ chế thị truờng, kinh tế được chia thành kinh tế nhà nước và
kinh tế tư nhân ( hay kinh tế ngoài quốc doanh).
Kinh tế nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu Nhà nước
về tư liệu sản xuất. Chủ yếu bao gồm các đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốn
thuộc về Nhà nước hoặc Nhà nước chiếm tỉ lệ chi phối.
Kinh tế tư nhân: là thành phần kinh tế không thuộc thành phần kinh tế
Nhà nước. Bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân gọi chung là doanh nghiệp tư nhân.
1.1.2 Phân loại doanh nghiệp tư nhân.
1.1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân xét trên nghĩa thực hiện theo luật.
Các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp là các đơn
vị kinh tế tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, do một hay nhiều người làm
chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình( hữu hạn hoặc vô hạn) về
mọi hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2.2 Doanh nghiệp tư nhân xét theo tính chất sở hữu.
Tất cả các đơn vị, tổ chức cá nhân thuộc khu vực kinh tế tư nhân dựa
trên sở hữu vốn của cá nhân tự có hoặc đi vay.
Cá nhân, họ cá thể kinh doanh hoặc tự bỏ vốn ra thành lập, tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Đây là loại hình kinh tế hộ gia đình, bao
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
gồm: kinh tế hộ gia đình nông dân, thợ thủ công, dịch vụ, doanh nghiệp.
Công ty là các đơn vị kinh tế hoạt động theo luật doanh nghiệp, bao
gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và
doanh nghiệp tư nhân.
Công ty cổ phần là công ty, trong đó:
Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải cố trong suốt thời gian
trong phạm vi số vốn đã đóng góp vào công ty.
Công ty hợp danh không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán
nào.
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn
vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữ tư
nhân về tư liệu sản xuất, Nhà nước có thể góp vốn nhưng không chiếm tỷ lệ
chi phối.
Doanh nghiệp tư nhân thành lập, hoạt động vì lợi ích của chủ sở hữu
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân là loại hình kinh tế năng động, phát triển theo quy
luật kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh chủ yếu theo mục tiêu lợi nhuận,
sẵn sàng tham gia vào các lĩnh vực mạo hiểm với mức lợi nhuận vao và quan
tâm tới lợi ích của doanh nghiệp hơn lợi ích của xã hội.
1.2 Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp tư nhân.
1.2.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính.
Doanh nghiệp tư nhân cũng giống như các doanh nghiệp khác là một
thực thể tồn tại độc lập trong nền kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của doanh
nghiệp mang tính khách quan. Các nhà quản lý, các chủ doanh nghiệp chỉ có
thể áp đặt ý chí chủ quan của mình lên hoạt động của doanh nghiệp khi ý chí
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
đó phù hợp với xu thế vận động khách quan của doanh nghiệp trong từng điều
kiện kinh tế xã hội nhất định. Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được
hình dung là sản phẩm chủ quan của con người, được sử dụng để tác động lên
động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp tồn tại và thực hiện các
mở rộng quyết định tự chủ về tài chính cho các doanh nghiệp tư nhân, nhà
nước thông qua pháp luật quy định cho doanh nghiệp có các quyền rộng rãi
trong quá trình huy động vốn, quản lý sử dụng vốn….phù hợp với nhiệm vụ
của doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Căn cứ vào quy định của pháp luật mà doanh nghiệp thực hiện được vai
trò tự chủ của mình. Bởi vì, chính yếu tố pháp luật đảm bảo an toàn cho hoạt
động kinh doanh có hiệu quả.
Từ những phân tích trên cho thấy yếu tố pháp luật có ý nghĩa rất quan
trọng trong cơ chế quản lý. Thực tế đã chứng minh rằng, việc chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế quản lý này sang cơ chết quản lý khác, thì điều trước hết cần
làm là thay đổi hệ thống chính sách, pháp luật trong quản lý. Đối với quản lý
hoạt động tài chính của các doanh nghiệp cũng vậy, pháp luật là cơ sở cho
hoạt động tài chính doanh nghiệp và là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm
quyền điều hành, giám sát, kiểm tra hoạt động tài chính doanh nghiệp. Tuy
nhiên nếu chỉ pháp luật không thôi thì chưa đủ, mà điều quan trọng cần thiết
phải thực hiện tiếp theo là đảm bảo cho pháp luật được thực hiện.
1.2.2.2 Hệ thống các biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật.
Hệ thống này bao gồm từ việc cụ thể hóa pháp luật tới việc triển khai
thực hiện pháp luật trong thực tế. Đối với mỗi chủ thể quản lý khác nhau thì
có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật.
1.2.2.3 Quyết định quản lý:
Hình thức biểu hiện cụ thể và cuối cùng của quá trình quản lý là quyết
định quản lý. Các quyết định quản lý phải phù hợp với quy định của pháp
luật, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của doanh nghiệp ( các điều
kiện về khoa học công nghệ, điều kiện về tài chính, điều kiện về thị trường, về
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
trình độ kỹ thuật của người lao động…), nhằm kết hợp chặt chẽ các yếu tố sản
xuất trong doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố vào mục đích kinh
1.2.3.3 Điều kiện thị trường trong nước và quốc tế.
Trên thực tế, các doanh nghiệp có tồn tại được hay không tồn tại được
không chỉ phụ thuộc vào sự bảo trợ của nhà nước mà điều quan trọng là sản
phẩm hoặc dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất có cung ứng được nhu cầu ngày
càng tăng lên và thường xuyên thay đổi của thị trường trong nước và quốc tế
hay không. Bởi vậy, cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp phải tạo điều kiện
cho doanh nghiệp có những quyền chủ động nhất định trong quản lý, sử dụng
tài sản và tiền vốn do nhà nước giao cho để có thể tập trung được nhu cầu của
thị trường, đồng thời đảm bảo sự can thiệp của nhà nước ràng buộc trách
nhiệm của nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp trong từng trường
hợp cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà nước và lợi ích quốc gia.
1.2.3.4 Trình độ, khả năng nhận thức của người đưa ra quyết định
quản lý
Đây cũng là yếu tố làm ảnh hưởng tới cơ chế quản lý tài chính doanh
nghiệp. Nhất là đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta nói chung trình độ
còn thấp.
Quyết định quản lý là hình thức biểu hiện cụ thể và cuối cùng của quá
trình quản lý tài chính doanh nghiệp, quyết định quản lý là kết quả của sự
nhận thức và kết hợp các quy định của pháp luật với thực trạng hoạt động của
doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường hoặc các đặt hàng của nhà nước.
1.2.4 Vai trò của cơ chế quản lý tài chính.
Vai trò của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp nói chung , doanh
nghiệp tư nhân nói riêng được hiểu là tác dụng của việc thực hiện một cơ chế
quản lý nhất định đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp. Khi đề cập đến
vai trò của quản lý thông thường được xem xét tác động của cơ chế quản lý
đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp trên khía cạnh tích cực.
Vai trò của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp tư nhân được thực
hiện ở những khía cạnh sau đây:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
9
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
cụ quan trọng để quản lý về mặt vĩ mô, điều chỉnh cơ chế nền kinh tế. Thông
qua chính sách tài chính, chính phủ có thể có những tác động khuyến khích
hoặc hạn chế đối với một hoặc một số lĩnh vực, lĩnh vực kinh tế phát triển
hướng theo chiến lược phát triển của quốc gia. Chẳng hạn, khi mức đánh thuế
của chính phủ tăng lên, phần thu nhập còn lại của nhà đầu tư giảm xuống, và
do đó mà sẽ có tác động hạn chế tăng trưởng nhu cầu, làm giảm sự gia tăng
đầu tư vào sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, nhất là khu vực tư nhân.
Ngược lại, khi mức đánh thuế của nhà nước giảm xuống sẽ có tác dụng
khuyến khích tăng trưởng đầu tư. Chính sách thuế còn tác động đến cơ cấu
đầu tư trong nền kinh tế. Đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân thì sự tác
động này lại càng nhạy cảm hơn, các doanh nghiệp này có ưu thế là linh hoạt,
dễ thay đổi ngành nghề, mặt hàng kinh doanh, mặt khác, do quy mô nhỏ, năng
lực sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh hạn chế hơn các doanh
nghiệp có quy mô nên khả năng “ chống trả” với tác động từ môi trường hoạt
động của các doanh nghiệp tư nhân cũng có phần khó khăn hơn. Vì vậy các
phản ứng từ khu vực doanh nghiệp này khi chính phủ có những thay đổi trong
chính sách thuế cũng như chính sách tài chính nói chung thường nhanh hơn
các doanh nghiệp, tập đoàn có quy mô lớn.
Bên cạnh chính sách thuế, thì chính sách chi tiêu ngân sách của chính
phủ cũng có tác động đến môi trường hoạt động của các doanh nghiệp, trong
đó có doanh nghiệp tư nhân. Chằng hạn chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản…
- Là công cụ quan trọng để chính phủ thực hiện việc định hướng, hỗ trợ
đối với doanh nghiệp tư nhân.
Cơ chế quản lý tài chính có tác động rất lớn đến quyết định đầu tư của
các nhà đầu tư và dân cư đã phân tích ở trên, vì vậy trong chính sách hỗ trợ
với khu vực doanh nghiệp tư nhân, hầu hết các nước đều sử dụng các biện
pháp qua chính sách tài chính. Thông qua các chính sách thuế, chi tiêu chính
nhàn rỗi trong xã hội vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức đầu tư trực tiếp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
và gián tiếp, như thành phần doanh nghiệp góp vốn cổ phần, liên doanh ở
trong và ngoài nước, cho vay vốn mua trái phiếu, tún phiếu, nằm khai thác
triệt để mọi nguồn vốn tiềm tàng trong dân cư và trong nền kinh tế quốc dân.
Bằng hệ thống các đòn bẩy kinh tế của cơ chế thị trường đặt các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế vào môi trường cạnh tranh, hạch toán kinh
doanh thật sự, buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc tự chủ tài chính, sử
dụng tiết kiệm và có hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh, thúc đẩy quá trình tự
tích lũy vốn để phát triển.
Chính sách tạo vốn, quản lý, sử dụng vốn phải tác động đến sử dụng tiết
kiệm và có hiệu quả mọi nguồn của cải xã hội. Chính sách này cần được thay
đổi linh hoạt cho phù hợp với vị trí quan trọng của từng loại hình doanh
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh
nghiệp tư nhân cũng mang những mục tiêu như vậy.
1.2.5.1 Chính sách huy động, tạo lập vốn.
Trong một môi trường và không gian kinh tế thống nhất của nền kinh tế
thị trường, nội dung chính sách huy động, tạo lập vốn đối với các doanh
nghiệp tư nhân vè nguyên tắc cơ bản giống như chính sách huy động, tạo lập
vốn đối với doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên xuất phát từ tính đa dạng của
sở hữu vốn, các doanh nghiệp tư nhân có những điểm khác với doanh nghiệp
nhà nước trong quá trình tạo vốn.
Xuất phát từ các đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân, xuất phát từ mối
quan hệ của nhà nước với loại hình doanh nghiệp này trong việc thực hiện
nghĩa vụ với nhà nước, để đảm bảo có sự quản lý trực tiếp của nhà nước đối
với doanh nghiệp tư nhân; đồng thời tạo điều kiện pháp lý để doanh nghiệp
hoàn thành các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình, nhà nước thông qua
chức năng của mình quy định nội dung mang tính nguyên tắc của cơ chế quản
Việc quản lý vốn và sử dụng vốn ở công ty cổ phần được thực hiện theo
quyết định của hội đồng quản trị. Ban giám đốc là cơ quan thừa hành các
quyết định của hội đồng quản trị, trực tiếp điều hành và quản lý vốn và quản
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
lý sản xuất kinh doanh.
Công ty cổ phần hoàn toàn tự chủ về tài chính, kinh doanh theo nguyên
tắc lời ăn lỗ chịu, nhà nước không bao cấp bù lỗ. Nếu công ty cổ phần làm ăn
không đủ khả năng thanh toán thì phải bị phá sản theo luật.
Các công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta hiện nay gồm 2 loại: Một
loại công ty được thành lập do các cá nhân góp vốn. Còn một loại công ty thì
được thành lập từ các bên; trong đó có nhà nước góp vốn.
Xét về nguyên tắc thì cả hai loại doanh nghiệp này đều là hoạt động theo
qui định đối với công ty trong luật doanh nghiệp.
Đối với loại doanh nghiệp thứ nhất, nhà nước hoàn toàn không can thiệp
hành chính vào việc quản lý, sử dụng vốn. Các cá nhân chủ sở hữu doanh
nghiệp tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh. Nếu công ty bị
phá sản thì các cá nhân phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ tỷ lệ với phần
vốn góp của mình..
Đối với loại hình doanh nghiệp thứ hai, nhà nước cũng không trực tiếp
can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các bên doanh nghiệp tham gia
góp vốn phải cử người tham gia hội đồng quản trị và ban giám đốc điều hành
doanh nghiệp.
Tuy nhiên các doanh nghiệp nhà nước góp vốn vẫn chịu sự quản lý của
cơ quan nhà nước. Cụ thể là trong những trường hợp, các cơ quan quản lý nhà
nước có thể kiểm tra, giám sát quá trình quản lý, sử dụng vốn ở các công ty
trách nhiệm hữu hạn do các bên quốc doanh góp vốn. Trường hợp công ty này
lâm vào tình trạng phá sản thì các bên quốc doanh góp vốn phải chịu trách
nhiệm đối với các khoản nợ tỷ lệ với phần vốn góp của từng bên.
của từng thời kỳ, xác định chính xác thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp,
bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu vốn.
Nội dung của chính sách quản lý chi phí sản xuất được xây dựng thống
nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp nhằm đảm bảo các yếu tố chi phí sản
phẩm tính vào giá thành và phí lưu thông một cách trung thực, khách quan và
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
hợp lý.
Chính sách phân phối lợi nhuận còn lại:
Cơ sở kinh tế và pháp lý quyết định nội dung phân phối lợi nhuận còn lại
của doanh nghiệp là quan hệ về sở hữu vốn ở doanh nghiệp. Người bỏ vốn
kinh doanh, sau khi thực hiện các nghĩa vụ với ngân sách theo các luật thuế
bù đắp chi phí sản xuất kinh doanh từ doanh thu, được hưởng toàn bộ phần lợi
nhuận còn lại của doanh nghiệp. Nói cách khác, chủ sở hữu doanh nghiệp
được toàn quyền sở hữu và sử dụng lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp. Điều
này hoàn toàn phù hợp với lý luận về quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu
quyết định quan hệ quản lý và phân phối và mục đích khách quan của viếc bỏ
vốn và kinh doanh sinh lời. Tương ứng với từng loại hình sở hữu doanh
nghiệp, chính sách phân phối lợi nhuận có những nội dung khác nhau.
Đối với công ty cổ phần: có quyền chi phối và sử dụng lợi nhuận còn lại
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhà nước vẫn cần phải định hướng đối với quá
trình sử dụng số lợi nhuận còn lại ở đây.
Từ thực tế cho thấy phần lợi nhuận ròng còn lại của các công ty cổ phần
thường được phân phối như sau: trích lập một tỷ lệ % để lập quỹ dự trữ tài
chính theo luật định; trả tiền lãi cho các trái phiếu theo một tỷ lệ cố định, tính
trên mệnh giá của trái phiếu, tương tự như việc trả lãi các khoản vay bên
ngoài, phần còn lại được phân phối vào các quỹ khác.
Đối với doanh nghiệp tư nhân chỉ có vốn sở hữu của một người chủ, thì
lợi nhuận còn lại do chủ sở hữu hoàn toàn có quyền quyết định sử dụng.
dự án.
Các nhà cung cấp và khách hàng: của doanh nghiệp tư nhân có quan
niệm tích cực hơn về khối tư nhân so với khối cán bộ tín dụng. Các nhà cung
cấp và khách hàng có quan điểm tích cực trong giao dịch với doanh nghiệp tư
nhân thì cho rằng chất lượng dịch vụ tốt hơn và linh hoạt hơn; còn những
người có thái độ tiêu cực thì cho rằng khả năng tài chính của các doanh
nghiệp tư nhân kém, không đáng tin tưởng và không được chính phủ đảm bảo.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
Thông tin đại chúng: Đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ảnh
hưởng tiêu cực đến quan niệm về những doanh nghiệp tư nhân của những
người được hỏi. Hơn 85% thành viên của tất cả các nhóm nói rằng thông tin
đại chúng là nguồn thông tin về khối tư nhân ở Việt Nam. Khi được hỏi cụ
thể, họ cho rằng: tin tức về những vụ lừa đảo, kinh doanh sai trái, trốn thuế
của doanh nghiệp tư nhân; những bài báo viết về doanh nghiệp “ ma”, tin về
buôn lậu, đút lót của tư nhân, tin về sự phá sản của doanh nghiệp tư nhân, tin
tức về sự đối xử tồi tệ với người lao động của doanh nghiệp tư nhân.
Về phía nhà nước khi thiết lập các chính sách: còn có phần thiên vị đối
với các doanh nghiệp nhà nước so với doanh nghiệp tư nhân. Một số ý kiến
không có sự thông cảm và nghĩ rằng cần phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa khố
tư nhân, cho rằng họ không trung thực, là nguồn gốc của tham những và
không công bằng trong xã hội, và theo logic thì nó dễ đi chệch con đường chủ
nghĩa xã hội. Một số ý kiến khác, nêu ra những bất lợi thế trong lĩnh vực như
đầu tư , đất đai , thuế , kiểm soát xuất nhập khẩu mà doanh nghiệp tư nhân
phải chịu hậu quả.
1.3.2 Nhận thức của các doanh nghiệp tư nhân:
1.3.2.1 Từ giác độ quản lý
- Trong những cuộc điều tra trước đây đối với những nhà sản xuất tư
nhân lớn do MPDF (Me Kong Project Development Facilities) thực
• Việc chi phí những khoản tiền nhỏ ( phải có sự đồng ý của người
quản lý) là cho hải quan, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân nói rằng họ
phải trả nhiều tiền để đường xếp hàng và gửi hàng. Một chủ doanh
nghiệp tư nhân đã chia các chi phí của mình như sau: Tổng số tiền
phải chi trong một năm là 500 triệu đồng, một nửa trả cho cán bộ hải
quan. Chị ta gửi 1000 contenor một năm và mỗi contenor phải trả
250.000đ trong đó 100.000đ cho thanh tra viên đến doanh nghiệp,
50.000 cho người mở cổng kho cảng và 100.000 cho thanh tra tại
cảng. Hầu như không ai dám tố cáo nhà nước một các cụ thể về việc
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
này.
• Tham nhũng cũng có tác động tiêu cực tới đầu tư trực tiếp nước
ngoài: phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam đã tiến hành một
cuộc nghiên cứu và kết luận cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân
đều mất đến một phần ba thời gian để xin cấp phép từ nhiều bộ phận
khác nhau thuộc bộ máy hành chính. Điều này có thể làm tăng rủi ro
đối với đầu tư nước ngoài, đặc biệt là với đầu tư dài hạn và tài sản cố
định.
1.3.2.2 Từ giác độ sản xuất kinh doanh:
Cũng trong cuộc điều tra về các nhà sản xuất của MPDF, chủ các doanh
nghiệp được yêu cầu liệt kê theo thứ tự ba vấn đề ảnh hưởng nhiều nhất đến
công việc kinh doanh hiện tại của họ. Liên quan mật thiết tới khuôn khổ chính
sách là: những chính sách không rõ ràng, hay thay đổi của chính phủ. Theo họ
các quy định của Việt Nam rất thường xuyên bị thay đổi mà không được báo
trước, đồng thời việc các luật và quy định thiếu cụ thể đã tạo điều kiện cho
các cán bộ trung gian lợi dụng.
Khả năng tiếp cận vốn đầu tư hạn chế. Các chủ doanh nghiệp đều có
nhận định chung là những yêu cầu về tài sản thế chấp là trở ngại lớn nhất khi
nghĩa tích cực đối với khu vực tư nhân nhưng nhiều khi chưa đủ cụ thể để có
hiệu lực ở cấp địa phương. Cuối cùng, việc thực thi dựa nhiều vào ý kiến chủ
quan của cán bộ thừa hành chứ không phải theo câu chữ trong luật và do đó
gây ra nhiều rủi ro cho người kinh doanh.
Thủ tục hành chính phức tạp và không rõ ràng. Để có thể đi vào hoạt
động mỗi doanh nghiệp phải xin hàng trăm thứ giấy phép khác nhau, mà theo
thông báo, phần nhiều trong số đó phải xin cấp lại hàng năm. Các giấy phép
đầu tư phải được sự phê duyệt từ 12 bộ khác nhau với nhiều chi tiết như vị trí
số vốn đầu tư, tên của đối tác trong nước, lượng vốn phải nhập khẩu, nhu cầu
nhân sự và phân tích tính khả thi. Tổng hợp các chi tiết đó lại sẽ hạn chế tính
mềm mềm dẻo cần thiết để điều hành một doanh nghiệp có hiệu quả. Ngoài
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
ra, các doanh nghiệp nước ngoài phải được chấp thuận của ngân hàng nhà
nước cho mỗi khoản vay từ nước ngoài, được quyền sử dụng đất và xử lý đền
bù tái định cư cho những người phải di chuyển. Quá nhiều thủ tục để được
phê duyệt và phải làm lại nếu quy định thay đổi – đã dẫn tới phí tổn cao và sự
bất bình của nhà đầu tư. Từ khi có luật doanh nghiệp, những cản trở trên đã
được tháo gỡ khá nhiều, tạo điều kiện cho sự ra đời hàng loạt luật doanh
nghiệp tư nhân. Tuy nhiên trên thực tế, các doanh nghiệp tư nhân vẫn còn gặp
nhiều trở ngại, phiền hà, cần được tiếp tục tháo gỡ.
1.3.3 Tiếp cận thông tin còn hạn chế:
Doanh nghiệp tư nhân thường dễ gặp rủi ro hơn do thiếu thông tin chủ
yếu về sản phẩm, thị trường, công nghệ, xu hướng… có rất ít nguồn thông tin
cập nhập, có chất lượng cao về thị trường ở Việt Nam, và tìm kiếm nguồn
thông tin về tình hình thế giới thì không những tốn kém mà còn quá ít nhà
quản lý biết về tình hình thế giới thì không những tốn kếm mà còn quá ít nhà
quản lý biết được, nên tìm ở đâu. Thông tin kinh tế có thể tin cậy về xu hướng
thị trường trong nước hầu như không có, và nguồn thông tin cũng ko được
cấp đầu vào, cụ thể như các doanh nghiệp dệt may. Thiếu vốn lưu động cũng
làm sản xuất cầm chừng vì các doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động khi có đơn
đặt hàng.
Các ngân hàng thương mại nhà nước do có sự phân biệt đối xử khi cấp
tín dụng cho khu vực tư nhân( chủ yếu thông qua thế chấp và quy định về sử
dụng đất) và còn ít kinh nghiệp trong việc cấp tín dụng cho các doanh nghiệp
tư nhân nhất là trong phân tích dự án nên tổng số cho vay đối với khu vực
kinh tế tư nhân mặc dù tăng khá nhanh nhưng vẫn còn hạn chế so với nhu
cầu.
Nói tóm lại: Quy mô của tổ chức không tương thích với năng lực quản
lý, nhiều cán bộ quản lý không thể hiện được khả năng vốn có... có thể là
những mối đe dọa đối với tương lai của một công ty. Những hiện tượng nguy
hại này không phải lúc nào cũng nhìn thấy được, nhưng mức độ của nó có thể
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
khiến tất cả các nhà quản lý phải lo lắng
Cấu trúc doanh nghiệp cần phải được tổ chức chặt chẽ để có thể đảm bảo
việc vận hành thông suốt và hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp thu đuợc lợi nhuận
cao là yên tâm về đường lối và không quan tâm đúng mức đến cấu trúc doanh
nghiệp, rồi để cho các bộ phận bị chồng chéo hay thiếu người quản lý, chịu
trách nhiệm. Đây là nguy cơ tiềm ẩn của nhiều doanh nghiệp cả lớn lẫn nhỏ.
Ngay cả khi doanh nghiệp không có quy mô lớn việc phân tầng rõ ràng và
quy định chặt chẽ cũng vô cùng quan trọng. Đây chính là yêu cầu không thể
thiếu được để các bộ phận hợp tác chặt chẽ với nhau, cùng đôn đốc giám sát.
1.4 Các quan điểm cần quán triệt trong việc thiết lập cơ chế quản lý
tài chính.
Để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động ổn định và hiệu quả thì vấn đề
đặt ra là phải có cơ chế quản lý phù hợp với mô hình tổ chức, với đặc thù của
nó và với quy định của pháp luật. Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính doanh